Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

TỔNG QUAN VỀ VĂN MINH CHĂM PA

người láng giềng để làm phong phú thêm văn hố của mình. Trải qua nhiều thế hệ,
những yếu tố văn hố tiếp nhận từ các tộc người khác đã thử nghiệm qua thời gian
và thực tế cuộc sống, đã gắn bó, hồ quyện vào các yếu tố của bản thân tộc người
tạo nên một phức hợp văn hố của tộc người đó. Giao lưu văn hố đã xảy ra trong
suốt q trình phát triển của lịch sử nhân loại vì con người muốn tồn tại và phát
triển thì phải có nhu cầu giao tiếp với thế giới xung quanh, chính yếu tố đó đã thúc
đẩy tộc người này giao lưu với tộc người khác.
 Giao lưu văn hố là sự di chuyển qua lại giữa các nền văn hố. Nói
cách khác giao lưu văn hố là sự tiếp xúc và trao đổi văn hố trong q trình vận
động, phát triển của xã hội. Hay giao lưu văn hố là sự tiếp thu những nét cơ bản
từ một trạng thái văn hố ngoại sinh, trong khi vẫn giữ những nét cơ bản của trạng
thái văn hố nội sinh ở một dạng phát triển hơn.
Giao lưu văn hố có thể sảy ra ở một khu vực rộng lớn bao gồm nhiều quốc
gia, chủng tộc, cũng có thể xảy ra ở những vùng rộng hẹp khác nhau, trong cùng
một quốc gia muốn diễn ra giao lưu văn hố thì cần phải có những điều kiện nhất
định. Tuỳ từng giai đoạn khác nhau của tiến trình lịch sử nhân loại, những điều
kiện giao lưu văn hố giữa các tộc người cũng khác nhau.
• Điều kiện đầu tiên là mơi trường khung cảnh
địa lý nơi tộc người đó cư trú và coi đây là điều kiện quan trọng tác động sâu sắc
đến q trình giao lưu văn hố tộc người khi những tộc người bị ngăn cách với
nhau bởi những chướng ngại tự nhiên thì giữa hai tộc người đó khơng có điều kiện
tiếp xúc thường xun với nhau thì khơng thể sảy ra việc giao lưu văn hố. Ngược
lại, giữa hai tộc người có diều kiện tiếp xúc với nhau thuận lợi thì diễn ra q trình
giao lưu văn hố. Vì tuy là các cư dân có nguồn gốc khác nhau nhưng do cùng
sống trong một khơng gian sống với nhau khá lâu dài nên giữa họ đã tạo nên những
yếu tố văn hố chung nhất, tiếp thu một phần văn hố của tộc người láng giềng vào
nền văn hố của mình.
5
• Giao lưu và tiếp xúc văn hố giữa các tộc người
diễn ra rất đa dạng mà một trong những hoạt động có ý nghĩa đặc biệt đối với giao
lưu và tiếp xúc văn hố là trao đổi kinh tế. Các tộc người sinh sống ở những vùng
lãnh thổ khác nhau khơng phải bất kỳ nơi nào cũng đáp ứng được nhu cầu của đời
sống. Các sản phẩm làm ra của một cộng đồng cư dân nào đó, trước hết là đáp ứng
nhu cầu của chính nhu cầu của cộng đồng đó, nhưng trong nhiều trường hợp các
sản phẩm làm ra khơng những đáp ứng nhu cầu của cộng đồng mà còn có thể trao
đổi. Lúc đầu có thể là những trao đổi sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng
bạn, nhưng dần dần lại mang ý nghĩa trao đổi văn hố. Từ việc trao đổi các sản
phẩm các tộc người dần dần tiếp thu những yếu tố văn hố của tộc người khác dựa
vào sản phẩm biến nó thành nét văn hố của mình.
 Một hiện tượng khác trong q trình phát triển của lịch sử nhân loại có
ảnh hưởng đến giao lưu văn hố là hiện tượng di dân. Di dân là một hiện tượng xã
hội nhưng cũng là một hiện tượng văn hố, xảy ra ở hầu hết các dân tộc. Di dân
sảy ra trong suốt tiến trình của lịch sử nhân loại chịu tác động của các yếu tố kinh
tế, văn hố, xã hội những cuộc chiến tranh những tác động của thiên tai. Di dân sảy
ra làm tăng q trình giao lưu, tiếp xúc tộc người. Khi các đợt di dân sảy ra với
cường độ khơng lớn tức với số lượng khơng đơng sẽ ít phá vỡ lãnh thổ tộc người.
Lớp cư dân mới đến cộng cư hồ nhập vào lớp cư dân bản địa làm cho q trình
giao lưu văn hố tăng lên. Trong trường hợp di dân với cường độ lớn có thể đẩy
người bản địa ra khỏi lãnh thổ cư trú tạo nên sự xáo trộn rất lớn trong lãnh thổ cư
trú, giao lưu văn hố tăng. Di dân làm tăng nhanh và mở rộng q trình giao tiếp
tộc người và làm tăng nhanh q trình giao lưu văn hố.
Ngồi hoạt động kinh tế, di dân còn có những hoạt động trao đổi phi kinh tế
ảnh hưởng của chúng đế giao lưu văn hố là khơng nhỏ. Đó là sự trao đổi tặng
phẩm, vật phẩm tơn giáo. Lúc đầu những vật phẩm tặng phẩm có ý nghĩa khuyếch
trương hơn. Cùng với sự tồn tại và phát triển của các tộc người đã dẫn đến những
6
giao tiếp tộc người như quan hệ hơn nhân, quan hệ ngoại giao những tiếp xúc đó
đều kéo theo những tiếp xúc văn hố.
Những q trình tiếp xúc trong giai đoạn đầu đơn thuần là giao tiếp tộc người
nhưng càng về sau thì chứa đựng những yếu tố văn hố. Qua trình đó diễn ra liên
tục, dưới nhiều hình thức khác nhau, làm cho sự giao lưu văn hố tăng lên.
Như vậy từ sự tiếp xúc văn hố - xã hội giữa các tộc người đã tạo ra sự tiếp
xúc và giao lưu văn hố. Khi diễn ra q trình tiếp xúc, giao lưu văn hố cũng là
diễn ra q trình tiếp biến văn hố. Tức là khả năng của một tộc người tiếp nhận
các yếu tố văn hố tộc người khác biến đổi nó thành của mình. Q tình giao lưu
văn hố diễn ra rất phức tạp bị chi phối bởi các điều kiện tự nhiên, mơi trường khác
nhau.
2. Sơ lược về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Chăm Pa
2.1 Điều kiện tự nhiên.
Vương quốc Chăm Pa hình thành và phát tiển trên dải ven biển miền Trung
trong một phần cao ngun Trường Sơn lúc lớn mạnh trải dài đến Hồng Sơn, sơng
Gianh ở phía Bắc đến sơng Dinh –Hàm Tân, phái Nam khu vực sơng Krơng Po Cơ
và sơng Đà Rằng trên Tây Ninh. Vùng đất từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi có
nhiều núi và lãnh thổ giáp biển đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế và
giao lưu với các nước.
7
Vùng có hệ thống sơng ngòi tương đối nhiều chỉ riêng từ Quảng Bình đến
Bình Thuận cứ 15-20km lại có một con sơng đổ ra biển có những rãnh núi đâm
ngang nên mỗi sơng là một hệ thống riêng lẻ. Vùng có nguồn động thực vật phong
phú. Các con sơng mang lại lượng phù sa màu mỡ của vùng, tạo điều kiện cho sự
phát triển các ngành kinh tế.
Vùng biển có bờ biển dài, dạng răng cưa gồm bộ phận bồi tụ mài mòn xen kẽ.
Các vũng vịnh rộng lớn thường là các bán đảo lồi ra được các bán đảo che chở.
Vùng có tài ngun động thực vật phong phú có tài ngun khống sản tuy số
lượng khơng lớn lắm phần lớn tập trung ở Quảng Nam Đà Nẵng các loại thân đá,
đá q, vàng…tạo kiện cho cư dân champa sớm hướng ra biển.
Tất cả những điều kiện tự nhiên ấy giúp Chăm Pa phát triển một nền kinh tế
vững mạnh dựa vào các ưu thế vốn có của vùng.
Nền kinh tế chủ yếu là nơng nghiệp, Nhân dân trồng các loại ngũ cốc, nếp, kê,
đậu, vừng đây là vùng đất mới khai phá sau nên đất đai phì nhiêu họ còn trồng các
loại mía, chuối, thốt nốt, dừa, sen, cau, đặc biệt là mía. Ngồi ra người Chăm Pa
còn ni trâu bò, ngựa, voi và voi được sử dụng chủ yếu trong qn đội. tại đây
Chăm Pa cũng học cách cày cấy bằng trâu bò cửa Cửu Chân. Ruộng hai mùa, mùa
trồng lúa trắng mùa trồng lúa đỏ tên lúa là Chiêm đây cũng là loại lúa được người
Việt tiếp nhận qua đó cho thấy q trình giao lưu học hỏi người Đại Việt và người
Chăm Pa hình thành rất sớm.
Việc chuyển hướng từ nông nghiệp khai thác biển sang nông nghiệp thuần
túy là sự kiện đặc biệt cho quá trình này.Trên cơ sở phát triển của kỹ thuật
luyện kim đồng thau đã tạo điều kiện cho năng suất tăng, dư thừa để trao đổi,
buôn bán, xuất hiện giao lưu tiếp biến
Hơn nữa với vùng tự nhiên giáp Đại Việt trong cơng cuộc chống Bắc thuộc
hai vùng cũng có những mối quan hệ bang giao và kéo dài theo chiều dài lịch sử
8
mối quan hệ ở mỗi giai đoạn tuy có biến đổi nhưng đặc biệt trong các đợt chống
ngoại xâm phương Bắc hai nước thể hiện tinh thần hồ hiếu với nhau rất thân thiết.
Quá trình hợp tác lâu đời giữa hai dân tộc Đại Việt- Chămpa do cùng cư
trú trong một khu vực đòa lí chung, và trong cuộc đấu tranh lâu dài với thiên
nhiên mà bộ phận cư dân Đai Việt- Chămpa trong vùng cùng nhau ghánh vác.
Hai dân tộc sử dụng chung nhiều con đập, đường mương trong vùng từ đó đưa
đến việc cùng nhau lao động để bảo vệ các nguồn cung cấp nước và qua lao
động hai cư dân có dòp tiếp xúc và giao lưu với nhau.
Nhân dân trồng dâu ni tằm ngành dệt lụa rất phát triển, nghề khai quặng nấu
quặng và rèn đúc kim loại cũng rất phát tiển, sản xuất được nhiều vàng, bạc, sắt.
Chăm Pa cũng rất giàu lâm sản q như hương liệu, tê giác, ngà voi, sáp ong, hổ
phách, đồi mồi đặc biệt là vùng có trầm hương các sản phẩm này thường dùng
thơng thương với nước ngồi và là thứ hàng trao đổi hàng năm của ngoại thương
Chăm Pa.
Ngoại thương là ngành kinh tế quan trọng của Chăm Pa, thường các vua
Chăm giàu có hnờ ngoại thương. Đặc điểm ngoại thương ở Chăm Pa là trong ngoại
thương cướp biển trở thành một bộ phận quan trọng trong đó đặc biệt là bán và
cướp nơ lệ hoạt động ngoại thương chủ yếu bằng đường biển do địa hình có biển
chạy dọc lãnh thổ nên Chăm Pa rất thuận lợi trong giao lưu bn bán bằng đường
biển với các nước khác. Các sản phẩm của Chăm Pa rất được thương nhân nước
ngồi ưa chuộng. Trầm hương trở thành hàng xuất khẩu có vị trí quan trọng, gốm
Chăm Pa với trình độ phát triển cao đã có mặt ở nhiều nơi.
2.2. Điều kiện xã hội
9
Thế kỷ III, người ta phát hiện ra bia viết chữ Chăm chứng tỏ người Chăm Pa
có chữ viết riêng của mình từ rất sớm. Nó đã xây dựng trên cơ sở từ chữ Nam Ấn
gần chữ Phạn qua đó cho thấy Chăm Pa tiếp thu nền văn hố Ấn cũng từ rất sớm.
Nghệ thuật Chăm Pa cũng rất phát triển với các tháp Chàm nổi tiếng những
bức phù điêu, những pho tượng Phật, Mỹ Sơn là di chỉ thành cổ Chăm rất nổi
tiếng. Đạo Phật Chăm pa được du nhập và phát triển rất sớm. Nhân dân Chăm pa
phần lớn theo đạo Phật trong đó vua theo đạo ni càn một phái tu hành khổ hạnh,
các quan lại có một số theo đạo Bà la mơn-Bà ni. Khi đó nhiều nhà sư sang Giao
Châu để truyền đạo và ở lại bên ấy.
Người Chăm rất lịch sự gặp nhau thường chắp tay vái hay cú đầu chào, họ lại
có tục ăn trầu như người Việt nên người Trung Quốc qua đây nói người Chăm ăn
cau ln mồm khơng biết mỏi.
Trong gia đình người phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong xã hội và trong
sản xuất. Thường theo phong tục người Chăm người con gái đi hỏi con trai vì con
gái q hơn con trai.
Nguồn gốc tộc người: họ là người nói tiếng Malayo – Polynesian nhóm người
nói tiếng Nam Á và sự di chuyển dân cư của nguời Nam Đảo họ di từ biển Đơng
vào định cư ở ven bờ biển từ suốt chiều dài từ Bắc đến Nam mang theo cả bản sắc
của họ.
Chủ nhân của nền văn hố Sa Huỳnh tiền thân vương quốc Chăm pa là cư dân
nói tiếng Nam đảo, tộc người Chăm Pa là cư dân đa chủng tộc có nhiều nét văn hố
khác nhau.
Chính trị: Chăm pa là một nhà nước qn chủ chun chế vua đứng đầu giải
quyết mọi việc từ sản xuất đến việc theo dõi các hình phạt uy quyền của nhà vua
rất lớn quan lại cũng khơng được đến gần nhân dân thấy vua phải quỳ còn quan lại
yết kiến nhà vua mà thơi. Dưới vua có các quan lại họ khơng có lương bổng chỉ
được tư cấp theo thổ tục địa phương, đơi khi được cấp thức ăn, miễn tiêu, dịch. Để
10
đảm bảo quyền lực nhà vua có một đạo qn mạnh thường trực. Qn lính mỗi
tháng được cấp hai học gạo nếp, mỗi năm cấp từ 3-5 áo đơng và hè họ được trang
bị vũ khí gươm giáo, cung tên thuốc độc. Trong nước ai phạm tội thì phạt bằng gậy
đánh hoăc tội nặng thì trèo cây lấy ngọn cây đâm vào cổ, hay tội nặng hơn nữa thì
cho voi dày hay voi quật chết, cũng có khi bắt tự tử ở núi Bất lao.
Khi mới thành lập vương quốc Chăm pa vào cuối thế kỷ II thì liên tiếp tiến
hành giao hảo với Giao châu và cử xứ sang. Thế kỷ III Châu khu liên là Phạm
hung (cháu ngoại) liên kết với Phù Nam để tấn cơng các trưởng lại nhà Tấn và tấn
cơng cả Giao Chỉ nhưng cuộc tấn cơng thất bại. Năm 284 Chăm Pa cử sứ sang Tấn
triều cống và ngừng cuộc xâm lấn. Với vị trí như vậy Chăm pa ln có các mối
quan hệ phức tạp với phương Bắc, với Đại Việt với Phù Nam và Chăm Pa thường
phải nộp triều cống cho Đại Việt và phương Bắc.
Chăm Pa và Đại Việt có lúc mối quan hệ diễn ra hồ bình hồ hiếu cùng nhau
tồn tại và phát triển nhưng có lúc quan hệ trở nên căng thẳng, đặc biệt là vùng phía
Bắc Chăm Pa và phía Nam Đại Việt có thời gian thường sảy ra tranh chấp và theo
thời gian do sự mở rộng về phía Nam của Đại Việt làm lãnh thổ Chăm Pa ngày
càng thu hẹp về phía Nam và cuối cùng sát nhập hồn tồn vào Đại Việt. Lãnh thổ
Chăm Pa tuy khơng còn nhưng dân tộc Chăm vẫn tồn tại họ sống chủ yếu ở phía
Nam đặc biệt là Ninh Thuận-Bình Thuận, qua thời gian họ vẫn giữ vững bản sắc
văn hố riêng của mình và bản sắc văn hố hồ vào tạo thành nền văn hố đa dạng
của 54 dân tộc Việt Nam. Bản sắc văn hố đó cần được phát huy, bảo tồn và phát
triển.
Bất kỳ một nền văn hóa nào được hình thành đều có xu hướng là thích
ứng với điều kiện đòa lý và giao lưu tiếp biến với khu vực. Ngay từ sớm trong
mối bang giao rộng rãi với các cư dân trong vùng phụ cận Đông Nam làm
cho văn hóa Champa đa dạng và phong phú. Đó là quá trình phát triển ngôn
ngữ, chữ viết trong sự đan xen văn hóa cao nguyên miền núi với văn hóa
11
biển.Đó là sự hòa hợp giữa tiến ngưỡng dân gian với các tôn giáo Balamôn,
Bani, Islam. Tất cả thực hiện trên dạng thức văn hóa vật chất và tinh thần vừa
đồng nhất lại vừa dò biệt.
⇒ Tóm lại: Với vị trí địa lý khá thuận lợi cho việc giao thương
bn bán, dựa trên một nền thủ cơng nghiệp phát triển từ đó tạo cơ sở cho các hoạt
động trao đổi hàng hố đối với các nước lân bang một cách thuận lợi. Để nền văn
minh Chăm Pa đạt đến trình độ rực rỡ nhất, chính những điều kiện đó cũng tạo cho
q trình giao lưu văn hố thuận lợi và diễn ra trên phạm vi rộng với nhiều lĩnh
vực khác nhau có sự tiếp biến và giao lưu các giá trị văn hố một cách năng động
và nhanh chóng.
⇒ Trong việc bn bán và giao tiếp các nước lánh giềng việc sử
dụng người Hồi giáo làm đại diện trung gian với những nơi đang có một cộng đồng
A ráp hồi giáo như Trung Hoa, Giava, sẽ thuận lợi nhiều mặt.
Đất nước Chăm Pa nằm trên đường mậu dịch hàng hải Đơng Tây vì vậy nó
đóng vai trò khu vực dừng chân và trung chuyển của thương mại, ngoại giao và
giao lưu văn hố giữa các nước từ Á-Âu, trong khu vực và của Chăm Pa đối với
các nước phía Nam lẫn phái Đơng bán đảo Đơng Dương và khu vực Đơng Nam Á.
Sản phẩm cho ra đời đó là q trình phân ly, tiếp biến và quy tụ các giá trị văn hố
tạo ra nhiều nét mới và làm hồn hảo giữa các lĩnh vực từ tín ngưỡng tơn giáo, chữ
viết, văn học, nghệ thuật, điêu khắc. Lĩnh vực nào cũng diễn ra sự giao lưu tiếp
biến. Đem lại nét độc đáo cho nền văn hố văn minh Chăm Pa. Như vậy, Chăm Pa
có q trình giao lưu văn hố bao gồm những điều kiện thuận lợi như:
Do ngành hải thương phát triển mạnh, Chăm Pa có giao lưu văn hố rộng rãi.
Tuy nhiên, sự tiếp xúc của Chăm Pa có xu hướng về phía Nam như Ấn Độ, Mã Lai
nhiều hơn về phía Bắc (Đại Việt và Trung Quốc). Sự tiếp xúc với Trung Quốc chủ
yếu thơng quan Đại Việt, và bằng các cuộc chiến tranh.
12
Do có cơ sở ven biển và giao lưu nhiều. Đây cũng là vùng đất trù phú và dồi
dào về tài ngun khống sản nhất là kim loại và kim loại q do sự phát triển của
đồ trang sức rất phổ biến.
Ở đây nghề gốm cũng phát triển nên có sự giao lưu mạnh mẽ với Ấn Độ và
Trung Quốc
Đa số những giá trị văn hố được giao lưu chủ yếu qua đường thương mại và
bn bán nhất là Ấn Độ và Trung Quốc, Campuchia và A rập.
Văn hố và giao lưu văn hố ở Chăm Pa phát triển mạnh hiện nay vẫn còn
nhiều giá trị văn hóa độc đáo khơng đâu có được.
Là nơi thương nhân dừng chân bn bán, trung chuyển quốc tế, nghỉ chân nên
nơi đây là cửa ngõ thơng thương và tạo điều kiện cho giao lưu văn hố tốt hơn,
rộng rãi hơn với nhiều nước.
Nơng nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính, từ đó quyết định văn hố của văn
minh Chăm Pa-một nền văn hố nơng nghiệp.
Kết quả bn bán và giao thương với A rập tạo ra đạo Hồi, với Ấn Độ tạo ra
Phật Giáo+ Blamơn+ Hinđu, chữ viết Phạn, kiến trúc đền tháp…
Sau đây là q trình giao lưu văn hóa từ đó tạo ra được những nhân tố mới
trong nền văn hóa.
CHƯƠNG II: Q TRÌNH GIAO LƯU VĂN HỐ CỦA NỀN
VĂN MINH CHĂM PA.
1. Sự hình thành những nhân tố mới trong q trình giao lưu tiếp
biến văn hố của nguời ChămPa
13
Trước khi lập quốc, Chăm Pa đã chịu sự đơ hộ của người Hán và cũng chịu
ảnh hưởng sâu sắc các yếu tố Hán trong nền văn hố của mình. Trong khi đó, ngay
từ trước cơng ngun, trước nhu cầu phát triển sự bn bán trao đổi hàng hố. Các
thương nhân Ấn Độ đã tìm đến khu vực Đơng Nam Á trong đó có cả miền Trung
của Việt Nam lúc bấy giờ. Từ đó các yếu tố văn hố Ấn Độ bắt đầu xâm nhập và
ngày càng mạnh mẽ vào đời sống của người Chăm Pa trên hầu hết các lĩnh vực.
Rồi trải qua thời kỳ phát triển lâu dài chịu ảnh hưởng của các cuộc chiến tranh xâm
chiếm và bị thơn tính, Chăm Pa có điều kiện giao lưu và tiếp xúc với văn hố Khơ-
me, Đại Việt, Phù Nam, Java… Như vậy, có thể nói văn hố Chăm Pa là sự tổng
hồ các yếu tố văn hố của các nhà nước, tộc người này.Tuy nhiên, người Chăm Pa
đã biết kết hợp những yếu tố văn hố đó với yếu tố văn hố bản địa để tạo ra những
yếu tố văn hố mới cho riêng mình.
1.1 Giao lưu với Ấn Độ và Ấn Độ giáo
 Tơn giáo
Khi người Ấn Độ đến khu vực này, đi theo họ là những người Balamơn, Phật
tử…để làm sứ mệnh tâm linh là cầu mong sự đi lại bình an, sự bn bán thuận lợi
hay những võ sĩ tầng lớp Katriya có sức mạnh chun chở vũ khí để bảo vệ, che
chở cho chuyến đi. Khi đến đây, họ đã xây dựng các thương điếm của mình. Từ
những cơ sở này, họ đã duy trì sinh hoạt tơn giáo và tìm cách ảnh hưởng ra bên
ngồi với những người dân ở đây, gây ảnh hưởng đến đời sống tình cảm, tâm linh
của cư dân. Từ đó, tơn giáo của Ấn Độ bắt đầu du nhập vào Chăm Pa.
Thế kỷ VII, Ấn Độ giáo mà chủ yếu là Siva giáo đã trở thành tơn giáo chính
thống của vua chúa Chăm Pa, đã ra đời cả một thánh địa tơn giáo-khu Mỹ Sơn, đã
mọc lên nhiều đền thờ Ấn giáo và nhiều tượng thần dưới nhiều dạng khác nhau
được làm ra để thờ phụng. Dưới vương triều đầu tiên của vương quốc Chăm Pa:
Vương triều Gangaraji (cuối thế kỷ II-đầu thế kỷ IX) những tơn giáo chính của Ấn
Độ như: Phật giáo và Ấn Độ giáo đã phổ biến rộng ở khu vực phía Bắc của Chăm
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét