Chuyên đề tốt nghiệp
ờng. Hoạt động thanh toán quốc tế không chỉ là một nghiệp vụ đơn thuần mà
còn là một hoạt động nhằm hỗ trợ và bổ sung cho các hoạt động kinh doanh
khác của ngân hàng. Hoạt động thanh toán quốc tế đợc thực hiện tốt sẽ mở rộng
hoạt động tín dụng XNK, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh
ngân hàng trong ngoại thơng, tài trợ thơng mại và các nghiệp vụ ngân hàng
quốc tế khác
Hoạt động TTQT làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng. Khi thực hiện
các nghiệp vụ TTQT, ngân hàng có thể thu hút đợc nguồn vốn ngoại tệ tạm thời
nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ thanh toán quốc tế với ngân hàng dới
hình thức các khoản ký quỹ chờ thanh toán.
TTQT còn tạo điều kiện hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. Các ngân hàng
sẽ áp dụng các công nghệ tiên tiến để hoạt động TTQT đợc thực hiện nhanh
chóng, kịp thời và chính xác, nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng qui mô
và mạng lới ngân hàng.
Hoạt động TTQT giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với các ngân hàng nớc
ngoài, nâng cao uy tín của mình trên trờng quốc tế, trên cơ sở đó khai thác đợc
nguồn tài trợ của các ngân hàng nớc ngoài và nguồn vốn trên thị trờng tài chính
quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng.
Nh vậy, thanh toán quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với các ngân hàng.
Trong TTQT, việc các bên tham gia lựa chọn phơng thức thanh toán là một
điều kiện rất quan trọng. PTTT tức là chỉ ngời bán dùng cách nào để thu tiền về,
ngời mua dùng cách nào để trả tiền. Tuỳ theo những hoàn cảnh và điều kiện cụ
thể, các bên tham gia trong thơng mại quốc tế sẽ lựa chọn và thoả thuận với
nhau, cùng sử dụng một PTTT thích hợp trên nguyên tắc cùng có lợi, ngời bán
thu đợc tiền nhanh và đầy đủ, ngời mua nhập hàng đúng số lợng, chất lợng và
đúng hạn. Để phù hợp với tính đa dạng và phong phú của mối quan hệ thơng
mại và TTQT, ngời ta đã thiết lập nhiều phơng thức thanh toán khác nhau. Các
phơng thức thanh toán quốc tế dùng trong ngoại thơng hiện nay gồm có: phơng
Nguyễn Thị Lan Phơng Lớp 1501
5
Chuyên đề tốt nghiệp
thức thanh toán chuyển tiền (Remittance), phơng thức uỷ thác thu (Collection),
phơng thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit)
Trong thực tế, khi các bên mua bán cha có sự tín nhiệm nhau thì thanh
toán TDCT là phơng thức phổ biến, đợc các bên tham gia hợp đồng ngoại thơng
a chuộng vì nó bảo vệ quyền lợi và bình đẳng cho tất cả các bên tham gia(ngời
mua, ngời bán, ngân hàng). Hiện nay ở Việt Nam và các nớc trên thế giới, thanh
toán bằng th tín dụng đợc sử dụng nhiều nhất, chiếm khoảng 80% trong tổng số
kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu. Trong nội dung tiếp theo em xin đề cập
sâu về phơng thức thanh toán tín dụng chứng từ.
1.2. Tổng quan về phơng thức tín dụng chứng từ
1.2.1. Khái niệm về phơng thức tín dụng chứng từ
Phơng thức Tín dụng chứng từ (TDCT) là phơng thức thanh toán, trong
đó theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức th (gọi
là th tín dụng- letter of credit) cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một
bên thứ ba khi ngời này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp
với những điều kiện và điều khoản quy định trong th tín dụng.
Từ khái niệm trên cho thấy, phơng thức tín dụng chứng từ có thể đợc áp
dụng trong nội thơng và ngoại thơng. Trong ngoại thơng, theo yêu cầu của nhà
NK, ngân hàng phát hành một th tín dụng cho nhà XK hởng. Nội dung chủ yếu
của th tín dụng là sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C sẽ trả tiền cho nhà
XK khi nhà XK tuân thủ những điều kiện quy định trong L/C và chuyển bộ
chứng từ cho ngân hàng để thanh toán.
Thuật ngữ tín dụng- credit ở đây đợc dùng theo nghĩa rộng, nghĩa là tín
nhiệm, chứ không phải để chỉ một khoản cho vay theo nghĩa thông thờng.
Điều này đợc thể hiện rõ trong trờng hợp khi ngời NK ký quỹ 100% giá trị của
L/C, thì thực chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào,mà chỉ
cho ngời NK vay sự tín nhiệm của mình. Ngay cả trong trờng hợp nhà NK
không hề ký quỹ, thì một khoản tín dụng thực sự chỉ có thể xảy ra khi ngân
hàng phát hành L/C tiến hành trả tiền cho nhà XK và ghi nợ nhà NK. Nh vậy,
Nguyễn Thị Lan Phơng Lớp 1501
6
Chuyên đề tốt nghiệp
thuật ngữ tín dụng trong phơng thức TDCT chỉ thể hiện khoản tín dụng trừu
tợng bằng lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà NK,
vì ngân hàng có tín nhiệm hơn nhà NK.
Nh vậy, trong phơng thức TDCT, ngân hàng không chỉ là ngời trung gian
thu hộ, chi hộ, mà còn là ngời đại diện cho nhà NK thanh toán tiền hàng cho
nhà XK, bảo đảm cho nhà XK nhận đợc khoản tiền tơng ứng với hàng hoá mà
họ đã cung ứng. Đồng thời, ngân hàng còn là ngời đảm bảo cho nhà NK nhận đ-
ợc số lợng và chất lợng hàng hoá phù hợp với bộ chứng từ và số tiền mình bỏ ra.
Rõ ràng là, nhà NK có cơ sở để tin chắc rằng, ngân hàng sẽ không trả tiền
trớc khi nhà XK giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà XK phải xuất trình bộ
chừng từ gửi hàng.Trong khi đó, nhà XK tin chắc rằng sẽ nhận đợc tiền hàng
XK nếu anh ta trao cho ngân hàng phát hành L/C bộ chứng từ đầy đủ và phù
hợp theo nh qui định trong L/C.
1.2.2. Các bên tham gia
1. Ngời xin mở L/C (Applicant for L/C): là ngời yêu cầu ngân hàng
phục vụ mình phát hành một L/C, và có trách nhiệm pháp lý về việc trả
tiền của ngân hàng cho ngời bán theo L/C này. Ngời xin mở L/C có thể là
ngời mua (buyer), nhà NK (importer), ngời mở L/C (opener), ngời trả
tiền (accountee).
2. Ngời thụ hởng L/C (Beneficiary): là ngời đợc hởng tiền thanh
toán hay sở hữu hối phiếu chấp nhận thanh toán.Ngời thụ hởng L/C có
thể có những tên gọi khác nhau nh: ngời bán (seller), nhà XK (exporter),
ngời ký phát hối phiếu (drawer).
3. Ngân hàng phát hành L/C (Issuing Bank) hay ngân hàng mở L/C
(Opening Bank): là ngân hàng mà theo yêu cầu của ngời mua, phát hành
một L/C cho ngời bán hởng. Ngân hàng phát hành thờng đợc hai bên mua
bán thoả thuận và quy định trong hợp đồng mua bán.
4. Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là ngân hàng đợc ngân
hàng phát hành yêu cầu thông báo L/C cho ngời thụ hởng. Ngân hàng
Nguyễn Thị Lan Phơng Lớp 1501
7
Chuyên đề tốt nghiệp
thông báo thờng là một ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của ngân
hàng phát hành ở nớc nhà XK.
5. Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): trong trờng hợp nhà
XK muốn có sự đảm bảo chắc chắn của th tín dụng, thì một ngân hàng có
thể đứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của ngân hàng phát hành. Thông
thờng ngân hàng xác nhận là một ngân hàng lớn có uy tín và trong nhiều
trờng hợp ngân hàng thông báo đợc đề nghị là ngân hàng xác nhận L/C.
6. Ngân hàng đợc chỉ định (Nominated Bank): là ngân hàng đợc
ngân hàng phát hành uỷ nhiệm để khi nhận đợc bộ chứng từ phù hợp với
những qui định trong L/C thì:
Thanh toán (pay)cho ngời thụ hởng
Chấp nhận (accept) hối phiếu kỳ hạn
Chiết khấu (negotiate) bộ chứng từ
Chịu trách nhiệm trả chậm (deferrer payment) giá trị của L/C.
Trách nhiệm của ngân hàng đợc chỉ định là giống nh ngân hàng
phát hành khi nhận đợc bộ chứng từ của nhà XK gửi đến.
1.2.3. Quy trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ
Nguyễn Thị Lan Phơng Lớp 1501
8
Người
xuất khẩu
Người
nhập khẩu
NH
xuất khẩu
NH
nhập khẩu
Chuyên đề tốt nghiệp
Bớc 1: Sau khi kí hợp đồng ngoại thơng, nhà NK chủ động viết đơn và
gửi các giấy tờ cần thiết liên quan xin mở L/C gửi ngân hàng phục vụ mình (NH
NK), yêu cầu ngân hàng mở một L/C với một số tiền nhất định và theo đúng
những điều kiện nêu trong đơn,để trả tiền cho nhà XK.
Bớc 2: Căn cứ vào các giấy tờ xin mở L/C của nhà NK, NH NK sau khi
đã đồng ý, và nhà NK đã thực hiện ký quỹ,thì sẽ mở một L/C với một số tiền
nhất định để trả tiền cho nhà XK rồi gửi bản chính (bản gốc) cho NH phục vụ
nhà XK (NHXK)
Bớc 3: Nhận đợc bản chính L/C từ NHNK, NHXK phải xác nhận bằng
văn bản L/C đã nhận đợc rồi gửi bản chính L/C cho nhà XK.
Bớc 4 : Căn cứ vào các nội dung của L/C và những thỏa thuận đã ký
trong hợp đồng, nhà XK sẽ tiến hành giao hàng cho nhà NK.
Bớc 5: Sau khi đã tiến hành giao hàng, nhà XK phải hoàn chỉnh ngay
bộ chứng từ hàng hoá theo đúng những chỉ thị trong L/C và phát hành hối phiếu
rồi gửi toàn bộ các chứng từ này cho NHXK để xin thanh toán.
Bớc 6: NHXK nhận đợc bộ chứng từ từ nhà XK phải kiểm tra thật kỹ,
nếu thấy các chứng từ này mà bề ngoài của chúng không có gì mâu thuẫn với
nhau thì NH sẽ tiến hành trả tiền cho các chứng từ đó.
Bớc 7: NHXK chuyển bộ chứng từ cho NHNK và yêu cầu NH này trả
tiền cho bộ chứng từ đó.
Nguyễn Thị Lan Phơng Lớp 1501
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Bớc 8: Nhận đợc bộ chứng từ, NHNK phải kiểm tra kỹ, nếu các chứng
từ khớp đúng, không có sự nghi ngờ thì NHNK trích tiền từ tài khoản ký quỹ
mở L/C đứng tên nhà NK để chuyển trả cho NHXK.
Bớc 9: NHNK thông báo việc trả tiền đối với L/C cho nhà NK, đồng
thời NH chuyển giao bộ chứng từ hàng hoá cho nhà NK để ngời đó có căn cứ đi
nhận hàng.
1.2.4. UCP - Văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh phơng thức TDCT
Khi thanh toán bằng phơng thức TDCT, các bên XNK phải thoả thuận với
nhau về việc sử dụng UCP. UCP (The Uniform Customs and Practice for
Documentary credit) là bản quy tắc và cách thực hành thống nhất về tín dụng
chứng từ do Phòng thơng mại quốc tế (ICC) tại Pari công bố lần đầu tiên vào
năm 1933. Từ đó đến nay UCP đã qua 5 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1951,
1962, 1974, 1983, lần cuối cùng là tháng 10 năm 1993 có hiệu lực áp dụng từ
01/01/1994.
UCP đã đợc hơn 175 nớc áp dụng trong đó có Việt Nam. Khác với luật
quốc gia hay công ớc quốc tế, UCP không tự động áp dụng để điều chỉnh hoạt
động thanh toán TDCT mà mang tính chất pháp lý tuỳ ý. Các bên tham gia có
quyền lựa chọn có hay không dùng UCP để điều chỉnh hoạt động thanh toán
TDCT. Nhng một khi các bên đã đồng ý áp dụng UCP thì các điều khoản áp
dụng của UCP sẽ ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia.
Một điểm cần lu ý là UCP ban hành sau không phủ nhận các nội dung của
UCP trớc đó. Do đó các bên có thể thoả thuận lựa chọn một UCP nào đó, nhng
điều quy định bắt buộc là phải dẫn chiếu nó trong L/C. Chỉ UCP bản gốc bằng
tiếng Anh mới có giá trị pháp lý giải quyết các tranh chấp, các bản dịch khác
chỉ có giá trị tham khảo.
Hiện nay, UCP bản sửa đổi năm 1993 số 500 đợc coi là hoàn chỉnh nhất và
ngày càng đợc nhiều ngân hàng của các nớc thừa nhận và áp dụng rộng rãi
trong thanh toán quốc tế. UCP 500 thực sự đợc coi là cẩm nang cho nghiệp vụ
tín dụng chứng từ.
Nguyễn Thị Lan Phơng Lớp 1501
10
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.5. Th tín dụng (L/C) - Công cụ quan trọng của phơng thức thanh toán
tín dụng chứng từ
Th tín dụng là một bản cam kết trả tiền do NH phát hành (NH mở L/C)
mở theo chỉ thị của ngời NK (ngời yêu cầu mở L/C), để trả một số tiền nhất
định cho ngời XK (ngời thụ hởng) với điều kiện ngời đó phải thực hiện đầy đủ
những quy định trong L/C.
Th tín dụng có tính chất quan trọng vì tuy đợc hình thành trên cơ sở hợp
đồng ngoại thơng nhng sau khi đợc thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp
đồng này. Một khi L/C đã đợc mở và đợc các bên chấp nhận thì cho dù nội
dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thơng hay không cũng không làm
thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ và của các bên có liên quan. Có nghĩa là khi
thanh toán NH chỉ căn cứ vào bộ chứng từ, khi nhà XK xuất trình bộ chứng từ
phù hợp về mặt hình thức với những điều khoản quy định trong L/C thì NH phát
hành L/C phải trả tiền vô điều kiện cho nhà XK.
Nh vậy, việc thanh toán L/C không hề căn cứ vào tình hình thực tế của
hàng hoá, NH cũng không có nghĩa vụ xem xét việc giao hàng hoá thực tế có
khớp đúng với chứng từ hay không mà chỉ căn cứ vào chứng từ do ngời bán xuất
trình, nếu thấy các chứng từ đó bề mặt phù hợp với các điều kiện của L/C thì trả
tiền cho ngời bán.
Chính những tính chất quan trọng của L/C khiến cho phơng thức thanh
toán TDCT mau chóng trở thành phơng thức thanh toán hữu hiệu đặc biệt trong
ngoại thơng.
1.3. Một số rủi ro chủ yếu trong phơng thức thanh toán TDCT
Trong hoạt động ngân hàng, lợi nhuận và rủi ro luôn đi đôi với nhau và có
mối quan hệ ngợc chiều. Lợi nhuận càng cao thì rủi ro ngân hàng gặp phải càng
lớn và ngợc lại. Trong hoạt động thanh toán TDCT, ngân hàng cũng không thể
tránh khỏi rủi ro. Các rủi ro trong thanh toán TDCT mà ngân hàng và các bên
tham gia thờng gặp là:
Nguyễn Thị Lan Phơng Lớp 1501
11
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.1. Rủi ro kỹ thuật
Rủi ro kỹ thuật là những rủi ro do những sai sót mang tính kỹ thuật trong
quy trình thanh toán TDCT.
a. Rủi ro đối với nhà Xuất khẩu
Khi tham gia phơng thức thanh toán TDCT, nhà XK hay gặp những rủi ro sau:
1. Khi nhận đợc L/C từ NH thông báo, nếu nhà XK kiểm tra các điều kiện
chứng từ không kĩ, chấp nhận cả những yêu cầu bất lợi mà nhà XK không thể
đáp ứng đợc trong khâu lập chứng từ sau này. Khi các yêu cầu đó không đợc
thoả mãn, NH phát hành từ chối bộ chứng từ và không thanh toán. Lúc đó, nhà
NK sẽ có lợi thế để thơng lợng lại về giá cả nằm ngoài các điều khoản của L/C
và nhà XK sẽ gặp bất lợi.
2. Trong thanh toán TDCT, ngân hàng mở L/C đứng ra cam kết thanh
toán cho ngời XK khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C,
NH chỉ làm việc với các chứng từ quy định trong L/C. Phơng thức thanh toán
TDCT đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán với nội dung
quy định trong L/C. Chỉ cần một sơ suất nhỏ trong việc lập chứng từ thì nhà XK
cũng có thể bị NH mở L/C và ngời mua bắt lỗi, từ chối thanh toán. Do đó, việc
lập bộ chứng từ thanh toán là một khâu quan trọng và rất dễ gặp rủi ro đối với
nhà XK.
Một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với L/C phải đáp ứng đợc các yêu cầu
sau :
Các chứng từ phải phù hợp với luật lệ và tập quán thơng mại mà hai nớc
ngời mua và ngời bán đang áp dụng và đợc dẫn chiếu trong L/C.
Nội dung và hình thức của các chứng từ thanh toán phải đợc lập theo
đúng yêu cầu đề ra trong L/C.
Những nội dung và các số liệu có liên quan giữa các chứng từ không đ-
ợc mâu thuẫn với nhau, nếu có sự mâu thuẫn giữa các chứng từ mà từ đó ngời ta
không thể xác định một cách rõ ràng, thống nhất nội dung thuộc về tên hàng, số
Nguyễn Thị Lan Phơng Lớp 1501
12
Chuyên đề tốt nghiệp
lợng, trọng lợng, giá cả, tổng trị giá, tên của ngời hởng lợithì các chứng từ đó
sẽ bị ngân hàng từ chối thanh toán vì bộ chứng từ đó mâu thuẫn với nhau
Bộ chứng từ phải đợc xuất trình tại địa điểm qui định trong L/C và
trong thời hạn hiệu lực của L/C.
Trên thực tế có rất nhiều sai sót xảy ra trong quá trình lập chứng từ, th-
ờng gặp vẫn là:
+ Lập chứng từ sai lỗi chính tả, sai tên, địa chỉ của các bên tham gia, của
hãng vận tải
+ Chứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lợng.
+ Các sai sót trên bề mặt chứng từ : số tiền trên chứng từ vợt quá giá trị
của L/C; các chứng từ không ghi số L/C, không đánh dấu bản gốc; các chứng từ
không khớp nhau hoặc không khớp với nội dung của L/C về số lợng, trọng lợng,
mô tả hàng hoá; các chứng từ không tuân theo quy định của L/C về cảng bốc
dỡ hàng, về hãng vận tải, về phơng thức vận chuyển hàng hóa
Tất cả những sai sót trên đều là những nguyên nhân gây nên rủi ro cho nhà
XK khi lập bộ chứng từ thanh toán.
Ngoài ra, do sự khác biệt về tập quán, luật lệ ở mỗi nớc cho nên dễ dẫn
đến những sai sót khi nhà XK hoàn tất bộ chứng từ hàng hoá để gửi NH xin
thanh toán.
3. Nếu nhà XK xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi
khoản thanh toán hay chấp nhận có thể đều bị từ chối, và nhà XK phải tự xử lý
hàng hoá nh dỡ hàng, lu kho cho đến khi vấn đề đợc giải quyết hoặc phải tìm
ngời mua mới, bán đấu giá hay chở hàng về quay về nớc. Đồng thời, nhà XK
phải chịu những chi phí nh lu tàu quá hạn, phí lu kho trong khi đó không biết
rõ lập trờng của nhà NK là sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng
từ có sai sót.
4. Nếu NH phát hành mất khả năng thanh toán, thì cho dù bộ chứng từ
xuất trình là hoàn hảo thì cũng không đợc thanh toán.
Nguyễn Thị Lan Phơng Lớp 1501
13
Chuyên đề tốt nghiệp
5. Th tín dụng có thể huỷ ngang có thể đợc NH phát hành sửa đổi, bổ sung
hay huỷ bỏ bất cứ lúc nào trớc khi nhà XK xuất trình bộ chứng từ mà không cần
sự đồng ý của nhà XK.
b. Rủi ro đối với nhà Nhập khẩu
1. Trong thanh toán TDCT, việc thanh toán của NH cho ngời thụ hởng chỉ
căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hoá.
NH chỉ kiểm tra tính chân thật bề ngoài của chứng từ, mà không chịu trách
nhiệm về tính chất bên trong của chứng từ, cũng nh chất lợng và số lợng hàng
hoá. Nh vậy sẽ không có sự đảm bảo nào cho nhà NK rằng hàng hoá sẽ đúng
nh đơn đặt hàng hay không. Nhà NK có thể nhận đợc hàng kém chất lợng hoặc
bị h hại trong quá trình vận chuyển mà vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền thanh toán
cho NH phát hành.
2. Khi nhà NK chấp nhận bộ chứng từ hàng hoá sẽ có nguy cơ gặp rủi ro.
Bộ chứng từ là cơ sở pháp lý đầu tiên về tính đúng đắn của hàng hoá. Nếu nhà
NK không chú ý kiểm tra kỹ bộ chứng từ (từ lỗi, câu chữ, số lợng các loại
chứng từ, cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy chứng nhận) mà chấp nhận
bộ chứng từ có lỗi sẽ bị thiệt hại và gặp khó khăn trong việc khiếu nại sau này.
3. Một rủi ro mà nhà NK hay gặp là hàng đến trớc bộ chứng từ, nhà NK
cha nhận đợc bộ chứng từ mà hàng đã cập cảng. Bộ chứng từ bao gồm vận đơn,
mà vận đơn lại là chứng từ sở hữu hàng hoá nên thiếu vận đơn thì hàng hoá
không đợc giải toả. Nếu nhà NK cần gấp ngay hàng hoá thì phải thu xếp để NH
phát hành phát hành một th bảo lãnh gửi hãng tàu để nhận hàng. Để đợc bảo
lãnh nhận hàng, nhà NK phải trả thêm một khoản phí cho NH. Hơn nữa, nếu
nhà NK không nhận hàng theo qui định thì tiền bồi thờng giữ tàu quá hạn sẽ
phát sinh.
c. Rủi ro đối với ngân hàng phát hành
1. Trong nghiệp vụ mở L/C, nếu NH phát hành kiểm tra không kĩ đơn xin
mở L/C sẽ dẫn đến việc chấp nhận cả những điều khoản hàm chứa rủi ro cho
NH sau này.
Nguyễn Thị Lan Phơng Lớp 1501
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét