Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Trọng tài thương mại - một hình thức giải quyết tranh chấp thương mại

A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay, khi các doanh nghiệp ngày càng có điều
kiện được thành lập với nhiều hình thức khác nhau và trong nhiều ngành nghề khác
nhau thì việc liên kết, hợp tác hay thậm chí là cạnh tranh nhau đang ngày càng trở nên
phổ biến. Bên cạnh những hợp đồng hợp tác, những giao kết “thuận buồm xuôi gió”
vẫn còn tồn tại khá nhiều những mâu thuẫn, bất đồng thậm chí vi phạm quyền lợi lẫn
nhau giữa các doanh nghiệp. Từ đó gây ra những thiệt hại cho các bên và cho cả nền
kinh tế thị trường. Tranh chấp thương mại là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên
diễn ra trong hoạt động của nền kinh tế thị trường. Do tính chất thường xuyên cũng
như hậu quả của nó gây ra cho các chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng và cho cả nền
kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng đã sớm có những quan tâm nhất định đến
hoạt động này, cũng như các phương thức giải quyết nó thể hiện thông qua các quy
định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật. Chính vì vậy, thuật ngữ “tranh chấp thương
mại” hay “tranh chấp kinh doanh” đã là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã
hội ở các nước trên thế giới và mới được sử dụng rộng rãi, phổ biến ở nước ta trong
nhiều năm gần đây.
Trọng tài thương mại là một trong bốn hình thức cơ bản để giải quyết tranh chấp
thương mại được quy định ở hầu hết các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Khi
phát sinh tranh chấp, doanh nghiệp lựa chọn hình thức trọng tài thương mại sẽ có rất
nhiều ưu điểm như: doanh nghiệp được lựa chọn tổ chức trọng tài, địa điểm, ngôn ngữ,
thời gian tiến hành các hoạt động tố tụng của trọng tài. Ngoài ra, việc xét xử bằng hình
thức trọng tài còn giữ được bí mật cho các chủ thể tham gia tranh chấp, đảm bảo uy tín
của các chủ và có tính minh bạch cao trong xét xử. Và cuối cùng, quyết định của trọng
tài có giá trị chung thẩm và có hiệu lực cưỡng chế ngay. Tuy nhiên, trọng tài thương
mại vẫn là phương thức giải quyết tranh chấp chưa được phổ biến hiện nay. Tại sao
vậy?. Bài tiểu luận dưới đây xin được phân tích và giới thiệu rõ hơn về vấn đề “Trọng
tài thương mại - một hình thức giải quyết tranh chấp thương mại”.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI.
1. Khái niệm trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên
thế giới, nhất là tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Tại Việt Nam, tuy mới
được hình thành nhưng trọng tài cũng được khuyến khích sử dụng trong một loạt các
luật như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Hàng hải v.v …
Hiện nay, Việt Nam đã có Luật trọng tài thương mại 2010 là văn bản quy định khá chi
1
tiết về trọng tài, trình tự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Theo đó trọng tài thương
mại “là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành
theo quy định của Luật này” (khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010).
Cũng giống như các phương thức giải quyết tranh chấp khác, việc giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài cũng có một số nguyên tắc nhất định. Một trong những
nguyên tắc cơ bản của trọng tài đó là thẩm quyền được hình thành từ ý chí thoả thuận
của các bên tranh chấp. Ý chí đó thường được thể hiện dưới dạng các thoả thuận bằng
văn bản hay thoả thuận trọng tài. “Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về
việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh” (khoản 2
Điều 3 Luật trọng tài thương mại).
Thoả thuận trọng tài là một thoả thuận đặc biệt bởi nó quy định việc giải quyết
tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bằng trọng tài mà thoả thuận trọng tài nằm ngay trong
chính hợp đồng đó. Thoả thuận này, trong hầu hết các trường hợp, phải được lập bằng
văn bản. Tuy nhiên, hình thức bằng văn bản có thể thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau,
có thể được ký kết, trao đổi qua thư, telex, điện tín hay fax trao đổi giữa hai bên, hoặc
bất kì phương tiện nào khác mà chứng minh được sự tồn tại của thoả thuận đó.
2. Các hình thức trọng tài thương mại:
Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức, đó là trọng tài vụ việc (trọng tài ad-
hoc) và trọng tài thường trực.
2.1. Trọng tài vụ việc
Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thành lập để giải
quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong
vụ tranh chấp.
Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài xuất hiện sớm nhất, được sử dụng rộng
rãi ở các nước trên thế giới. Pháp luật về trọng tài của các nước trên thế giới đều ghi
nhận sự tồn tại của hình thức trọng tài này. Tuy nhiên, quy định của pháp luật các nước
về hình thức trọng tài này cũng ở mức độ sâu, rộng khác nhau.
Bản chất của trọng tài vụ việc được thể hiện qua các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự
chấm dứt hoạt động (tự giải thể) khi giải quyết xong tranh chấp.
Tính chất “vụ việc” hay “lâm thời” của hình thức trọng tài này thể hiện ở chỗ trọng tài
chỉ được thành lập theo thoả thuận của các bên tranh chấp để giải quyết vụ tranh chấp
cụ thể giữa các bên. Hình thức trọng tài này chỉ tồn tại và hoạt động trong thời gian
giải quyết vụ tranh chấp giữa hai bên, khi giải quyết xong vụ tranh chấp, trọng tài tự
chấm dứt hoạt động.
2
Thứ hai, trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều
hành ( vì chỉ được thành lập để giải quyết vụ tranh chấp theo sự thoả thuận của các
bên) và không có danh sách trọng tài viên riêng.
Trọng tài viên được các bên chọn hoặc được chỉ định có thể là người có tên trong hoặc
ngoài danh sách trọng tài viên của bất cứ trung tâm trọng tài nào.
Thứ ba, trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tục dành riêng cho mình.
Trọng tài vụ việc chỉ được các bên thành lập khi phát sinh tranh chấp nên quy tắc tố
tụng để giải quyết vụ tranh chấp phải được các bên thoả thuận xây dựng. Tuy nhiên, để
tránh lãng phí thời gian cũng như công sức đầu tư vào việc xây dựng quy tắc tố tụng,
các bên tranh chấp có thể thoả thuận lựa chọn bất kì một quy tắc tố tung phổ biến nào,
mà thông thường là quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài có uy tín ở trong nước
va quốc tế.
2.2. Trọng tài thường trực
Ở các nước trên thế giới, trọng tài thường trực thường được tổ chức dưới những
hình thức đa dạng như: các trung tâm trọng tài, các hiệp hội trọng tài hay các viện
trọng tài nhưng chủ yếu và phổ biến được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài.
Theo pháp luật Việt Nam, trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạng các trung tâm
trọng tài. Ta có định nghĩa: Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách
pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định.
Từ khái niệm về trung tâm trọng tài trên, ta có thể đưa ra một số đặc trưng cơ bản về
hình thức trọng tài này như sau:
Thứ nhất, các trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ
thống cơ quan nhà nước. Thể hiện:
- Các trung tâm trọng tài được thành lập theo sáng kiến của các trọng tài viên sau
khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chứ không phải được thành lập
bởi Nhà nước. Do đó, nó không nằm trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước cũng
không thuộc hệ thống cơ quan xét xử Nhà nước.
- Hoạt động của trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà không được
cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách Nhà nước.
- Trọng tài viên duy nhất hoặc hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lực nhà
nước mà nhân danh người thứ ba độc lập ra phán quyết.
- Dù không được thành lập bởi Nhà nước nhưng trung tâm trọng tài vẫn luôn đặt
dưới sự quản lý và hỗ trợ của Nhà nước, thông qua các hoạt động như: ban hành các
văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của trung tâm
trọng tài; cấp, thay đổi, bổ sung hay thu hồi giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt
động của các trung tâm trọng tài; hỗ trợ trung tâm trọng tài trong việc hủy hoặc không
hủy quyết định trọng tài, hỗ trợ trong việc cưỡng chế thi hành quyết định trọng tài
3
Thứ hai, các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập với nhau.
Giữa các trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc cấp trên, cấp dưới.
Thứ ba, tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ. Cơ
cấu của trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tài viên của trung tâm.
Cụ thể:
- Ban điều hành gồm có chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch trung tâm trọng tài và
có thể có tổng thư ký trung tâm trọng tài do chủ tịch trung tâm trọng tài cử.
- Các trọng tài viên trong danh sách trung tâm trọng tài có thể tham giai vào việc
giải quyết tranh chấp khi được chọn hoặc chỉ định.
Thứ tư, mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy tắc tố
tụng riêng. Thể hiện:
- Tùy theo khả năng chuyên môn của đội ngũ trọng tài viên, mỗi trung tâm trọng tài
có quyền tự xác định về lĩnh vực hoạt động của mình, đồng thời có thể mở rộng hoặc
thu hẹp phạm vi lĩnh vực hoạt động trên cơ sở sự chấp thuận của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền.
- Mỗi trung tâm trọng tài đều có điều lệ riêng, đặc biệt là quy tắc tố tụng riêng được
xây dựng căn cứ vào đặc thù về tổ chức, hoạt động của trung tâm và không trái với quy
định của pháp luật về trọng tài thương mại. Khi giải quyết tranh chấp, hội đồng trọng
tài hoặc trọng tài viên duy nhất phải tuân thủ quy tắc tố tụng này.
- Việc xây dựng quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài thường dựa trên cơ sở là
một số bản quy tắc trong tài hay một số công ước quốc tế có liên quan cũng như bản
quy tắc tố tụng của một số trung tâm trọng tài quốc tế có uy tín.
Thứ năm, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các trọng tài
viên của trung tâm. Việc chọn hoặc chỉ định trọng tài viên tham gia giải quyết tranh
chấp chỉ được giới hạn trọng danh sách trọng tài viên của trung tâm. Vì vậy, hoạt động
xét xử của trung tâm trọng tài chỉ được tiến hành bởi các trọng tài viên của chính trung
tâm.
3. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại
3.1. Nguyên tắc thỏa thuận trọng tài
Nguyên tắc này được hiểu như sau: tranh chấp thương mại chỉ được giải quyết
tại trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài đó có hiệu lực.
Theo điều 54 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, nếu không có thỏa thuận trọng tài
hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu mà hội đồng trọng tài vẫn giải quyết thì quyết định
của hội đồng sẽ bị hủy. Đây là nguyên tắc quan trọng và có tính quyết định đối với việc
có hay không áp dụng hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Nếu không có
nguyên tắc này thì những nguyên tắc sau cũng trở thành vô nghĩa và không cần thiết.
Chính vì vậy mà nó được đưa lên làm nguyên tắc đầu tiên và cũng là nguyên tắc cần áp
4
dụng trước tiên khi tiến hành xem xét một vụ tranh chấp bằng hình thức trọng tài
thương mại.
3.2. Nguyên tắc trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan
Một số tổ chức trọng tài yêu cầu trọng tài viên xác nhận bằng văn bản rằng họ
đang và sẽ độc lập với các bên và yêu cầu trọng tài viên trình bày bất kỳ sự kiện hoặc
chi tiết nào có thể khiến các bên nghi ngờ về tính độc lập của họ. Điều này cho thấy,
việc giải quyết tranh chấp một cách công bằng, tính độc lập của các trọng tài viên đối
với các bên là vấn đề được quan tâm đặc biệt. Trọng tài viên phải có đủ cách điều kiện
nhất định để đảm bảo rằng họ độc lập, vô tư, khách quan trong việc giải quyết tranh
chấp. Để trở thành một trọng tài viên của một trung tâm trọng tài, công dân Việt Nam
cần hội tụ đầy đủ những điều kiện quy định tại điều 12 Pháp lệnh trọng tài thương mại.
Khi tham gia giải quyết tranh chấp thương mại, trọng tài viên phải thật sự là người thứ
ba độc lập, vô tư, không liên quan đến các bên có tranh chấp cũng như không có bất kỳ
lợi ích nào dính dáng đến vụ tranh chấp đó. Nếu vi phạm những quy định trên, trọng tài
viên phải từ chối giải quyết vụ tranh chấp hoặc các bên có quyền yêu cầu đổi trọng tài
viên vụ tranh chấp.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài viên phải căn cứ vào các tình tiết
của vụ tranh chấp, xác mình sự việc nếu thấy cần thiết và phải căn cứ vào các chứng cứ
mà mình thu thập được chứ không thể bị chi phố bởi bất kỳ tổ chức, cá nhân nào.
Không ai có quyền can thiệp, chỉ đạo vào việc giải quyết tranh chấp của trọng tài viên.
Quyết định của trọng tài viên phải đúng với sự thật khách quan.
Tại điều 54 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 còn quy định: Nếu trọng tài viên
không vô tư, không khách quan trong việc giải quyết tranh chấp thương mại, vi phạm
nghĩa vụ của trọng tài viên thì quyết định của hội đồng trọng tài có trọng tài viên đó sẽ
bị hủy bỏ.
3.3. Nguyên tắc trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật
Đây được coi là một nguyên tắc rất quan trọng trong mọi thủ tục tố tụng cũng
như giải quyết mọi vấn đề của đời sống xã hội trong điều kiện nhà nước pháp quyền.
Vì vậy, để giải quyết tranh chấp thương mại một cách công bằng, hợp lý, bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng của các bên; trọng tài viên – người được các bên có tranh chấp
lựa chọn để giải quyết tranh chấp phải căn cứ theo pháp luật.
Nếu trọng tài viên không căn cứ vào pháp luật, nhận hối lộ hoặc có hành vi vi
phạm đạo đức trọng tài viên thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi trọng tài. Tư tưởng
chỉ đạo đối với trọng tài viên là pháp luật, chỉ có căn cứ vào pháp luật, trọng tài viên
mới giải quyết được các tranh chấp một cách vô tư, khách quan. Có như vậy mới được
các nhà kinh doanh tín nhiệm.
5
3.4. Nguyên tắc trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên
Các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận với nhau về nhiều vấn đề liên quan đến thủ tục
giải quyết tranh chấp mà trọng tài viên phải tôn trọng, nếu không sẽ dẫn đến hậu quả là
quyết định của hội đồng trọng tài sẽ bị tòa án hủy theo yêu cầu của các bên.
Có thể thấy rằng, thông qua thỏa thuận trọng tài, quyền hạn của hội đồng trọng tài
trong việc giải quyết tranh chấp là do các bên giao cho họ. Cụ thể như:
- Các bên thỏa thuận chọn trung tâm trọng nào nào, hình thức trọng tài nào thì chỉ
có trung tâm trọng tài đó và hình thức trọng tài đó có thẩm quyền giải quyết.
- Các bên lựa chọn trọng tài viên nào thì trọng tài viên đó có quyền giải quyết.
- Các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do một trọng tài viên duy nhất giải quyết thì chỉ
có trọng tài viên duy nhất đó có quyền giải quyết.
- Các bên có quyền thỏa thuận địa điểm giải quyết vụ tranh chấp.
- Các bên có quyền thỏa thuận thời hạn thực hiện các thủ tục cần thiết cho việc giải
quyết.
- Các bên có quyền thỏa thuận thời gian mở phiên họp giải quyết vụ tranh chấp.
Như vậy, có thể thấy nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên tham gia
tranh chấp là một trong những nguyên nhắc tiên quyết của việc áp dụng hình thức
trọng tài thương mại. Và chỉ có trong tố tụng trọng tài – hình thức giải quyết tranh chấp
do các bên lựa chọn, các bên mới có quyền thỏa thuận nhiều vấn đề như vậy và trọng
tài viên bắt buộc phải tuân theo.
3.5. Nguyên tắc giải quyết một lần
Một trong những mục đích quan trọng nhất của việc giải quyết tranh chấp
thương mại là nhanh chóng, tránh dây dưa kéo dài, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp. Chính vì vậy mà ngày nay, để các tranh chấp thương mại
giữa các nhà kinh doanh có thể được giải quyết nhanh chóng và dứt điểm, các tổ chức
trọng tài phi chính phủ đã ra đời để đáp ứng yêu cầu đó của các nhà kinh doanh.
Với tư cách là một tổ chức phi chính phủ, trọng tài thương mại không có cơ
quan cấp trên nên phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm như bản án sơ thẩm của tòa án, cũng không có thủ
tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Tố tụng trọng tài chỉ có một trình tự giải quyết, tức là các
tranh chấp thương mại chỉ được giải quyết một lần tại trọng tài.
Nếu quyết định của trọng tài không bị tòa án hủy bỏ theo đơn yêu cầu của một
trong các bên mà bên phải thi hành không tự nguyện thi hành thì sau thời hạn 30 ngày,
kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định trọng tài, bên được thi hành quyết định
trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư
trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành, thi hành quyết định trọng tài.
6
II. THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI.
Trọng tài thương mại được thành lập là để giải quyết các tranh chấp thương mại.
Nhưng tranh chấp thương mại cũng chỉ có thể thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng
tài thương mại nếu các bên có tranh chấp có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài
này có hiệu lực.
Khác với thẩm quyền của tòa án, thẩm quyền của trọng tài chỉ là thẩm quyền vụ
việc, nếu được các bên có “vụ việc” lựa chọn đích danh. Các nguyên tắc phân định
thẩm quyền theo lãnh thổ, theo trụ sở hoặc chỗ ở của bị đơn và theo sự thỏa thuận của
nguyên đơn không được áp dụng trong tố tụng trọng tài. Thẩm quyền của trọng tài
không được phân định theo lãnh thổ, vì các bên có tranh chấp có quyền thỏa thuận lựa
chọn bất kỳ một tổ chức trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho họ, không phụ thuộc
vào nơi ở cũng như trụ sở của nguyên đơn hay bị đơn, cũng không phân định theo cấp
xét xử, vì chỉ có một cấp trọng tài và lại càng không phân định theo sự lựa chọn của
nguyên đơn, vì trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết nếu các bên có thỏa thuận trọng
tài.
Khi các bên đã thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bằng con đường trọng
tài, tức là họ đã trao cho hội đồng trọng tài thẩm quyền giải quyết tranh chấp và phủ
định thẩm quyền xét xử đó của tòa án trừ khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc các bên
hủy thỏa thuận trọng tài.
Nói tóm lại, trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp nào
được pháp luật quy định là tranh chấp thương mại, tranh chấp này phát sinh trong hoạt
động thương mại giữa cá nhân kinh doanh và tổ chức kinh doanh và các bên có thỏa
thuận trọng tài. Nếu thiếu 1 trong 2 điều kiện trên, vụ việc sẽ không thuộc thẩm quyền
giải quyết của trọng tài thương mại.
Trên cơ sở Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và các văn bản pháp luật hiện hành
có liên quan, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sâu hơn về thẩm quyền của trọng tài thương
mại thông qua 2 điều kiện trên:
1. Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại phải là
tranh chấp thương mại giữa các cá nhân, tổ chức kinh doanh
Như ta đã biết, trong hoạt động giao kết hợp đồng giữa 1 bên là thương nhân với
một bên là các cá nhân, tổ chức (không phải là thương nhân), nếu có phát sinh tranh
chấp thì Luật thương mại 2005 cho phép bên có hoạt động không nhằm mục đích sinh
lợi (bên có hành vi dân sự) có thể chọn áp dụng Luật thương mại để giải quyết.
Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch
với thương nhân không phải là hoạt động thương mại thuần túy nhưng bên không
nhằm mục đích sinh lợi đã chọn áp dụng Luật thương mại thì quan hệ này trở thành
quan hệ pháp luật thương mại và tranh chấp phát sinh từ quan hệ này phải được quan
7
niệm là tranh chấp thương mại. Ví dụ như: tranh chấp giữa công ty với thành viên công
ty hay tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau thực chất là tranh chấp thương
mại hiểu theo nghĩa rộng vì tranh chấp này phát sinh từ hoạt động đầu tư với mục đích
sinh lợi.
Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, loại tranh chấp nói trên không
thuộc thẩm quyền của trọng tài vì không thỏa mãn điều kiện các bên tranh chấp là cá
nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh (điều 2 Nghị định số 25/2004/NĐ – CP ngày
15/01/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh trọng
tài thương mại) và cũng không thuộc loại tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo
điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2004. Bởi vậy, tranh chấp này theo pháp luật Việt Nam
hiện hành thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa dân sự, song bên có hoạt động không
nhằm mục đích sinh lợi có thể chọn áp dụng Luật thương mại để giải quyết. Tương tự,
các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ cũng chỉ thuộc thẩm quyền của
trọng tài khi các bên tranh chấp là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh.
Tóm lại, trọng tài thương mại Việt Nam chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các bên là cá nhân kinh doanh hoặc tổ
chức kinh doanh. Như vậy, so với pháp luật một số nước trên thế giới, pháp luật Việt
Nam ta không mở rộng hoàn toàn thẩm quyền của trọng tài thương mại.1
2. Giữa các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài hợp lệ
2.1. Thỏa thuận trọng tài
Trước hết, có thể hiểu thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải
quyết bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt
động thương mại. Như vậy, các bên có thể thỏa thuận trọng tài trước khi có tranh chấp
hoặc sau khi có tranh chấp. Khác với việc giải quyết tranh chấp tại tòa án – cơ quan tài
phán nhà nước, khi có tranh chấp phát sinh, bên có quyền và lợi ích hợp pháp bị vi
phạm có quyền đệ đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết mà không cần có sự
thỏa thuận trước, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đòi hỏi phải có sự thỏa
thuận của các bên. Nguyên tắc chung là “không có thỏa thuận giải quyết bằng phương
thức trọng tài, không có tố tụng trọng tài”.
Thỏa thuận trọng tài có thể là một thỏa thuận riêng hoặc là thỏa thuận trong hợp
đồng và phải được lập thành văn bản. Các hình thức thỏa thuận qua thư, điện báo,
Telex, Fax, thư điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể hiện ý chí của các bên giải
quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài đều được coi là thỏa thuận trọng tài. Ngay cả khi
hợp đồng giữa các bên không được thể hiện bằng văn bản thì thỏa thuận trọng tài vẫn
phải lập thành văn bản. Khi nộp đơn kiện cho trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải nộp
kèm theo thỏa thuận trọng tài. Nếu không có thỏa thuận trọng tài, trung tâm trọng tài sẽ
không có thẩm quyền giải quyết.
8
2.2. Thỏa thuận trọng tài hợp lệ
Thỏa thuận trọng tài hợp lệ là thỏa thuận trọng tài đó không bị vô hiệu. Điều này
có nghĩa là, ngay cả khi có thỏa thuận trọng tài nhưng nếu thỏa thuận trọng tài đó vô
hiệu thì trọng tài cũng không có thẩm quyền giải quyết. Các trường hợp thỏa thuận
trọng tài vô hiệu được quy định tại điều 10 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003.
Sau đây, trên cơ sở điều 10 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, chúng ta sẽ cùng tìm
hiểu về các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu, từ đó kéo theo việc loại trừ thẩm
quyền của trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp trong những trường hợp này:
- Thứ nhất, tranh chấp phát sinh không thuộc hoạt động thương mại (ví dụ: tranh
chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa văn phòng luật sư hoặc công ty luật sư với doanh
nghiệp. Pháp luật Việt Nam không quan niệm đây là tranh chấp kinh doanh, thương
mại).
Với cách quy định này dường như nhà làm luật có sự trùng lặp giữa thỏa thuận
trọng tài không có hiệu lực với vụ việc không thuộc thẩm quyền của trọng tài? Bản
thân lí do tranh chấp không thuộc hoạt động thương mại đã loại trừ thẩm quyền của
trọng tài. Như vậy, quy định thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu trong trường hợp này thực
sự không có ý nghĩa.
- Thứ hai, người kí thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền kí kết. Quy định này
cần được hiểu ở hai khía cạnh.
Ở khía cạnh thứ nhất, một bên kí thỏa thuận trọng tài không có năng lực chủ thể (ví
dụ: chi nhánh, văn phòng đại diện).
Ở khía cạnh thứ hai, người kí thỏa thuận trọng tài không phải là người đại diện hợp
pháp cho pháp nhân hoặc kí thay cá nhân không được ủy quyền.
- Thứ ba, một bên kí thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
(người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự).
- Thứ tư, thỏa thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ về đối tượng
tranh chấp hay tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các
bên không có thỏa thuận bổ sung. (ví dụ: Điều khoản trọng tài ghi chung chung như
“Tranh chấp giữa các bên được giải quyết tại cơ quan trọng tài Việt Nam”).
Cốt lõi của thỏa thuận trọng tài là phải thể hiện rõ ý chí và sự thống nhất ý chí của
các bên trong việc lựa chọn tổ chức trọng tài có thẩm quyền. Còn những sai sót về mặt
kỹ thuật trong soạn thảo điều khoản trọng tài không làm sai lệch ý chí của các bên thì
sẽ không không làm cho thỏa thuận trọng tài vô hiệu. (ví dụ: Trong hợp đồng giữa một
bên là doanh nghiệp của Việt Nam với một bên là doanh nghiệp nước ngoài có ghi:
“Mọi tranh chấp phát sinh giữa các bên được giải quyết tại tòa án trọng tài Việt Nam
bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam”. Thỏa thuận trọng tài này
9
không bị coi là vô hiệu mặc dù khái niệm “tòa án trọng tài” không phù hợp với tên gọi
thực của hình thức trọng tài mà các bên hướng tới. Đó là sai sót về mặt kỹ thuật nhưng
không làm sai lệch ý chí của các bên trọng việc lựa chọn tổ chức trọng tài, đó là Trung
tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên canh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam.
Vì vậy, thỏa thuận này hoàn toàn có hiệu lực.
- Thứ năm, thỏa thuận trọng tài không được lập thành văn bản (ví dụ: Các bên thỏa
thuận miệng, trao đổi qua điện thoại )
- Thứ sáu, bên kí kết thỏa thuận trọng tài bị lừa dối, bị đe dọa và có yêu cầu tuyên
bố thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu.
Như vậy, thỏa thuận trọng tài bị coi là vô hiệu khi thỏa thuận đó không thể hiện
đầy đủ, thể hiện không đúng ý chí của các bên hoặc ý chí của các bên không phù hợp
quy định của pháp luật. Thỏa thuận trọng tài vô hiệu không tạo ra thẩm quyền cho
trọng tài. Khi đó vụ việc sẽ thuộc thẩm quyền của tòa án.
III. ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI.
1. Ưu điểm của trọng tài thương mại:
Thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh - thương mại bằng Trọng tài
cho thấy có một số ưu điểm sau:
Thứ nhất, quyết định của Trọng tài là chung thẩm và vì vậy nó có giá trị bắt buộc
đối với các bên, các bên không thể chống án hay kháng cáo. Việc xét xử tại Trọng tài
chỉ diễn ra ở một cấp xét xử, đó cũng chính là điều khác biệt cơ bản so với xét xử tại
Tòa án bởi thông thường xét xử tại Tòa án diễn ra ở hai cấp. Hội đồng trọng tài sau khi
tuyên phán quyết xong là đã hoàn thành nhiệm vụ của mình và chấm dứt sự tồn tại.
Thứ hai, hoạt động của Trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng Trọng tài xét xử vụ
kiện là do các bên thỏa thuận lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện, do đó
các trọng tài viên là người theo vụ kiện từ đầu đến cuối, vì vậy họ có điều kiện để nắm
bắt và tìm hiểu thấu đáo các tình tiết của vụ/việc. Chính điều này có lợi ngay cả khi các
bên muốn hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, trọng tài có thể hỗ
trợ các bên đạt tới một thỏa thuận, điều mà ít khi xảy ra ở Tòa án.
Thứ ba, trọng tài xét xử bí mật bởi tiến trình giải quyết của Trọng tài có tính
riêng biệt. Hầu hết các quy định pháp luật về Trọng tài của các quốc gia đều thừa nhận
nguyên tắc Trọng tài xử kín nếu các bên không có thỏa thuận khác. Đây là một ưu
điểm quan trọng bởi các doanh nghiệp không muốn các chi tiết của vụ tranh chấp bị
đem ra công khai trước Tòa án, điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt
động kinh doanh của mình.
Thứ tư, khi xét xử, Trọng tài cho phép các bên được sử dụng kinh nghiệm của
các chuyên gia và điều này được thể hiện ở quyền chọn Trọng tài viên của các bên.
10
Các bên có thể chọn một Hội đồng Trọng tài dựa trên trình độ, năng lực, sự hiểu biết
vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên biệt như
licensing, leasing, xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ, chứng khoán…
Thứ năm, hoạt động xét xử của Trọng tài liên tục do đó tiết kiệm thời gian, chi
phí và tiền bạc cho doanh nghiệp. Trong khi đó giải quyết tranh chấp bằng Tòa án
thường rất khó đạt được điều này bởi Tòa án phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một
lúc, do đó tình trạng án tồn đọng là điều không thể tránh khỏi.
Thứ sáu, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thể hiện tính năng động, linh hoạt
và mềm dẻo, do đó dễ thích ứng hơn so với giải quyết tranh chấp bằng Tòa án. Tòa án
khi xét xử phải tuân thủ một cách đầy đủ và nghiêm ngặt các quy định có tính chất quy
trình, thủ tục, trình tự được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và các văn bản
hướng dẫn liên quan.
Thực tiễn cho thấy giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài VIAC thường kéo dài
tối đa là 6 tháng, trong khi đó giải quyết tranh chấp tại Tòa án có trường hợp kéo dài
mấy năm.
Thứ bảy, việc xét xử tranh chấp bằng Trọng tài đảm bảo tính bí mật cao và vì
vậy sẽ tránh cho các bên nguy cơ làm tổn thương đến mối quan hệ hợp tác làm ăn vốn
có, trong khi đó việc xét xử công khai tại Tòa án thường dễ làm cho các bên rơi vào thế
đối đầu nhau với kết cục là một bên được thừa nhận như một người chiến thắng, còn
bên kia thấy mình là một kẻ thua cuộc.
Việc xét xử tranh chấp bằng Trọng tài trên thực tế đã làm giảm đáng kể mức độ
xung đột, căng thẳng của những bất đồng bởi nó diễn ra trong một không gian kín, nhẹ
nhàng, mang nặng tính trao đổi để tìm ra sự thật khách quan của vụ/việc. Đó chính là
những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí
đối với nhau. Hơn nữa, sự tự nguyện thi hành quyết định của một bên sẽ làm cho bên
kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn có thể diễn ra trong tương lai.
Với những ưu điểm như vậy, việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài đã ngày càng
trở thành một phương thức tố tụng kinh doanh - thương mại hữu hiệu và được các bên
lựa chọn bên ngoài tố tụng bằng Tòa án.
2. Nhược điểm của trọng tài thương mại.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế, phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
bằng trọng tài thương mại cũng có những khó khăn, trở ngại khó tránh khỏi, đó là:
Thứ nhất, sự thành công của quá trình giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng
tài thương mại chủ yếu phụ thuộc vào thái độ thiện chí và hợp tác của các bên tranh
chấp. Mà các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay vẫn chưa thực sự quan tâm nhiều đến
việc lường trước các tranh chấp sẽ phát sinh nên vẫn còn tình trạng mơ hồ về hình thức
11
trọng tài thương mại nói riêng, cũng như các phương thức giải quyết tranh chấp khác
nói chung.
Thứ hai, việc thực thi các kết quả đã đạt được trong quá trình giải quyết tranh chấp
bằng con đường trọng tài phần lớn phụ thuộc vào sự tự nguyện thi hành của bên có
nghĩa vụ thi hành mà không có cơ chế pháp lý vững chắc để đảm bảo thi hành và nếu
có thì việc thực thi đó thường phức tạp và tốn kém.
Thứ ba, Tố tụng trọng tài so với tố tụng toà án nó cũng có những điểm yếu, đó là vì
quyết định của trọng tài nhân danh ý chí tối cáo của các bên đương sự, không nhân
danh quyền lực nhà nước nên đảm bảo thi hành cần đến sự tự nguyện của các bên vi
phạm thì quyết định này cũng khó có thể thi hành được.
Thứ tư, là một tổ chức xã hội nghề nghiệp, trọng tài có thể gặp những khó khan
trong quá trình giải quyết tranh chấp, đặc biệt là những tranh chấp phức tạp, về những
vấn đề như : xác minh thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng, áp dụng các biện pháp
khẩn cấp tạm thời, áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án phán quyết của trọng
tài, không có quyền kê biên khẩn cấp tạm thời đối với tài sản là đối tượng tranh chấp
dẫn tới việc có thể kéo dài, không đảm bảo phong toả tàn sản kịp thời để phòng ngừa
việc tẩu tán tài sản.
IV. THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG
TÀI Ở VIỆT NAM.
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại chưa phổ biến ở
Việt Nam. Các doanh nghiệp nước ngoài biết được những ưu điểm vảu giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài nên hầu hết các hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài thường
có điều khoản cuối cùng “nếu có tranh ”
Nếu so sánh giữa ưu và nhược điểm thì việc giải quyết tranh chấp kinh tế qua
trọng tài là con đường tốt hơn đối với các doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến nay, số lượng
giải quyết tranh chấp qua trọng tài kinh tế hết sức nhỏ. Tại thành phố Hà Nội, tranh
chấp kinh tế bằng hình thức trọng tài năm 2005, chỉ có 13 vụ, năm 2004, khoảng 10 vụ.
ở TP Hồ Chí Minh – nơi có nền kinh tế sôi động, số lượng doanh nghiệp chiếm phần
lớn so với cả nước, tuy nhiên, số vụ đưa ra giải quyết bằng trọng tài chiếm một tỷ lệ
nhỏ so với số lượng tranh chấp xảy ra trong đời sống thương mại ở nước ta. Theo
chúng tôi, có ba nguyên nhân cơ bản sau đây:
- Ý thức về pháp luật của các doanh nghiệp và việc kinh doanh trong điều kiện
cạnh tranh khốc liệt làm cho các chủ thể trong quan hệ đều vi phạm hợp đồng. Trong
một giao dịch, bên này vi phạm việc này, bên kia sai việc khác; hoặc hôm nay, bên này
sai, thì ngày mai, bên kia sai; người ta tìm cách thương thuyết “tay đôi” để giải quyết
ổn thoả, nhằm giữ quan hệ làm ăn lâu dài. Vì lẽ đó, việc đưa nhau ra xử lý bằng trọng
tài hoặc toà án các bên đều không muốn. Theo số liệu của Phòng kinh tế thương mại
12
Việt Nam, giải quyết tranh chấp kinh tế qua toà án và trọng tài chỉ chiếm khoảng 90%
số lượng các vụ tranh chấp trong thực tế.
- Nhiều doanh nghiệp, cá nhân không am hiểu những vấn đề liên quan đến tố tụng
thông qua con đường trọng tài thương mại. Trước đây, trong thời kỳ bao cấp, ở nước ta
có trọng tài kinh tế nhà nước – cơ quan này quản lý hợp đồng kinh tế giữa các chủ thể
kinh tế nhà nước. Nhưng việc đó đã bãi bỏ lâu. Từ đó, các doanh nghiệp và nhân dân
chỉ quen tranh chấp bằng con đường tố tụng tại toà kinh tế. Nghiên cứu cho thấy, hầu
hết các hợp đồng kinh tế chỉ có quy định hai biện pháp tranh chấp là tự thương lượng
giải quyết, nếu không giải quyết được thì đưa ra giải quyết tại toà án có thẩm quyền.
Trong một ngàn hợp đồng, chỉ có một vài hợp đồng chế định việc tranh chấp tại trọng
tài kinh tế. Như vậy, phương pháp tự xử và xử lý tranh chấp tại toà đã ăn sâu vào tiềm
thức của các doanh nghiệp.
- Trọng tài kinh tế là tổ chức phi Chính phủ. Chúng ta sống trong hệ thống chính trị
mà người dân nghĩ rằng chỉ có các quyết định của Đảng và Nhà nước mới có hiệu lực
và tính khả thi. Với chiều dài của lịch sử, với thực tiễn cuộc sống đã làm cho dân ta
nhận thức một cách không đầy đủ về xã hội dân sự. Đây là nhận thức về bề nổi, nhưng
lại ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của tổ chức phi Chính phủ. Thực trạng này,
phần lớn cũng do các yếu tố pháp lý gây nên. Pháp lệnh về trọng tài vẫn còn có những
hạn chế, làm giảm hiệu lực hoạt động của các trung tâm trọng tài. Một phán quyết của
trọng tài dù có chính xác đến đâu cũng cần phải có một quyết định công nhận và cho
thi hành của Toà án hoặc quyết định của cơ quan thi hành án. Quy định này, làm tăng
thêm tâm lý e ngại của các doanh nghiệp khi sử dụng trọng tài để phân xử tranh chấp.
- Tồn tại trong bản thân của các trung tâm trọng tài. Thực tiễn là như vậy, nhưng
mạng lưới trọng tài của chúng ta lại quá thưa thớt. Đến thời điểm hiện nay, chúng ta
chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Hoạt động của các trung tâm trọng tài chỉ dựa vào
nguồn vốn tự có của các nhà sáng lập, nguồn thu từ các vụ tranh chấp. Nhưng các vụ
tranh chấp quá ít ỏi, nguồn thu quá hạn hẹp, hạn chế khả năng phát triển công nghệ,
mạng lưới, tuyên truyền, đào tạo…
V. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VAI TRÒ VÀ HÌNH THỨC CỦA TRỌNG
TÀI THƯƠNG MẠI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI.
Một số giải pháp chung để hoàn thiện hình thức trọng tài thương mại trong việc
giải quyết các tranh chấp thương mại
Thứ nhất: Cần có cơ chế hỗ trợ pháp lý từ phía Nhà nước đối với các tổ chức phi
Chính phủ, trong đó có trọng tài kinh tế. Đây là một giải pháp quan trọng. Nếu có sự
hỗ trợ thích đáng thì trọng tài thương mại có thể phát huy mạnh được chức năng và vai
trò của mình. ở các nước trên thế giới, người ta chỉ giải quyết tranh chấp thương mại
tại trọng tài là chủ yếu, giải quyết qua toà án chiếm một tỷ lệ không lớn. Qua khảo sát
13
thực tế, các tổ chức phi Chính phủ chưa được các cơ quan , xã hội đánh giá đúng
“tầm”… Có một thực trạng là các tổ chức phi Chính phủ không được tiếp cận nhiều
chính sách của Đảng và Nhà nước. Ví dụ, nhiều người làm việc trong các tổ chức dân
sự hiện nay nguyên là cán bộ, Đảng viên lâu năm của Đảng không có cơ hội đào tạo tại
các trường như: Nguyễn ái Quốc… Cần phải nêu ra vấn đề đó để chúng ta thấy rằng:
nếu tư duy và nhận thức của xã hội, Nhà nước không có sự hỗ trợ đúng mức thì các tổ
chức phi Chính phủ, trong đó có trọng tài kinh tế không thể phát huy hết vai trò của
mình trong việc thực hiện chức năng quản lý xã hội dân sự.
Về mặt pháp lý, thiết nghĩ cần phải nâng cấp Pháp lệnh Trọng tài thành Luật
Trọng tài và ban hành Luật về hoạt động của các tổ chức phi Chính phủ. Có như vậy,
mới tạo ra được những yếu tố bền vững đối với việc tổ chức và hoạt động của các tổ
chức phi Chính phủ.
Thứ hai: Cần có sự trợ giúp ban đầu về mặt vật chất. Thiết nghĩ, chỉ cần có sự hỗ
trợ một phần nhỏ nguồn kinh phí Nhà nước đang cấp cho các cơ quan quản lý hiện nay
thì các tổ chức phi Chính phủ thuộc ngành luật pháp, cũng như các ngành nghề khác sẽ
làm “nên chuyện”, sẽ gánh vác một phần lớn chức năng quản lý của Nhà nước, tiết
kiệm trong chi phí quốc dân. Nguồn này, có thể khai thác từ việc giảm thiểu chi phí
hành chính, giảm bớt biên chế tại các tổ chức Nhà nước. Có thể ban hành cơ chế cho
thuê trụ sở đối với các tổ chức phi Chính phủ. Nên có cơ chế để các tổ chức phi Chính
phủ được khai thác và tự quản lý nguồn tài chính viện trợ của các tổ chức Chính phủ và
phi Chính phủ, các tổ chức quốc tế. Một số đề án, chương trình, thiết nghĩ nên chuyển
giao cho tổ chức dân sự thực hiện.
Thứ ba: Cần có các biện pháp giáo dục, tuyên truyền cho nhân dân hiểu biết vai
trò và ý nghĩa của tổ chức xã hội dân sự đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội,
đặc biệt trong nền kinh tế thị trường đã hội nhập.
Với xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, các tranh chấp sẽ diễn ra thường xuyên,
phổ biến và gia tăng về số lượng, gia tăng tính chất phức tạp cùng với sự phát triển về
quy mô, nhịp độ, các loại, dạng hoạt động thương mại trong phạm vi quốc gia, cũng
như quốc tế.
Trong bối cảnh đó, giải quyết nhanh, gọn, có hiệu quả, hợp lý các tranh chấp
thương mại càng trở nên cần thiết đối với mục tiêu thúc đấy hoạt động kinh doanh
thương mại. Bởi lẽ, nếu chúng được giải quyết nhanh, gọn, hợp lý, có hiệu quả các
tranh chấp thương mại không những tạo điều kiện để hoạt động kinh doanh thương mại
diễn ra một cách suôn sẻ, không gặp ách tắc, lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh
doanh được bảo đảm mà còn tạo môi trường tâm lý tốt cho các thương nhân yên tâm,
mạnh dạn bỏ vốn đầu tư, kinh doanh.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét