Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014
Chiến lược phát triển du lịch tỉnh Preach vihear - campuchia đến năm 2015
5
du lòch và phân tích thực trạng phát triển du lòch tỉnh Preah Vihear trong thời gian
qua để có cái nhìn thực tế nhằm tìm ra những biện pháp, chiến lược hợp lý để phát
triển du lòch tỉnh Preah Vihear trong thời gian tới.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp, trong
đó quan trọng nhất là các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lòch sử, kết
hợp với phương pháp so sánh đối chiếu, phân tích và tổng hợp, suy diễn, và cuối
cùng là phương pháp trừu tượng hóa khoa học để nghiên cứu tình hình phát triển du
lòch du lòch Campuchia nói chung và tỉnh Preah Vihear nói riêng. Từ kết quả
nghiên cứu, đề tài rút ra những kết luận mang tính lý luận và thực tiễn để làm cơ sở
cho việc đề xuất những chiến lược mang tính đội phá, đồng thời đề ra những biện
pháp mang tính chiến thuật để phát triển ngành du lòch Campuchia.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
¾
Mục đích: Đề tài đề xuất những chiến lược chủ yếu và các biện pháp có
cơ sở khoa học để phát triển ngành du lòch tỉnh Preah Vihear trong thời gian tới
nhằm góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
¾
Nhiệm vụ: Thông qua việc làm rõ lý luận và phân tích thực tiễn phát triển
du lòch tỉnh Preah Vihear thời gian qua, và cuối cùng là đề xuất những chiến lược
và biện pháp thực hiện cho sở du lòch tỉnh Preah Vihear nói riêng và Bộ du lòch
Campuchia nói chung.
5. Kết cấu của đề tài: bao gồm:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về du lòch và phát triển du lòch.
Chương 2: Thực trạng phát triển ngành du lòch tỉnh Preah Vihear.
Chương 3: Chiến lược phát triển du lòch tỉnh Preah Vihear đến năm 2015.
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Danh mục phụ lục
6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1. KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH DU LỊCH
“Du lòch” theo tiếng la tinh “Tusnus”, tiếng Hy Lạp “Tomos”, tiếng Anh
“Tourism”, tiếng pháp “Tour” với ý nghóa dã ngoại, dạo chơi, leo núi, vận động
ngoài trời Thuật ngữ “Tourism” ngày nay đã được quốc tế hóa, được hiểu như sự
dòch chuyển của con người ra khỏi nơi thường sống và làm việc của mình để nâng
cao sức khỏe, tầm hiểu biết về đời sống văn hóa con người và môi trường sinh thái
mới trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.
Theo các tư liệu chuyên nghiên cứu về du lòch, du lòch học đã được hình thành
từ cuối thế kỷ 19 tại các nước công nghiệp phát triển, điển hình như Áo, Đức, Ý,
Thụy Só, Tây Ban Nha. Pháp, [1,3]. Theo Robert Laquar, “Du lòch chỉ trở thành đối
tượng nghiên cứu kinh tế có hệ thống từ sau Thế chiến thứ II với sự cổ vũ của hai
nhà kinh tế Thụy Só Karpt và Hunzikeer trong việc thành lập Hiệp hội quốc tế các
chuyên gia khoa học về du lòch” [1,7]. Các nước XHCN bắt đầu nghiên cứu du lòch
từ những năm 60 xuất phát từ nhu cầu bức thiết của thực tiễn phát triển. Và từ đó
đến nay có đã hình thành rất nhiều khái niệm du lòch và mỗi khái niệm đều có ý
nghóa riêng của nó. Tuy nhiên theo tác giả thì có một khái niệm du lòch mà tác giả
rất tâm đắc đó là khái niệm du lòch của WTO – Tổ chức du lòch thế giới.
Theo đại hội WTO tại thành phố Ottawa, Canada năm 1991 đã đònh nghóa
rằng “Du lòch là những hoạt động của con người đi đến và ở một số nơi bên ngoài
môi trường thường xuyên của họ trong khoảng thời gian liên tục dưới một năm để
giải trí vui chơi, kinh doanh và một số mục đích khác”.
Trong đònh nghóa trên có ba cụm từ rất quan trọng: “di chuyển ra khỏi môi
trường thường xuyên”, “việc di chuyển này nhằm thỏa mãn một số nhu cầu nhất
đònh” và “trong một khoảng thời gian dưới 1 năm”.
7
Phát triển du lòch theo hướng bền vững là xu thế tất yếu và các quốc gia ngày
càng hướng tới du lòch bền vững. Theo đònh nghóa của WTO đưa ra tại Hội nghò về
Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm 1992 “Du lòch
bền vững là việc phát triển các hoạt động du lòch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại
của khách du lòch và người dân bản đòa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và
tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lòch trong tương lai.
Du lòch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các
nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự
toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ
thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”.
Như vậy có thể coi du lòch bền vững là một nhánh của phát triển bền vững đã
được Hội nghò của Ủy ban Thế giới về Phát triển và Môi trường xác đònh năm
1987. Hoạt động phát triển du lòch bền vững là hoạt động phát triển ở một khu vực
cụ thể sao cho nội dung, hình thức, và quy mô là thích hợp và bền vững theo thời
gian, không làm suy thoái môi trường, làm ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ các hoạt
động phát triển khác. Ngược lại tính bền vững của hoạt động phát triển du lòch
được xây dựng trên nền tảng sự thành công trong phát triển của các ngành khác, sự
phát triển bền vững chung của khu vực.
Du lòch bền vững đứng trước một thử thách là cần phát triển các sản phẩm du
lòch có chất lượng, có khả năng thu hút khách cao song không gây phương hại đến
môi trường tự nhiên và văn hóa bản đòa, thậm chí còn phải có trách nhiệm bảo tồn
và phát triển chúng. Trọng tâm của phát triển du lòch bền vững đấu tranh cho sự
cân bằng giữa các mục tiêu về kinh tế xã hội bảo tồn tài nguyên môi trường và văn
hóa cộng đồng trong khi phải tăng cường sự thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa
dạng của du khách. Sự cân bằng này có thể thay đổi theo thời gian, khi có sự thay
đổi về các quy tắc xã hội, các điều kiện đảm bảo môi trường sinh thái và sự phát
triển của khoa học công nghệ.
8
1.2. THỊ TRƯỜNG DU LỊCH
Thò trường du lòch là một bộ phận của thò trường chung, một phạm trù của sản
xuất và lưu thông hàng hóa, dòch vụ du lòch, phản ảnh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa
người mua và người bán, giữa Cung – Cầu về một sản phẩm dòch vụ nào đó và
toàn bộ các mối quan hệ.
1.2.1. Cung du lòch
Là tập hợp những hoạt động kinh doanh được tạo ra để sẵn sàng giúp cho việc
thực hiện các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người thông qua việc tổ
chức vận chuyển, phục vụ lưu trú, phục vụ ăn uống, hướng dẫn tham quan.
1.2.2. Cầu du lòch
Là hệ thống các yếu tố tác động đến sự hình thành các cuộc hành trình lưu trú
tạm thời của con người ở một nơi khác ngoài nơi ở thường xuyên của họ để nghỉ
dưỡng, chữa bệnh, thỏa mãn các nhu cầu về văn hóa, nghệ thuật, giao lưu tình cảm,
công vụ những yếu tố tác động đó gồm: khả năng chi tiêu, nhu cầu, sở thích, mô
đen, thời gian nghỉ ngơi
Giữa cung và cầu du lòch có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Tuy
nhiên, cung – cầu du lòch có một đặc điểm riêng là cung – cầu cách xa nhau về
không gian đòa lý. Do đó công tác Marketing, tuyên truyền quảng bá, để kéo cung
– cầu gặp nhau là hết sức cần thiết.
1.2.3. Sản phẩm du lòch
“Sản phẩm du lòch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất
hữu hình và vô hình.
Sản phẩm du lòch có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn, hoặc một món
hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát”
Sản phẩm du lòch còn gọi là kinh nghiệm du lòch và nó là tổng thể nên Krapf
nói “một khách sạn không làm nên du lòch”
9
Sản phẩm du lòch có nhiều đặc tính riêng biệt. Những đặc tính này cũng là
những đặc trưng của dòch vụ du lòch. Sau đây là những đặt tính sản phẩm du lòch:
+ Khách mua sản phẩm trước khi thấy sản phẩm.
+ Sản phẩm du lòch thường là một kinh nghiệm nên dễ bắt chước.
+ Khoảng thời gian mua sản phẩm và thấy, sử dụng sản phẩm quá lâu.
+ Sản phẩm du lòch ở xa khách hàng.
+ Sản phẩm du lòch do sự tổng hợp các ngành kinh doanh khác nhau.
+ Sản phẩm du lòch như chỗ ngồi ở máy bay, phòng ngủ khách sạn, ghế ngồi
nhà hàng không thể để tồn kho.
+ Trong thời gian ngắn, lượng cung sản phẩm du lòch cố đònh, nhưng lượng cầu
của khách có thể gia tăng hoặc sút giảm.
+ Khách mua sản phẩm du lòch ít trung thành hoặc không trung thành với công
ty bán sản phẩm.
+ Nhu cầu của khách đối với sản phẩm du lòch dễ bò thay đổi về sự giao động
về tiền tệ, chính trò.
1.3. CÁC NGUỒN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Để phát triển du lòch, đặc biệt là du lòch bền vững cần có các nguồn lực sau:
1.3.1. Tài nguyên thiên nhiên
Thiên nhiên là môi trường sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất,
song chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp
được khai thác sử dụng phục vụ cho mục đích phát triển du lòch mới được xem là tài
nguyên du lòch thiên nhiên. Các tài nguyên du lòch thiên nhiên gồm:
¾ Đòa hình
: Các dạng đòa hình tạo nền cho phong cảnh, một số kiểu đòa hình
đặc biệt và các di tích tự nhiên có giá trò phục vụ cho nhiều loại hình du lòch.
Khách du lòch có tâm lý và sở thích chung là muốn đến những nơi cho phong cảnh
đẹp, khác lạ so với nơi họ đang sinh sống. Những tài nguyên đòa hình được khai
10
thác cho du lòch thường là: các phong cảnh đẹp, hang động, các bãi biển, các đảo
và quần đảo ven bờ, các di tích tự nhiên.
¾ Khí hậu
: Là một dạng tài nguyên du lòch quan trọng. Các điều kiện khí hậu
được xem như các tài nguyên khí hậu du lòch cũng rất đa dạng và đã được khai thác
để phục vụ cho các mục đích du lòch khác nhau.
¾ Nguồn nước
: Đối với hoạt động du lòch, thủy văn cũng được xem như một
dạng tài nguyên quan trọng. Nhiều loại hình du lòch gắn bó với đối tượng nước
chính và tạo thêm nhiều sản phẩm du lòch mới, thích hợp như mặt nước và vùng
ven bờ, tài nguyên nước khoáng.
¾ Sinh vật
: Tài nguyên sinh vật có giá trò tạo nên phong cảnh làm cho thiên
nhiên đẹp và sống động hơn. Đối với một số loại hình du lòch như du lòch sinh thái,
tham quan, nghiên cứu khoa học, tài nguyên sinh vật có ý nghóa đặc biệt quan
trọng trước hết là tính đa dạng sinh học, là sự bảo tồn được nhiều nguồn gen quý
giá rất đặc trưng trong vùng nhiệt đới, là việc tạo nên những phong cảnh mang
dáng dấp của vùng nhiệt đới và ôn đới lạ mắt đối với những người sống ở vùng
nhiệt đới. Tài nguyên sinh vật được khai thác cho du lòch thường là các vườn quốc
gia, các khu rừng đặc dụng, hệ sinh thái đặc biệt, các khu sinh vật nuôi.
Trên đây là các dạng tài nguyên du lòch tự nhiên chủ yếu dựa trên các thành
phần của tự nhiên để làm cơ sở cho việc xác đònh các loại hình du lòch và có đònh
hướng khai thác chúng theo những chủ đề và chương trình nhất đònh. Nhưng trong
thực tế, các dạng tài nguyên luôn gắn bó với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau và
cùng được khai thác một lúc tạo nên các sản phẩm du lòch hoàn chỉnh, có tính tổng
hợp cao. Vì thế các tài nguyên du lòch tự nhiên cần được xem xét dưới góc độ tổng
hợp của các dạng tài nguyên với nhau tại mỗi một đơn vò lãnh thổ có không gian và
thời gian xác đònh.
11
1.3.2. Tài nguyên nhân văn
a)
Dân cư, dân tộc học: Mỗi dân tộc có những điều kiện sinh sống, những đặc
điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất manh những sắc thái riêng
của mình và có đòa bàn cư trú nhất đònh. Những đặc thù của từng dân tộc có sức
hấp dẫn riêng đối với khách du lòch.
Các đối tượng du lòch gắn liền với dân tộc học có ý nghóa với du lòch là các
tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về kiến trúc
cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc
Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều thể hiện những sắc thái riêng biệt của mình để
thu hút khách du lòch. Người Tây Ban Nha ở vùng biển Đòa Trung Hải với nền văn
hóa Phlamanco và truyền thống đấu bò là đối tượng hấp dẫn khách du lòch nghỉ hè
ở Châu Âu. Đất nước Pháp, Italia, Hy Lạp là những cái nôi của văn minh Châu
Âu. Kho tàng văn hóa, sinh hoạt văn hóa đặc thù là điều kiện thuận lợi cho công
nghiệp du lòch phát triển.
b)
Di tích lòch sử - văn hóa: Di tích lòch sử – văn hóa là những không gian
vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trò điển hình lòch sử, do tập
thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lòch sử để lại. Di tích lòch
sử – văn hóa ở mỗi dân tộc, mỗi quốc gia được phân chia thành :
¾ Di tích văn hóa khảo cổ
: là những đòa điểm ấn giấu một bộ phận giá trò
văn hóa, thuộc về thời kỳ lòch sử xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào
đó trong lòch sử cổ đại.
¾ Di tích lòch sử
: di tích lòch sử thường bao gồm (1) di tích ghi dấu về dân tộc
học ; (2) di tích ghi dấu sự kiện chính trò quan trọng, tiêu biểu có ý nghóa quyết đònh
chiều hướng phát triển của đất nước, của đòa phương ; (3) di tích ghi dấu chiến công
chống xâm lược ; (4) di tích ghi dấu những kỷ niệm ; (5) di tích ghi dấu sự vinh
quang trong lao động ; (6) di tích ghi dấu tội ác của đế quốc, phong kiến và độc tài.
12
¾ Di tích văn hóa nghệ thuật: là các di tích gắn với các công trình kiến trúc
có giá trò nên còn gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật. Những di tích này không chỉ
chứa đựng những giá trò kiến trúc mà còn chứa đựng cả những giá trò văn hóa xã
hội, văn hóa tinh thần (Tháp Eiffel, Khải Hoàn Môn ở Pháp, khu đền Angkor Wat
Campuchia, Kim tự tháp Ai Cập ).
c)
Lễ hội: Là nét độc đáo đặc trưng cho mỗi dân tộc. Nhìn bề ngoài có
thể lễ hội mang tính chất cổ không phù hợp với tính hiện đại trong thời kỳ thông tin
bùng nổ hiện nay, nhưng nếu thực sự để tâm nghiên cứu sẽ thấy được những nét
hết sức độc đáo và không khỏi kinh ngạc về giá trò phi thời gian, đồng thời thông
qua đó có thể hiểu rõ hơn về sinh hoạt về nhu cầu tâm linh của người xưa được
minh họa rõ nét cho từng giai đoạn lòch sử của dân tộc. Điều đó chính là điều du
khách mong muốn khám phá. Mong muốn của du khách không chỉ đơn thuần chỉ
ngắm nhìn thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên, những danh lam thắng cảnh, những di
tích cổ xưa, nghe những huyền thoại về đất nước con người mà còn có nhu cầu hiểu
biết phong tục tập quán, nét sinh hoạt văn hóa truyền thống dân gian cũng như đời
sống hiện đại.
Chính lễ hội là nguồn cung cấp những nhu cầu đó cho du khách. Do đó lễ hội
tạo nên sức hấp dẫn du khách một cách mãnh liệt.
d)
Các loại hình nghệ thuật ca múa, nhạc, sân khấu: Các loại hình nghệ
thuật ca múa nhạc sân khấu cũng là một di sản của con người có khả năng hấp dẫn
du khách trong và ngoài nước. Có thể nói trong sinh hoạt văn hóa có tính đặc trưng
của mỗi đòa phương mỗi vùng đóng vai trò hết sức quan trọng. Trong chuyến du
ngoạn trên những dòng kênh rạch len lõi trong miệt vườn đầy hoa trái, bên cạnh vẻ
đẹp thiên nhiên nếu được nghe những điệu lý, lời ca vọng cổ, bay bổng giữa trời
đất mênh mông, cỏ cây sông nước thì tính hấp dẫn sẽ tăng lên gấp bội lần. Nếu
bạn đến Angkor Wat có kèm theo những điệu múa dân gian, những trang phục của
vua chúa cổ xưa hẳn sẽ làm du khách thú vò hơn gấp nhiều lần. Những đội ca nhạc
13
của chùa, nhà thờ, những ngày tết tát nước, những ngày hội đua thuyền trên sông
sẽ phục vụ tốt hơn nhu cầu thưởng ngoạn của khách.
e)
Nghề và làng nghề truyền thống: Nghề thủ công truyền thống cũng là loại
tài nguyên du lòch nhân văn quan trọng và có sức hấp dẫn lớn đối với du khách
thông qua những sản phẩm thủ công độc đáo, đắc sắc. Đấy cũng chính là những
đặc tính riêng của các nền văn hóa và là sức hấp dẫn của các nghề và làng thủ
công truyền thống. Những các nghề thủ công truyền thống bao gồm: nghề chạm
khắc đá, nghề đúc đồng, nghề kim hoàn, nghề gốm, nghề mộc, nghề dệt – thêu ren
truyền thống, nghề sơn mài và khảm.
f)
Các sự kiện văn hóa, thể thao: Những hoạt động mang tính sự kiện như các
giải thể thao lớn, các cuộc triển lãm các thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ,
các liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc tế hay dân tộc, các lễ hội điển hình
cũng là những đối tượng hấp dẫn du khách.
Thông thường những đối tượng văn hóa này thường tập trung ở những thành
phố lớn, và những thành phố này là những hạt nhân của các trung tâm du lòch quốc
gia, vùng và khu vực.
1.3.3. Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành và cơ sở hạ tầng chung của nền kinh tế
là yếu tố quan trọng để phát triển ngành du lòch. Quốc gia nào nếu có cơ sở vật
chất kỹ thuật chuyên ngành và cơ sở hạ tầng chung yếu kém thì quốc gia đó khó
thành công trong chiến lược phát triển cho ngành du lòch hay phát triển nền kinh tế
quốc dân nói chung. Có cơ sở hạ tầng tốt thì lợi thế cạnh tranh rất mạnh về thu hút
du khách, thậm chí sẽ hấp dẫn nhà đầu tư.
1.3.4. Các yếu tố khác
Một yếu tố vô cùng quan trọng tạo nguồn tiềm năng cho ngành du lòch là chủ
trương chính sách đầu tư của nhà nước. Kinh nghiệm của một số nước cho thấy khi
Chính phủ đầu tư mạnh cho ngành du lòch thì tốc độ tăng trưởng của ngành tăng
14
trưởng rất cao, khả năng cạnh tranh với ngành du lòch của các nước trong khu vực
cũng như trên thế giới rất mạnh như Thái Lan, Trung quốc,
1.4. VÀI TRÒ CỦA NGÀNH DU LỊCH
1.4.1. Vai trò của ngành du lòch đối với phát triển nền kinh tế
- Ngành du lòch đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển dòch cơ cấu
kinh tế của một quốc gia, một khi ngành du lòch phát triển thì nó sẽ kéo theo tỷ
trọng trong GDP tăng lên và cùng lúc đó tỷ trọng nông nghiệp giảm. Ngoài ra
ngành du lòch còn đóng góp một tỷ trọng không nhỏ trong GDP của một quốc gia.
- Trên phạm vi toàn cầu, thu nhập của ngành du lòch tương đương 45,8% tổng
thu của toàn ngành dòch vụ trong giai đoạn 1990 – 2002; đặc biệt tại các quốc gia
đang phát triển tỷ trọng đóng góp của ngành du lòch chiếm đến 60% toàn ngành
dòch vụ. Ngành du lòch là ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, là ngành chủ
lực có mức đóng góp quan trọng cho ngân sách các quốc gia. Trong năm 2002,
thống kê về ngành du lòch đã đóng góp 8,8% vào GDP thế giới, trong đó du lòch nội
đòa chiếm 75%. WTO dự báo mức đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp của ngành du
lòch vào GDP thế giới sẽ lên tới tỷ lệ 12,5% vào năm 2010.
- Ngành du lòch là cơ sở quan trọng kích thích sự phát triển các ngành kinh tế
khác, trong đó nổi lên ưu thế của dòch vụ giao thông, ăn ở
- Ngoài ra, ngành du lòch còn là ngành dòch vụ mang lại nguồn thu ngoại tệ
lớn của nhiều nước.
1.4.2. Vai trò của du lòch trong lónh vực văn hóa – xã hội
- Ngành du lòch tạo ra nhiều công ăn việc làm, đặc biệt là lao động tại các
vùng miền có điểm du lòch.
- Du lòch thể hiện trong việc giữ gìn, phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức
sống cho nhân dân. Trong chừng mực nào đó du lòch có tác dụng hạn chế các bệnh
tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét