5
LZ77 – Giới thiệu
LZ77 được Jacov Ziv và Abraham Lempel đưa ra
vào năm 1977. LZ77 là một thuật toán nén dựa
trên từ điển.
Thuật toán:
Sử dụng một con trỏ dịch chuyển trên xâu kí tự
đầu vào. Ban đầu con trỏ trỏ vào vị trí 1.
Qui ước: từ con trỏ trở về trước được gọi là quá
khứ, còn từ con trỏ trở về sau được gọi là tương
lai. Tránh trường hợp quá khứ dài vô tận người ta
đặt kích thước của cửa sổ quá khứ là w bằng số kí
tự dài nhất có thể trùng khớp với các kí tự trong
tương lai.
6
LZ77 – thuật toán nén
Pos - là vị trí đang xét. Ban đầu Pos bằng 1.
Match – xâu dài nhất được tìm thấy trong
cửa sổ.
Char – kí tự vừa đọc.
Output - thể hiện trong dạng (i, j) C:
(i,j) thể hiện vị trí so khớp và độ dài xâu tương
ứng
C kí tự rõ trong buffer.
7
LZ77: Example 1
sir_sid_eastman_easily_teases_sea_sick_seals
search buffer
look-ahead buffer
sir_sid_eastman_ ⇒ (0,0,’s’)
sir_sid_eastman_e ⇒ (0,0,’i’)
sir_sid_eastman_ea ⇒ (0,0,’r’)
sir_sid_eastman_eas ⇒ (0,0,’_’)
sir_sid_eastman_easi ⇒ (4,2,’d’)
8
LZ77: Decoding
Codes: (0, 0,’s’) (0,0,’i’) (0,0,’r’) (0,0,’_’) (4,2,’d’)
Message:
1. (0, 0,’s’): s
2. (0,0,’i’): s+i=si
3. (0,0,’r’): si+r=sir
4. (0,0,’_’): sir+_=sir_
5. (4,2,’d’): sir_+si+d=sir_sid
Get 2 symbols ’si’ starting from position -4 and add symbol ’d’
9
LZ77: Example 2
10
LZ77: Example 3
11
LZ77: Example 4
12
LZSS – Thuật toán nén
Pos - vị trí đang xét. Ban đầu Pos trỏ đến kí
tự đầu tiên và bằng 1.
Match - xâu dài nhất tìm thấy trong cửa sổ
quá khứ.
Output - hiển thị kết quả ở một trong 2 tình
huống sau:
Cặp (i,j) vị trí so khớp và độ dài xâu so khớp
Kí tự vừa đọc được hoặc xâu so khớp nhưng có độ
dài nhỏ hơn MIN_LENGTH.
13
LZSS: Example 1
14
LZ78: Main idea
•
The algorithm does not use any search buffer, lookahead
buffer, sliding window
•
Instead there is a Dictionary of previously encountered
strings
•
This Dictionary starts (almost) empty
•
The encoder add new entries to the Dictionary during
the message encoding
•
The decoder decode codes using Dictionary and
add new entries to the Dictionary during decoding
Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014
Giới thiệu khái quát về khách sạn maison dhanoi hanova .doc
- Trung tâm kinh doanh và dịch vụ giữ trẻ.
- Đa đón sân bay.
Sản phẩm của khách sạn ngoài sản phẩm vật chất nh ăn uống,lu niệm còn có các dịch
vụ bổ sung khác nh : điện thoại,thể hình,truy cập internet,fax,
3> Hệ thống tổ chức và điều hành của khách sạn :
Khách sạn Maison DHanoi kinh doanh lu trú là chủ yếu nên bộ máy tổ chức của
khách sạn đợc sắp xếp theo kiểu trực tuyến tham mu.
4>Thị trờng hoạt động của khách sạn :
- - Khách sạn phục vụ khách quốc tế và trong nớc. Chủ yếu phục vụ khách nớc ngoài
với lợng khách đa phần đến từ Mỹ và các nớc Châu Âu.
5>Bộ phận sinh viên đợc thực tập :
+ Bộ phận ăn uống
+ Bộ phận lễ tân
+ Bộ phận buồng
+ Bộ phận Marketing
5
Giám Đốc.
Phó Giám Đốc.
Tổ kế
toán
tài vụ.
Tổ
tiếp
tân.
Tổ
buồng.
Tổ chức
nhân
sự.
Hành
chính
nhân sự.
Khối ăn
& uống .
Tổ kỹ
thuật bảo
trì.
Tổ bếp. Tổ bàn. Bar
**********************************
6
Phần II : Tình hình hoạt động của bộ phận ăn uống
,lễ tân ,buồng và bàn tại khách sạn.
A) Bộ phận ăn uống.
1> Vị trí và chức năng của bộ phận ăn uống tại khách sạn
Vị trí của bộ phận ăn uống tại khách sạn :
Hoạt động kinh doanh ăn uống đóng vai trò không thể thiếu trong kinh doanh
khách sạn. Hoạt động đó bao gồm việc sản xuất,bán và phục vụ ăn uống cho du khách
với mục đích là kiếm lợi nhuận. Bộ phận ăn uống là một trong những bộ phận lớn,và
cũng là bộ phận quan trọng trong khách sạn vì dịch vụ này nhằm mục đích thoả mãn
nhu cầu thiết yếu của khách khi họ lu trú tại khách sạn, cũng nh phục vụ khách vãng
lai.
Dịch vụ ăn uống không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất mà còn đáp ứng nhu cầu văn
hoá và tinh thần của khách. Nếu hoạt động kinh doanh khách sạn thiếu dịch vụ ăn uống
thì sẽ thiếu đI tính đồng bộ và không đạt đợc hiệu quả kinh doanh vì không khai thác
triệt để khả năng thanh toán của khách.
Trong kinh doanh khách sạn,việc kinh doanh dịch vụ ăn uống có thể tạo ra cho
khách sạn một sản phẩm độc đáo riêng biệt mang tính cách riêng,đặc điểm riêng,hơng
vị riêng của từng khách sạn. Đó cũng là phơng thức dị biệt hoá sản phẩm mà không
khách sạn nào có thể bắt chớc đợc, từ đó góp phần tích cực vào sự tăng trởng cầu của
khách tại khách sạn.
Với chất lợng tốt và tính đa dạng,phong phú trong hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn
uống cũng sẽ quyết định đến uy tín và thứ hạng của khách sạn. Nói một cách khác,việc
kinh doanh dịch vụ ăn uống sẽ đóng vai trò quan trọng trong quá trình tuyên truyền
quảng cáo về thơng hiệu khách sạn với ngời tiêu dùng,với khách du lịch.
Việc kinh doanh dịch vụ ăn uống sẽ góp phần giảI quyết vấn đề công ăn việc làm
cho lực lợng lao động của khách sạn,làm tăng thêm thu nhập cho nhân viên. Kinh
doanh dịch vụ ăn uống trong khách sạn còn giúp cho việc tiêu thụ các sản phẩm nông
nghiệp (lơng thực,thực phẩm,rau quả),giúp cho ngành chế biến lơng thực,thực phẩm
của Việt Nam ngày càng phát triển.
Đặc điểm của bộ phận ăn uống khách sạn
7
F&B MANARGER
Tổ Trưởng Bar.
(Làm Hành Chính)
Giám Sát Bàn.
(Làm Hành Chính)
Bếp trưởng điều
hành
2 nhân viên
sáng.
(6h 15h)
2 nhân viên
chiều.
(14h3023h30)
Tổ trưởng
sáng.
( 6h 15h)
Tổ trưởng
chiều.
(14h3023h30)
Bếp trưởng
bếp Âu(làm
hành chính)
Bếp trưởng
bếp á( làm
hành chính)
2 nhân viên
sáng.
(từ 6h 15h)
2 nhân viên
chiều.
(14h3023h30)
Ba nhân viên
Chia 2 ca
Ba nhân viên
Chia 2 ca
- Việc phục vụ ăn uống trong khách sạn đòi hỏi chất lợng,tính mỹ thuật cao và
nghệ thuật nấu ăn pha chế đồ uống,trang trí món ăn,đồ uống phảI phù hợp với
từng loại thực đơn,từng loại khách.
- Dịch vụ ăn uống trong khách sạn còn có một đặc điểm rất quan trọng đó là tính
đa dạng của sản phẩm chẳng hạn nh : ăn á, ăn Âu,tiệc đứng,tiệc di động,tiệc
buffet.và các loại hình ăn uống nh tiệc đứng,tiệc ngồi,tiệc hội nghị Vì
vậy,nó đòi hỏi nhân viên phảI hiểu đợc sản phẩm để có thể phục vụ một cách tốt
nhất.
- Kinh doanh dịch vụ ăn uống trong khách sạn rất khó khăn và phức tạp bởi khách
đến nhà hàng thuộc mọi lới tuổi,mọi giới tính và nguồn gốc dân tộc khác nhau.
Do đó nhu cầu ăn uống cũng rất khác nhau.
- Dung lợng lao động rất lớn bởi khách phảI đợc phục vụ trực tiếp,không thể cơ
khí hoá đợc các động tác bán hàng,chế biến và phục vụ. Mặt khác,lao động ở bộ
phận này là lao động thủ công và cần có đội ngũ lao động đặc thù,có tay nghề
cao.
2> Cơ cấu tổ chức:
3> Các hình thức bồi dỡng và đào tạo đối với nhân viên tại bộ phận :
8
Đối với ngành khoa học kỹ thuật,máy móc có thể dần dần thay thế con ngời trong
quá trình làm việc. Nhng với ngành kinh doanh khách sạn thì cho đến nay vẫn đòi hỏi
sự phục vụ trực tiếp tận tình của đội ngũ nhân viên trong khách sạn. Vì vậy,sự thành
công hay thất bại của một khách sạn phần lớn là nhờ vào đội ngũ nhân viên phục vụ.
Có thể nói rằng đội ngũ nhân viên phục vụ là tài sản của khách sạn,là chìa khoá
thành công trong kinh doanh khách sạn,bởi họ là ngời thờng xuyên tiếp xúc với khách
hàng,là cầu nối giữa sản phẩm của khách sạn với khách hàng. Thông qua cách phục vụ
của nhân viên :sự nhiệt tình,chu đáo,ánh mắt,cử chỉ sẽ làm cho khách cảm thấy hài
lòng,khai thác tối đa khả năng thanh toán của khách,làm tăng doanh thu và lợi nhuận
cho khách sạn.
Vì ý nghĩa,vai trò to lớn của đội ngũ nhân viên phục vụ đối với khách sạn nói chung
và đối với bộ phận phục vụ ăn uống nói riêng nên yêu cầu đội ngũ nhân viên phục vụ
ăn uống phải đảm bảo :
- Có nghiệp vụ chuyên môn cao và khả năng ứng xử tốt.
- Hiểu biết xuất xứ của từng món ăn,đồ uống vì có khi khách tò mò muốn
hỏi,nhất là các khách du lịch phơng Tây.
- Hiểu biết về tâm lý khách hàng theo từng nền văn hoá,phong tục tập quán,từng
khẩu vị ăn uống,từng lứa tuổi.
- Hiểu biết về nghi lễ và giao tiếp.
Bên cạnh đó,khách sạn đã có một số hình thức bồi dỡng và đào tạo đối với nhân
viên tại bộ phận nh:
+ Cho nhân viên đi học các lớp bồi dỡng nghiệp vụ chuyên môn đối với nhân viên
mới,nghiệp vụ chuyên môn nâng cao đối với nhân viên đã làm lâu năm 1 năm từ 1 tới 2
lần
+ Tạo ra các khoá học ngắn hạn trong khách sạn :Luân chuyển các nhân viên,tổ tr-
ởng các bộ phận tự hớng dẫn đào tạo nhau thực tập tại các bộ phận khác trong khách
sạn (3 tháng1 lần) .Điều này giúp cho nhân viên có thể hiểu sâu hơn về quy trình hoạt
động của các bộ phận trong khách sạn. + Để đáp ứng đợc nhu cầu đòi hỏi của thời
đại,ở bất cứ ngành nghề nào cũng cần lao động có trình độ để phục vụ tốt cho cong
việc. Thế nên khách sạn đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ công nhân viên trong
khách sạn tiếp tục theo học các lớp đại học,trên đại học.
+ Bên cạnh đó,trình độ ngoại ngữ của cán bộ công nhân viên tơng đối hợp lý. Bởi lẽ
là một khách sạn quốc tế nên chủ yếu du khách đến với khách sạn là khách nớc ngoài
9
mà họ đến Việt Nam để du lịch hay với bất kỳ mục đích gì thì không phảI bất cứ ai
cũng nói đợc tiếng Việt.Vì vậy để đáp ứng đợc yêu cầu đó,nhân viên của khách sạn
đều có thể giao tiếp với khách bằng ngôn ngữ phổ thông của thế giới đó là tiếng Anh.
+ Song song với việc ổn định đội ngũ lao động ,khách sạn đã từng bớc giảI quyết
các vấn đề liên quan đến ngời lao động nh chế độ tiền lơng,BHXH,BHYT,theo dõi chế
độ nhà nớc xây dựng và triển khai các nội quy,quy chế làm việc trong khách sạn,tăng
cờng công tác giáo dục và hoàn thiện chế độ khen thởng,kỷ luật lao động.
+ Căn cứ vào tình hình lao động và kết quả thực tế hàng tháng,khách sạn đã kịp thời
thực hiện các chế độ bồi dỡng,nâng lơng cho cán bộ công nhân viên đã đến thời hạn
thực hiện đầy đủ chế độ BHXH,BHYT,cho ngời lao động theo quy định cuả nhà nớc.
4> Các hình thức khen thởng, khuyến khích,kỷ luật. Thái độ của nhân viên
đối với các hình thức đó,đánh giá hiệu quả của các hình thức
* Khen thởng :
Phòng nhân sự tổ chức các cuộc bình bầu,chọn nhân viên xuất sắc nhất theo định
kỳ 3 tháng 1 lần (bằng tiền hoặc hiện vật)
+ Tổ chức tiệc nhân viên định kỳ 1 năm 1 lần cho toàn thể nhân viên trong khách
sạn
+ Tổ chức các cuộc đi nghỉ dỡng hàng năm cho nhân viên.1 năm 1 lần
+ Đánh giá, xét thởng nâng lơng cho nhân viên 1 năm 1 lần ( loại A : 10 % Loại B :
5 % tổng số lơng, Loại C : 0 %)
* Kỷ luật :
Theo nội quy của khách sạn
+ Khiển trách bằng miệng
+ Cảnh cáo bằng văn bản không quá 2 lần
+ Sa thải
* Đánh giá hiệu quả các hình thức khen thởng và kỷ luật :
Do chế độ đãi ngộ đối với nhân viên của khách sạn tốt nên hầu hết nhân viên đều
không phàn nàn,và tuân thủ nội quy của khách sạn nghiêm chỉnh tuy nhiên cũng có
một vài trờng hợp cá biệt.
Nhng để nhân viên có thêm nhiệt huyết,hăng say trong công việc,lòng yêu nghề và
tơng thân tơng ái với các đồng nghiệp khác trong khách sạn thì Công Đoàn và Bộ phận
Nhân Sự nên quan tâm hơn nữa tới nhân viên. VD :
- Gây quỹ đóng góp từ nhân viên và từ khách sạn
10
- Quan tâm,chia sẻ tới những nhân viên có hoàn cảnh khó khăn,éo le động viên
giúp đỡ họ vựơt qua những khó khăn trong cuộc sống.
- Tổ chức sinh nhật cho nhân viên trong tháng.
5> Nhiệm vụ của bộ phận ăn uống tại khách sạn:
- Chịu trách nhiệm cung cấp các món ăn kịp thời cho nhà hàng,các bữa tiệc,hội
nghị,hội thảo theo yêu cầu của khách,đảm bảo bữa ăn đầy đủ cho nhân viên
trong khách sạn.
- Thực hiện chức năng tiêu thụ và bán hàng,đa ra thực đơn giới thiệu các món ăn
và thuyết phục khách tiêu dùng dịch vụ,nghiên cứu nhu cầu,sở thích ăn uống
của khách,quảng cáo khuếch trơng các dịch vụ ăn uống trong khách sạn.
- Bộ phận này còn có chức năng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để đảm bảo
uy tín,chất lợng của khách sạn và thoả mãn nhu cầu của khách về ăn uống.
6> Nhiệm vụ đợc phân công,quy trình thực hiện nhiệm vụ đợc hớng dẫn.
Những điểm khác biệt và tơng đồng so với lý thuyết học tại trờng.
- Công việc đợc phân công tại bộ phận ăn uống: phụ bếp
- Các công việc chính hàng ngày :
Bữa Sáng :
+ Hỗ trợ cho nhân viên phụ bếp sơ chế,chuân bị các nguyên vật liệu thực phẩm
hàng ngày cho khách hàng và cho nhân viên
+ Chuẩn bị một số đồ ăn nhẹ cơ bản truyền thống theo kiểu Âu hay á tuỳ vào đối t-
ợng khách lu trú tại khách sạn ngày hôm đó.
Bữa Tra :
+ Chuẩn bị đồ ăn cho khách khi khách có nhu cầu đặt ăn tra tại khách sạn.
+ Chuẩn bị bữa tra cho nhân viên tại khách sạn
Bữa tối :
+ Chuẩn bị đồ ăn cho khách khi khách có nhu cầu
+ Chuẩn bị bữa tối cho nhân viên tại khách sạn
- Các điểm khác biệt và tơng đồng :
+ Do kiến thức học trên nhà trờng đều áp dụng cho khách sạn 5 sao,áp dụng cho bộ
phận ăn uống lớn nên trong quá trình thực tập tại bộ phận ăn uống tại khách sạn đều rất
khác so với những gì đã đợc học ở trờng.
+ Kèm thêm cha có trình độ chuyên môn về lĩnh vực ẩm thực vậy nên gây cản trở
lớn cho quá trình thực tập tại bộ phận ăn uống.
11
+ Khách lu trú tại khách sạn hầu hết là khách du lịch nên nhu cầu ăn tra và ăn tối
của khách cũng rất ít. Chủ yếu là ăn sáng.
B) Bộ phận buồng.
1> Vị trí và đặc điểm của bộ phận buồng tại khách sạn Maison D Hanoi:
- Trong thực tế, vệ sinh buồng sạch sẽ có tính chất quyết định đến sự thoả mãn
nhu cầu của khách,tạo nên ấn tợng tốt lúc ban đầu.
- Bộ phận phục vụ buồng có trách nhiệm vệ sinh sạch sẽ phòng trớc khi nhận
khách.
- Tìm hiểu nhu cầu tâm lý của khách trong thời gian khách lu trú để rút ra phơng
pháp phục vụ hợp lý.
- Tuyên truyền,quảng cáo cho khách sạn bằng chính hành động,lời nói,phong
cách phục vụ của nhân viên buồng.
- Tạo mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác nhằm phối hợp phục vụ khách
kịp thời.
- Muốn làm tốt công việc của tổ buồng thì phải hiểu và nắm đợc trình tự,quy trình
của nghiệp vụ buồng. Đồng thời khi thực hiện phảI đúng thao tác,nhanh
nhẹn,chính xác để giải quyết công việc một cách nhanh chóng.
2> Cơ cấu tổ chức :
3> Các hình thức bồi dỡng và đào tạo đối với nhân viên bộ phận buồng :
ở nớc ta hiện nay ngành du lịch là một ngành đang phát triển. Vì vậy,hoạt
động kinh doanh du lịch khách sạn đòi hỏi phảI có nhiều bộ phận để đáp ứng mọi nhu
cầu về các nhu cầu ăn uống,vui chơI giảI trí,đặc biệt là bộ phận buồng ngủ chiếm
khoảng 50%-70% cho thấy đây là bộ phận kiếm doanh thu lớn nhất của khách sạn.
12
Trng b phn bung
3 nhân viên
ca sáng
3 nhân viên
ca chiều
2 nhân viên
trực đêm
Trong thực tế,vệ sinh buồng sạch sẽ có tính chất quyết định đến sự thoả mãn nhu cầu
của khách,tạo nên ấn tợng tốt lúc ban đầu,nên việc cố gắng của nhân viên buồng nhằm
cung cấp cho khách buồng ngủ theo ý muốn là ấn tợng trực tiếp đối với khách,vì khách
là một hình thức quảng cáo sống,đem lại hiệu quả cao và không tốn kém nhất. Khi
trình độ nghiệp vụ chuyên môn mà tốt,phục vụ khách hài lòng thì họ sẽ kể cho bạn
bè,và những ngời quen biết rằng cái khách sạn đó tốt,giá rẻ nhng chất lợng phục vụ thì
không thể chê vào đâu đợc,thì những ngời đợc nghe kể khi có nhu cầu về nghỉ dỡng sẽ
thử xem khách sạn đó có thật sự tốt nh bạn mình nói không và cứ thế số lợng khách
đến khách sạn sẽ đông hơn ,đem lại một khoản doanh thu lớn cho khách sạn. Hiểu đợc
tầm quan trọng của bộ phận buồng nên khách sạn đã có nhiều hình thức bồi dỡng và
đào tạo đối với nhân viên bộ phận buồng nh :
+ Cho nhân viên đi học các lớp bồi dỡng nghiệp vụ chuyên môn đối với nhân
viên mới,nghiệp vụ chuyên môn nâng cao đối với nhân viên đã làm lâu năm 1 năm từ 1
tới 2 lần
+ Tạo ra các khoá học ngắn hạn trong khách san :Luân chuyển các nhân viên,tổ
trởng các bộ phận tự hớng dẫn đào tạo nhau thực tập tại các bộ phận khác trong khách
sạn (3 tháng1 lần) .Điều này giúp cho nhân viên có thể hiểu sâu hơn về quy trình hoạt
động của các bộ phận trong khách sạn. + Để đáp ứng đợc nhu cầu đòi hỏi của thời
đại,ở bất cứ ngành nghề nào cũng cần lao động có trình độ để phục vụ tốt cho công
việc. Thế nên khách sạn đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ công nhân viên trong
khách sạn tiếp tục theo học các lớp đại học,trên đại học.
+ Bên cạnh đó,trình độ ngoại ngữ của cán bộ công nhân viên tơng đối hợp lý. Bởi
lẽ là một khách sạn quốc tế nên chủ yếu du khách đến với khách sạn là khách nớc
ngoài mà họ đến Việt Nam để du lịch hay với bất kỳ mục đích gì thì không phảI bất cứ
ai cũng nói đợc tiếng Việt.Vì vậy để đáp ứng đợc yêu cầu đó,nhân viên của khách sạn
đều có thể giao tiếp với khách bằng ngôn ngữ phổ thông của thế giới đó là tiếng Anh.
+ Song song với việc ổn định đội ngũ lao động ,khách sạn đã từng bớc giảI quyết
các vấn đề liên quan đến ngời lao động nh chế độ tiền lơng,BHXH,BHYT,theo dõi chế
độ nhà nớc xây dựng và triển khai các nội quy,quy chế làm việc trong khách sạn,tăng
cờng công tác giáo dục và hoàn thiện chế độ khen thởng,kỷ luật lao động.
+ Căn cứ vào tình hình lao động và kết quả thực tế hàng tháng,khách sạn đã kịp
thời thực hiện các chế độ bồi dỡng,nâng lơng cho cán bộ công nhân viên đã đến thời
13
hạn thực hiện đầy đủ chế độ BHXH,BHYT,cho ngời lao động theo quy định cuả nhà n-
ớc.
4>Các hình thức khen thởng,khuyến khích,kỷ luật. Thái độ của nhân viên đối
với các hình thức đó,đánh giá hiệu quả của các hình thức đó.
`* Khen thởng :
Phòng nhân sự tổ chức các cuộc bình bầu,chọn nhân viên xuất sắc nhất theo định
kỳ 3 tháng 1 lần (bằng tiền hoặc hiện vật)
+ Tổ chức tiệc nhân viên định kỳ 1 năm 1 lần cho toàn thể nhân viên trong khách
sạn
+ Tổ chức các cuộc đi nghỉ dỡng hàng năm cho nhân viên.1 năm 1 lần
+ Đánh giá, xét thởng nâng lơng cho nhân viên 1 năm 1 lần ( loại A : 10 % Loại B :
5 % tổng số lơng, Loại C : 0 %)
* Kỷ luật :
Theo nội quy của khách sạn
+ Khiển trách bằng miệng
+ Cảnh cáo bằng văn bản không quá 2 lần
+ Sa thải
* Đánh giá hiệu quả các hình thức khen thởng và kỷ luật :
Do chế độ đãi ngộ đối với nhân viên của khách sạn tốt nên hầu hết nhân viên đều
không phàn nàn,và tuân thủ nội quy của khách sạn nghiêm chỉnh tuy nhiên cũng có
một vài trờng hợp cá biệt.
Nhng để nhân viên có thêm nhiệt huyết,hăng say trong công việc,lòng yêu nghề và
tơng thân tơng ái với các đồng nghiệp khác trong khách sạn thì Công Đoàn và Bộ
phận Nhân Sự nên quan tâm hơn nữa tới nhân viên. VD :
- Gây quỹ đóng góp từ nhân viên và từ khách sạn
- Quan tâm,chia sẻ tới những nhân viên có hoàn cảnh khó khăn,éo le động viên
giúp đỡ họ vựơt qua những khó khăn trong cuộc sống.
- Tổ chức sinh nhật cho nhân viên trong tháng.
5> Nhiệm vụ của bộ phận buồng trong khách sạn :
- Bộ phận phục vụ buồng có nhiệm vụ vệ sinh sạch sẽ phòng trớc khi nhận
khách.
- Tìm hiểu nhu cầu tâm lý của khách trong thời gian khách lu trú để rút ra ph-
ơng pháp phục vụ hợp lý.
14
- Đa đón sân bay.
Sản phẩm của khách sạn ngoài sản phẩm vật chất nh ăn uống,lu niệm còn có các dịch
vụ bổ sung khác nh : điện thoại,thể hình,truy cập internet,fax,
3> Hệ thống tổ chức và điều hành của khách sạn :
Khách sạn Maison DHanoi kinh doanh lu trú là chủ yếu nên bộ máy tổ chức của
khách sạn đợc sắp xếp theo kiểu trực tuyến tham mu.
4>Thị trờng hoạt động của khách sạn :
- - Khách sạn phục vụ khách quốc tế và trong nớc. Chủ yếu phục vụ khách nớc ngoài
với lợng khách đa phần đến từ Mỹ và các nớc Châu Âu.
5>Bộ phận sinh viên đợc thực tập :
+ Bộ phận ăn uống
+ Bộ phận lễ tân
+ Bộ phận buồng
+ Bộ phận Marketing
5
Giám Đốc.
Phó Giám Đốc.
Tổ kế
toán
tài vụ.
Tổ
tiếp
tân.
Tổ
buồng.
Tổ chức
nhân
sự.
Hành
chính
nhân sự.
Khối ăn
& uống .
Tổ kỹ
thuật bảo
trì.
Tổ bếp. Tổ bàn. Bar
**********************************
6
Phần II : Tình hình hoạt động của bộ phận ăn uống
,lễ tân ,buồng và bàn tại khách sạn.
A) Bộ phận ăn uống.
1> Vị trí và chức năng của bộ phận ăn uống tại khách sạn
Vị trí của bộ phận ăn uống tại khách sạn :
Hoạt động kinh doanh ăn uống đóng vai trò không thể thiếu trong kinh doanh
khách sạn. Hoạt động đó bao gồm việc sản xuất,bán và phục vụ ăn uống cho du khách
với mục đích là kiếm lợi nhuận. Bộ phận ăn uống là một trong những bộ phận lớn,và
cũng là bộ phận quan trọng trong khách sạn vì dịch vụ này nhằm mục đích thoả mãn
nhu cầu thiết yếu của khách khi họ lu trú tại khách sạn, cũng nh phục vụ khách vãng
lai.
Dịch vụ ăn uống không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất mà còn đáp ứng nhu cầu văn
hoá và tinh thần của khách. Nếu hoạt động kinh doanh khách sạn thiếu dịch vụ ăn uống
thì sẽ thiếu đI tính đồng bộ và không đạt đợc hiệu quả kinh doanh vì không khai thác
triệt để khả năng thanh toán của khách.
Trong kinh doanh khách sạn,việc kinh doanh dịch vụ ăn uống có thể tạo ra cho
khách sạn một sản phẩm độc đáo riêng biệt mang tính cách riêng,đặc điểm riêng,hơng
vị riêng của từng khách sạn. Đó cũng là phơng thức dị biệt hoá sản phẩm mà không
khách sạn nào có thể bắt chớc đợc, từ đó góp phần tích cực vào sự tăng trởng cầu của
khách tại khách sạn.
Với chất lợng tốt và tính đa dạng,phong phú trong hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn
uống cũng sẽ quyết định đến uy tín và thứ hạng của khách sạn. Nói một cách khác,việc
kinh doanh dịch vụ ăn uống sẽ đóng vai trò quan trọng trong quá trình tuyên truyền
quảng cáo về thơng hiệu khách sạn với ngời tiêu dùng,với khách du lịch.
Việc kinh doanh dịch vụ ăn uống sẽ góp phần giảI quyết vấn đề công ăn việc làm
cho lực lợng lao động của khách sạn,làm tăng thêm thu nhập cho nhân viên. Kinh
doanh dịch vụ ăn uống trong khách sạn còn giúp cho việc tiêu thụ các sản phẩm nông
nghiệp (lơng thực,thực phẩm,rau quả),giúp cho ngành chế biến lơng thực,thực phẩm
của Việt Nam ngày càng phát triển.
Đặc điểm của bộ phận ăn uống khách sạn
7
F&B MANARGER
Tổ Trưởng Bar.
(Làm Hành Chính)
Giám Sát Bàn.
(Làm Hành Chính)
Bếp trưởng điều
hành
2 nhân viên
sáng.
(6h 15h)
2 nhân viên
chiều.
(14h3023h30)
Tổ trưởng
sáng.
( 6h 15h)
Tổ trưởng
chiều.
(14h3023h30)
Bếp trưởng
bếp Âu(làm
hành chính)
Bếp trưởng
bếp á( làm
hành chính)
2 nhân viên
sáng.
(từ 6h 15h)
2 nhân viên
chiều.
(14h3023h30)
Ba nhân viên
Chia 2 ca
Ba nhân viên
Chia 2 ca
- Việc phục vụ ăn uống trong khách sạn đòi hỏi chất lợng,tính mỹ thuật cao và
nghệ thuật nấu ăn pha chế đồ uống,trang trí món ăn,đồ uống phảI phù hợp với
từng loại thực đơn,từng loại khách.
- Dịch vụ ăn uống trong khách sạn còn có một đặc điểm rất quan trọng đó là tính
đa dạng của sản phẩm chẳng hạn nh : ăn á, ăn Âu,tiệc đứng,tiệc di động,tiệc
buffet.và các loại hình ăn uống nh tiệc đứng,tiệc ngồi,tiệc hội nghị Vì
vậy,nó đòi hỏi nhân viên phảI hiểu đợc sản phẩm để có thể phục vụ một cách tốt
nhất.
- Kinh doanh dịch vụ ăn uống trong khách sạn rất khó khăn và phức tạp bởi khách
đến nhà hàng thuộc mọi lới tuổi,mọi giới tính và nguồn gốc dân tộc khác nhau.
Do đó nhu cầu ăn uống cũng rất khác nhau.
- Dung lợng lao động rất lớn bởi khách phảI đợc phục vụ trực tiếp,không thể cơ
khí hoá đợc các động tác bán hàng,chế biến và phục vụ. Mặt khác,lao động ở bộ
phận này là lao động thủ công và cần có đội ngũ lao động đặc thù,có tay nghề
cao.
2> Cơ cấu tổ chức:
3> Các hình thức bồi dỡng và đào tạo đối với nhân viên tại bộ phận :
8
Đối với ngành khoa học kỹ thuật,máy móc có thể dần dần thay thế con ngời trong
quá trình làm việc. Nhng với ngành kinh doanh khách sạn thì cho đến nay vẫn đòi hỏi
sự phục vụ trực tiếp tận tình của đội ngũ nhân viên trong khách sạn. Vì vậy,sự thành
công hay thất bại của một khách sạn phần lớn là nhờ vào đội ngũ nhân viên phục vụ.
Có thể nói rằng đội ngũ nhân viên phục vụ là tài sản của khách sạn,là chìa khoá
thành công trong kinh doanh khách sạn,bởi họ là ngời thờng xuyên tiếp xúc với khách
hàng,là cầu nối giữa sản phẩm của khách sạn với khách hàng. Thông qua cách phục vụ
của nhân viên :sự nhiệt tình,chu đáo,ánh mắt,cử chỉ sẽ làm cho khách cảm thấy hài
lòng,khai thác tối đa khả năng thanh toán của khách,làm tăng doanh thu và lợi nhuận
cho khách sạn.
Vì ý nghĩa,vai trò to lớn của đội ngũ nhân viên phục vụ đối với khách sạn nói chung
và đối với bộ phận phục vụ ăn uống nói riêng nên yêu cầu đội ngũ nhân viên phục vụ
ăn uống phải đảm bảo :
- Có nghiệp vụ chuyên môn cao và khả năng ứng xử tốt.
- Hiểu biết xuất xứ của từng món ăn,đồ uống vì có khi khách tò mò muốn
hỏi,nhất là các khách du lịch phơng Tây.
- Hiểu biết về tâm lý khách hàng theo từng nền văn hoá,phong tục tập quán,từng
khẩu vị ăn uống,từng lứa tuổi.
- Hiểu biết về nghi lễ và giao tiếp.
Bên cạnh đó,khách sạn đã có một số hình thức bồi dỡng và đào tạo đối với nhân
viên tại bộ phận nh:
+ Cho nhân viên đi học các lớp bồi dỡng nghiệp vụ chuyên môn đối với nhân viên
mới,nghiệp vụ chuyên môn nâng cao đối với nhân viên đã làm lâu năm 1 năm từ 1 tới 2
lần
+ Tạo ra các khoá học ngắn hạn trong khách sạn :Luân chuyển các nhân viên,tổ tr-
ởng các bộ phận tự hớng dẫn đào tạo nhau thực tập tại các bộ phận khác trong khách
sạn (3 tháng1 lần) .Điều này giúp cho nhân viên có thể hiểu sâu hơn về quy trình hoạt
động của các bộ phận trong khách sạn. + Để đáp ứng đợc nhu cầu đòi hỏi của thời
đại,ở bất cứ ngành nghề nào cũng cần lao động có trình độ để phục vụ tốt cho cong
việc. Thế nên khách sạn đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ công nhân viên trong
khách sạn tiếp tục theo học các lớp đại học,trên đại học.
+ Bên cạnh đó,trình độ ngoại ngữ của cán bộ công nhân viên tơng đối hợp lý. Bởi lẽ
là một khách sạn quốc tế nên chủ yếu du khách đến với khách sạn là khách nớc ngoài
9
mà họ đến Việt Nam để du lịch hay với bất kỳ mục đích gì thì không phảI bất cứ ai
cũng nói đợc tiếng Việt.Vì vậy để đáp ứng đợc yêu cầu đó,nhân viên của khách sạn
đều có thể giao tiếp với khách bằng ngôn ngữ phổ thông của thế giới đó là tiếng Anh.
+ Song song với việc ổn định đội ngũ lao động ,khách sạn đã từng bớc giảI quyết
các vấn đề liên quan đến ngời lao động nh chế độ tiền lơng,BHXH,BHYT,theo dõi chế
độ nhà nớc xây dựng và triển khai các nội quy,quy chế làm việc trong khách sạn,tăng
cờng công tác giáo dục và hoàn thiện chế độ khen thởng,kỷ luật lao động.
+ Căn cứ vào tình hình lao động và kết quả thực tế hàng tháng,khách sạn đã kịp thời
thực hiện các chế độ bồi dỡng,nâng lơng cho cán bộ công nhân viên đã đến thời hạn
thực hiện đầy đủ chế độ BHXH,BHYT,cho ngời lao động theo quy định cuả nhà nớc.
4> Các hình thức khen thởng, khuyến khích,kỷ luật. Thái độ của nhân viên
đối với các hình thức đó,đánh giá hiệu quả của các hình thức
* Khen thởng :
Phòng nhân sự tổ chức các cuộc bình bầu,chọn nhân viên xuất sắc nhất theo định
kỳ 3 tháng 1 lần (bằng tiền hoặc hiện vật)
+ Tổ chức tiệc nhân viên định kỳ 1 năm 1 lần cho toàn thể nhân viên trong khách
sạn
+ Tổ chức các cuộc đi nghỉ dỡng hàng năm cho nhân viên.1 năm 1 lần
+ Đánh giá, xét thởng nâng lơng cho nhân viên 1 năm 1 lần ( loại A : 10 % Loại B :
5 % tổng số lơng, Loại C : 0 %)
* Kỷ luật :
Theo nội quy của khách sạn
+ Khiển trách bằng miệng
+ Cảnh cáo bằng văn bản không quá 2 lần
+ Sa thải
* Đánh giá hiệu quả các hình thức khen thởng và kỷ luật :
Do chế độ đãi ngộ đối với nhân viên của khách sạn tốt nên hầu hết nhân viên đều
không phàn nàn,và tuân thủ nội quy của khách sạn nghiêm chỉnh tuy nhiên cũng có
một vài trờng hợp cá biệt.
Nhng để nhân viên có thêm nhiệt huyết,hăng say trong công việc,lòng yêu nghề và
tơng thân tơng ái với các đồng nghiệp khác trong khách sạn thì Công Đoàn và Bộ phận
Nhân Sự nên quan tâm hơn nữa tới nhân viên. VD :
- Gây quỹ đóng góp từ nhân viên và từ khách sạn
10
- Quan tâm,chia sẻ tới những nhân viên có hoàn cảnh khó khăn,éo le động viên
giúp đỡ họ vựơt qua những khó khăn trong cuộc sống.
- Tổ chức sinh nhật cho nhân viên trong tháng.
5> Nhiệm vụ của bộ phận ăn uống tại khách sạn:
- Chịu trách nhiệm cung cấp các món ăn kịp thời cho nhà hàng,các bữa tiệc,hội
nghị,hội thảo theo yêu cầu của khách,đảm bảo bữa ăn đầy đủ cho nhân viên
trong khách sạn.
- Thực hiện chức năng tiêu thụ và bán hàng,đa ra thực đơn giới thiệu các món ăn
và thuyết phục khách tiêu dùng dịch vụ,nghiên cứu nhu cầu,sở thích ăn uống
của khách,quảng cáo khuếch trơng các dịch vụ ăn uống trong khách sạn.
- Bộ phận này còn có chức năng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để đảm bảo
uy tín,chất lợng của khách sạn và thoả mãn nhu cầu của khách về ăn uống.
6> Nhiệm vụ đợc phân công,quy trình thực hiện nhiệm vụ đợc hớng dẫn.
Những điểm khác biệt và tơng đồng so với lý thuyết học tại trờng.
- Công việc đợc phân công tại bộ phận ăn uống: phụ bếp
- Các công việc chính hàng ngày :
Bữa Sáng :
+ Hỗ trợ cho nhân viên phụ bếp sơ chế,chuân bị các nguyên vật liệu thực phẩm
hàng ngày cho khách hàng và cho nhân viên
+ Chuẩn bị một số đồ ăn nhẹ cơ bản truyền thống theo kiểu Âu hay á tuỳ vào đối t-
ợng khách lu trú tại khách sạn ngày hôm đó.
Bữa Tra :
+ Chuẩn bị đồ ăn cho khách khi khách có nhu cầu đặt ăn tra tại khách sạn.
+ Chuẩn bị bữa tra cho nhân viên tại khách sạn
Bữa tối :
+ Chuẩn bị đồ ăn cho khách khi khách có nhu cầu
+ Chuẩn bị bữa tối cho nhân viên tại khách sạn
- Các điểm khác biệt và tơng đồng :
+ Do kiến thức học trên nhà trờng đều áp dụng cho khách sạn 5 sao,áp dụng cho bộ
phận ăn uống lớn nên trong quá trình thực tập tại bộ phận ăn uống tại khách sạn đều rất
khác so với những gì đã đợc học ở trờng.
+ Kèm thêm cha có trình độ chuyên môn về lĩnh vực ẩm thực vậy nên gây cản trở
lớn cho quá trình thực tập tại bộ phận ăn uống.
11
+ Khách lu trú tại khách sạn hầu hết là khách du lịch nên nhu cầu ăn tra và ăn tối
của khách cũng rất ít. Chủ yếu là ăn sáng.
B) Bộ phận buồng.
1> Vị trí và đặc điểm của bộ phận buồng tại khách sạn Maison D Hanoi:
- Trong thực tế, vệ sinh buồng sạch sẽ có tính chất quyết định đến sự thoả mãn
nhu cầu của khách,tạo nên ấn tợng tốt lúc ban đầu.
- Bộ phận phục vụ buồng có trách nhiệm vệ sinh sạch sẽ phòng trớc khi nhận
khách.
- Tìm hiểu nhu cầu tâm lý của khách trong thời gian khách lu trú để rút ra phơng
pháp phục vụ hợp lý.
- Tuyên truyền,quảng cáo cho khách sạn bằng chính hành động,lời nói,phong
cách phục vụ của nhân viên buồng.
- Tạo mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác nhằm phối hợp phục vụ khách
kịp thời.
- Muốn làm tốt công việc của tổ buồng thì phải hiểu và nắm đợc trình tự,quy trình
của nghiệp vụ buồng. Đồng thời khi thực hiện phảI đúng thao tác,nhanh
nhẹn,chính xác để giải quyết công việc một cách nhanh chóng.
2> Cơ cấu tổ chức :
3> Các hình thức bồi dỡng và đào tạo đối với nhân viên bộ phận buồng :
ở nớc ta hiện nay ngành du lịch là một ngành đang phát triển. Vì vậy,hoạt
động kinh doanh du lịch khách sạn đòi hỏi phảI có nhiều bộ phận để đáp ứng mọi nhu
cầu về các nhu cầu ăn uống,vui chơI giảI trí,đặc biệt là bộ phận buồng ngủ chiếm
khoảng 50%-70% cho thấy đây là bộ phận kiếm doanh thu lớn nhất của khách sạn.
12
Trng b phn bung
3 nhân viên
ca sáng
3 nhân viên
ca chiều
2 nhân viên
trực đêm
Trong thực tế,vệ sinh buồng sạch sẽ có tính chất quyết định đến sự thoả mãn nhu cầu
của khách,tạo nên ấn tợng tốt lúc ban đầu,nên việc cố gắng của nhân viên buồng nhằm
cung cấp cho khách buồng ngủ theo ý muốn là ấn tợng trực tiếp đối với khách,vì khách
là một hình thức quảng cáo sống,đem lại hiệu quả cao và không tốn kém nhất. Khi
trình độ nghiệp vụ chuyên môn mà tốt,phục vụ khách hài lòng thì họ sẽ kể cho bạn
bè,và những ngời quen biết rằng cái khách sạn đó tốt,giá rẻ nhng chất lợng phục vụ thì
không thể chê vào đâu đợc,thì những ngời đợc nghe kể khi có nhu cầu về nghỉ dỡng sẽ
thử xem khách sạn đó có thật sự tốt nh bạn mình nói không và cứ thế số lợng khách
đến khách sạn sẽ đông hơn ,đem lại một khoản doanh thu lớn cho khách sạn. Hiểu đợc
tầm quan trọng của bộ phận buồng nên khách sạn đã có nhiều hình thức bồi dỡng và
đào tạo đối với nhân viên bộ phận buồng nh :
+ Cho nhân viên đi học các lớp bồi dỡng nghiệp vụ chuyên môn đối với nhân
viên mới,nghiệp vụ chuyên môn nâng cao đối với nhân viên đã làm lâu năm 1 năm từ 1
tới 2 lần
+ Tạo ra các khoá học ngắn hạn trong khách san :Luân chuyển các nhân viên,tổ
trởng các bộ phận tự hớng dẫn đào tạo nhau thực tập tại các bộ phận khác trong khách
sạn (3 tháng1 lần) .Điều này giúp cho nhân viên có thể hiểu sâu hơn về quy trình hoạt
động của các bộ phận trong khách sạn. + Để đáp ứng đợc nhu cầu đòi hỏi của thời
đại,ở bất cứ ngành nghề nào cũng cần lao động có trình độ để phục vụ tốt cho công
việc. Thế nên khách sạn đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ công nhân viên trong
khách sạn tiếp tục theo học các lớp đại học,trên đại học.
+ Bên cạnh đó,trình độ ngoại ngữ của cán bộ công nhân viên tơng đối hợp lý. Bởi
lẽ là một khách sạn quốc tế nên chủ yếu du khách đến với khách sạn là khách nớc
ngoài mà họ đến Việt Nam để du lịch hay với bất kỳ mục đích gì thì không phảI bất cứ
ai cũng nói đợc tiếng Việt.Vì vậy để đáp ứng đợc yêu cầu đó,nhân viên của khách sạn
đều có thể giao tiếp với khách bằng ngôn ngữ phổ thông của thế giới đó là tiếng Anh.
+ Song song với việc ổn định đội ngũ lao động ,khách sạn đã từng bớc giảI quyết
các vấn đề liên quan đến ngời lao động nh chế độ tiền lơng,BHXH,BHYT,theo dõi chế
độ nhà nớc xây dựng và triển khai các nội quy,quy chế làm việc trong khách sạn,tăng
cờng công tác giáo dục và hoàn thiện chế độ khen thởng,kỷ luật lao động.
+ Căn cứ vào tình hình lao động và kết quả thực tế hàng tháng,khách sạn đã kịp
thời thực hiện các chế độ bồi dỡng,nâng lơng cho cán bộ công nhân viên đã đến thời
13
hạn thực hiện đầy đủ chế độ BHXH,BHYT,cho ngời lao động theo quy định cuả nhà n-
ớc.
4>Các hình thức khen thởng,khuyến khích,kỷ luật. Thái độ của nhân viên đối
với các hình thức đó,đánh giá hiệu quả của các hình thức đó.
`* Khen thởng :
Phòng nhân sự tổ chức các cuộc bình bầu,chọn nhân viên xuất sắc nhất theo định
kỳ 3 tháng 1 lần (bằng tiền hoặc hiện vật)
+ Tổ chức tiệc nhân viên định kỳ 1 năm 1 lần cho toàn thể nhân viên trong khách
sạn
+ Tổ chức các cuộc đi nghỉ dỡng hàng năm cho nhân viên.1 năm 1 lần
+ Đánh giá, xét thởng nâng lơng cho nhân viên 1 năm 1 lần ( loại A : 10 % Loại B :
5 % tổng số lơng, Loại C : 0 %)
* Kỷ luật :
Theo nội quy của khách sạn
+ Khiển trách bằng miệng
+ Cảnh cáo bằng văn bản không quá 2 lần
+ Sa thải
* Đánh giá hiệu quả các hình thức khen thởng và kỷ luật :
Do chế độ đãi ngộ đối với nhân viên của khách sạn tốt nên hầu hết nhân viên đều
không phàn nàn,và tuân thủ nội quy của khách sạn nghiêm chỉnh tuy nhiên cũng có
một vài trờng hợp cá biệt.
Nhng để nhân viên có thêm nhiệt huyết,hăng say trong công việc,lòng yêu nghề và
tơng thân tơng ái với các đồng nghiệp khác trong khách sạn thì Công Đoàn và Bộ
phận Nhân Sự nên quan tâm hơn nữa tới nhân viên. VD :
- Gây quỹ đóng góp từ nhân viên và từ khách sạn
- Quan tâm,chia sẻ tới những nhân viên có hoàn cảnh khó khăn,éo le động viên
giúp đỡ họ vựơt qua những khó khăn trong cuộc sống.
- Tổ chức sinh nhật cho nhân viên trong tháng.
5> Nhiệm vụ của bộ phận buồng trong khách sạn :
- Bộ phận phục vụ buồng có nhiệm vụ vệ sinh sạch sẽ phòng trớc khi nhận
khách.
- Tìm hiểu nhu cầu tâm lý của khách trong thời gian khách lu trú để rút ra ph-
ơng pháp phục vụ hợp lý.
14
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu VIstand
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
CHƯƠNG VI
HỆ THỐNG PHỤC HỒI
(Recovery system)
MỤC ĐÍCH
Một hệ thống máy tính, cũng giống như các thiết bị cơ - điện khác, luôn có nguy cơ bị
hỏng hóc do nhiều nguyên nhân hư đĩa, mất nguồn, lỗi phần mềm v v Điều này dẫn đến hậu
quả là sự mất thông tin. Vì vậy, hệ quản trị cơ sở dữ liệu phải có các cơ chế đáp ứng lại nguy cơ
hệ thống bị hỏng hóc, nhằm đảm bảo tính nguyên tử và tính lâu bền của các giao dịch. Chương
này trình bày các nguyên lý của một hệ thống phục hồi nhằm khôi phục CSDL đến một trạng thái
nhất quán trước khi xảy ra sự cố.
YÊU CẦU
Hiểu rõ các sự cố có thể xảy ra trong đời sống của một cơ sở dữ liệu, các nguyên nhân của
sự không nhất quán dữ liệu.
Hiểu các kỹ thuật phục hồi, các ưu nhược điểm của mỗi kỹ thuật.
118
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
PHÂN LỚP HỎNG HÓC:
Có nhiều kiểu hỏng hóc có thể xảy đến với hệ thống, mỗi một trong chúng cần được ứng
xử một cách riêng biệt. Trong chương này ta chỉ xét các kiểu hỏng hóc sau:
• Hỏng hóc trong giao dịch: Có hai loại lỗi làm cho giao dịch bị hỏng hóc:
1. Lỗi luận lý: Giao dịch không thể tiếp tục thực hiện bình thường được nữa do một số
điều kiện bên trong không được thoả. ví dụ như: dữ liệu đầu vào không đúng, không tìm
thấy dữ liệu, trào dữ liệu hoặc do việc sử dụng tài nguyên vượt hạn định.
2. Lỗi hệ thống: Hệ thống rơi vào trạng thái không mong muốn ví dụ như trạng thái
deadlock.
• Hệ thống bị hư hỏng: Có một phần cứng sai chức năng hoặc có một sai sót trong phần
mềm cơ sở dữ liệu hay hệ điều hành.
• Đĩa bị hư hỏng: Một khối đĩa bị mất nội dung.
Để hệ thống có thể đề ra được chiến lược phục hồi lỗi phù hợp, trước tiên cần phải xác
định các loại hỏng hóc trên các thiết bị lưu trữ dữ liệu. Sau đó, cần xác định những hỏng hóc này
ảnh hưởng như thế nào đến nội dung cơ sở dữ liệu. Nhiệm vụ quan trọng sau cùng là đề ra các
giải pháp nhằm đảm bảo tính nhất quán của cơ sở dữ liệu và tính nguyên tử của giao dịch mỗi khi
hỏng hóc đã phát sinh. Các giải pháp này thường được gọi là các giải thuật phục hồi ( recovery
algorithms ).
Các giải thuật phục hồi gồm có hai phần:
1. Các hành động được thực hiện trong suốt quá trình hoạt động bình thường của giao
dịch nhằm đảm bảo có đầy đủ thông tin cho việc phục hồi sau này.
2. Các hành động được thực hiện sau khi lỗi phát sinh. Nhằm khôi phục nội dung của cơ
sở dữ liệu trở về một trạng thái trước đó, và trạng thái này thoã mãn được các yêu cầu
về tính nhất quán của cơ sở dữ liệu, tính bền và tính nguyên tử của giao dịch .
CẤU TRÚC LƯU TRỮ:
Như đã xét trong chương II, các hạng mục dữ liệu khác nhau của cơ sở dữ liệu có thể được
lưu trên nhiều phương tiện lưu trữ khác nhau. Để nắm được cách thức đảm bảo tính nguyên tử và
tính lâu bền của một giao dịch, cần phải có cái nhìn sâu hơn về các loại thiết bị lưu trữ dữ liệu và
cách thức truy xuất chúng.
CÁC LOẠI LƯU TRỮ:
• Lưu trữ không ổn định ( volatile storage ): Thông tin lưu trong thiết bị lưu trữ không ổn
định sẽ bị mất khi hệ thống bị hỏng hóc. Ví dụ của thiết bị lưu trữ không ổn định là: bộ
nhớ chính, bộ nhớ cache. Sự truy cập đến các thiết bị lưu trữ không ổn định là cực nhanh.
Lý do: một là: do tính chất của bộ nhớ cho phép như vậy; hai là: có thể truy xuất trực tiếp
các hạng mục dữ liệu chứa trong nó.
• Lưu trữ ổn định ( nonvolatile storage ): Thông tin lưu trữ trong thiết bị lưu trữ ổn định
thường không bị mất khi hệ thống bị sự cố. Tuy nhiên, nguy cơ bản thân thiết bị lưu trữ ổn
định bị hỏng vẫn có thể xảy ra. Ví dụ của thiết bị lưu trữ ổn định là: đĩa từ và băng từ.
Trong hầu hết các hệ cơ sở dữ liệu, thiết bị lưu trữ ổn định thường được dùng là đĩa từ.
Các loại thiết bị lưu trữ ổn định khác được dùng để lưu trữ phòng hờ ( back up ) dữ liệu.
119
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
• Lưu trữ bền ( stable storage ): Theo lý thuyết thì thông tin chứa trong thiết bị lưu trữ bền
không bao giờ bị mất khi hệ thống bị hư hỏng. Tuy nhiên, trong thực tế, ta khó lòng tạo ra
được một thiết bị đạt được tính chất lý tưởng như vậy. Chỉ có giải pháp tăng cường độ bền
mà thôi.
THỰC THI LƯU TRỮ BỀN:
Tiêu chí để thực hiện việc lưu trữ bền là nhân bản thông tin cần thiết trong một vài phương
tiện lưu trữ ổn địng khác nhau với các phương thức hỏng hóc độc lập và cập nhật các phiên bản
thông tin này một cách có tổ chức, sao cho dù có lỗi xuất hiện trong quá trình chuyển dữ liệu,
thông tin vẫn không bị hư hại.
• Các hệ thống RAID đảm bảo rằng việc hỏng hóc của một đĩa không gây sự mất dữ liệu.
Dạng thức đơn giản và nhanh nhất của RAID là dùng đĩa gương ( mirrored
disk ). Các dạng thức khác giúp tiết kiệm chi phí, nhưng cái giá phải trả là thời gian đọc
ghi chậm hơn.
• Tuy nhiên các hệ thống RAID vẫn không đảm bảo được tính an toàn dữ liệu khi gặp phải
tai họa như: cháy nổ, lụt lội. Người ta đề nghị một hệ thống lưu trữ mới an toàn hơn hoạt
động theo nguyên tắc sau: Sao lưu dữ liệu sang một vài vị trí địa lý khác nhau thông qua
mạng máy tính.
Sau đây là cách thức đảm bảo thông tin lưu trữ không bị lỗi trong quá trình đọc ghi dữ liệu:
Việc chuyển một khối dữ liệu giữa bộ nhớ và đĩa có thể dẫn đến kết quả:
• Thành công hoàn toàn: Thông tin được chuyển đến đích an toàn.
• Bị lỗi một phần: Có lỗi xuất hiện trong quá trình chuyển dữ liệu và khối đích chứa thông
tin không đúng.
• Bị lỗi hoàn toàn: Lỗi xuất hiện ngay ở giai đoạn đầu của quá trình truyền dữ liệu. Khối
đích giữ nguyên như ban đầu.
Nếu có lỗi xuất hiện trong quá trình truyền dữ liệu, hệ thống phải phát hiện được và thực
thi thủ tục phục hồi lỗi. Để làm được như vậy, hệ thống phải duy trì hai khối dữ liệu vật lý cho mỗ
khối dữ liệu luận lý. (Trong tình huống dùng hệ thống đĩa gương thì hai khối vật lý này ở cùng
một địa điểm, trong tình huống dùng hệ thống sao lưu từ xa, hai khối này ở hai địa điểm khác
nhau).
Một thao tác ghi dữ liệu được thực thi như sau:
1. Viết thông tin lên khối vật lý thứ nhất.
2. Khi hành động ghi thứ nhất thành công, tiếp tục ghi phần thông tin trên lên khối vật lý
thứ hai.
3. Thao tác ghi được coi là thành công khi thao tác ghi thứ hai thành công.
Trong quá trình phục hồi, từng cặp khối vật lý được kiểm tra:
1. Nếu nội dung của cả hai như nhau và không có lỗi có thể phát hiện, khi đó không cần
làm gì thêm.
2. Nếu một trong hai khối có lỗi phát hiện được, khi đó thay thế khối bị lỗi bởi nội dung
của khối còn lại.
3. Nếu cả hai khối không có lỗi phát hiện được, nhưng nội dung của chúng khác nhau,
thay thế khối thứ nhất bởi khối thứ hai.
Yêu cầu phải so sánh từng cặp khối vật lý một đòi hỏi phải mất nhiều thời gian. Người ta
có thể cải thiện tình huống này bằng cách lưu vết những thao tác viết khối trong tiến trình thực
thi. Khi phục hồi, chỉ những khối nào thao tác ghi ở trong tiến trình thực thi mới cần được đem so
sánh. Giao thức để viết ra một khối đến một site xa tương tự như viết khối trong hệ thống đĩa
gương
120
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
TRUY CẬP DỮ LIỆU
Như đã xét trong chương II, hệ cơ sở dữ liệu nằm thường trực trên các thiết bị lưu trữ ổn
định (thường là đĩa từ) và thường được phân thành các đơn vị lưu trữ kích thước cố định được gọi
là khối (blocks). Khối là đơn vị truyền nhận dữ liệu từ/ra đĩa. Một khối có thể chứa vài hạng mục
dữ liệu. Ta giả thiết không có hạng mục dữ liệu nào trải ra trên nhiều hơn một khối.
Các giao dịch nhập ( input ) thông tin từ đĩa vào bộ nhớ chính và xuất ( output ) thông tin
theo chiều ngược lại. Các thao tác nhập/xuất này được thực hiện theo đơn vị khối. Khối nằm trên
đĩa được gọi là khối vật lý (physical block), khối được trữ tạm trong bộ nhớ chính được gọi là
khối đệm (buffer block). Vùng bộ nhớ tạm chứa các khối dữ liệu được gọi là vùng đệm đĩa (disk
buffer).
Việc di chuyển khối giữa đĩa và bộ nhớ được thực hiện thông qua hai thao tác:
1. Input(B) chuyển khối vật lý B vào bộ nhớ chính.
2. Output(B) chuyển khối đệm B ra đĩa và thay thế cho khối vật lý tương ứng ở đó.
Hình dưới đây sẽ mô phỏng cho hai thao tác này
121
figure VI- 1
A
B
B
A
input(A)
output(B
)
Bộ nhớ chính
Đĩa
Các thao tác đọc ghi khối
Mỗi giao dịch T
i
có một vùng làm việc riêng ở đó các bản sao cùa tất cả các hạng mục dữ
liệu được truy xuất và cập nhật được lưu giữ. Vùng làm việc này được tạo ra khi giao dịch khởi
động. Nó bị xoá đi khi giao dịch bàn giao ( commit) hoặc huỷ bỏ (abort). Mỗi hạng mục dữ liệu x
được trữ trong vùng làm việc của giao dịch T
i
sẽ được ký hiệu là x
i
.
Giao dịch T
i
trao đổi với hệ
cơ sở dữ liệu bằng cách chuyển dữ liệu đến/ra vùng làm việc của nó sang vùng đệm của hệ thống.
Hai thao tác dùng để chuyển dữ liệu:
1. read(X) gán giá trị của hạng mục dữ liệu X cho biến cục bộ x
i
. Thao tác này được thực
hiện như sau:
a. Nếu khối B
X
chứa X không có trong bộ nhớ chính thì thực hiện thao tác input(B
X
).
b. Gán cho x
i
giá trị của X trong khối đệm.
2. write(X) gán giá trị của biến cục bộ x
i
cho hạng mục dữ liệu X trong khối đệm. Thao
tác này được thực hiện như sau:
a. Nếu khối B
X
chứa X không có trong bộ nhớ thì thực hiện thao tác input(B
X
).
b. Gán giá trị của x
i
cho X trong vùng đệm B
X
.
Chú ý rằng cả hai thao tác đều có thể đòi hỏi chuyển một khối từ đĩa vào bộ nhớ chính
nhưng không yêu cầu chuyển một khối từ bộ nhớ chính ra đĩa.
Đôi khi một khối đệm bị ghi bắt buộc ra đĩa do bộ quản lý vùng đệm cần không gian bộ
nhớ cho các mục đích khác hoặc do hệ cơ sở dữ liệu muốn phản ánh những thay đổi trong khối dữ
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
liệu B trên đĩa. Khi hệ cơ sở dữ liệu thực hiện thao tác Output(B) ta nói nó đã xuất bắt buộc khối
đệm B ra đĩa.
Khi một giao dịch cần truy xuất hạng mục dữ liệu X lần đầu, nó phải thực hiện Read(X).
Khi đó tất cả các cập nhật đối với X được thực hiện trên x
i
. Sau khi giao dịch truy xuất X lần cuối,
nó thực hiện Write(X) để ghi lại sự thay đổi của X trong CSDL.
Không nhất thiết phải thực hiện thao tác Output(B
X
) ngay sau khi thao tác write(X) hoàn
thành. Lý do là: khối đệm B
B
X
có thể còn chứa các hạng mục dữ liệu khác đang được truy xuất.
Nếu hệ thống bị hư hỏng ngay sau khi thao tác write(X) hoàn thành, nhưng trước khi thực hiện
thao tác Output(B
X
), giá trị mới của X sẽ không bao giờ được ghi ra đĩa, do đó, nó bị mất!
PHỤC HỒI VÀ TÍNH NGUYÊN TỬ:
Trở lại với ví dụ đơn giản về hệ thống ngân hàng: Giao dịch T
i
thực hiện việc chuyển $50
từ tài khoản A sang tài khoản B. Giả sử giá trị ban đầu của các tài khoản A và B là $1000 và
$2000. Giả sử hệ thống bị hư hỏng trong khi T
i
đang thực thi: sau khi thao tác output(B
A
) được
thực hiện và trước khi thực hiện thao tác output(B
B
) (B
B
A
và B
B
B
là hai khối đệm chứa hai hạng
mục A và B). Người ta có thể thực hiện một trong hai giải pháp phục hồi sau:
1. Thực hiện lại T
i
. Thủ tục này sẽ dẫn đến kết quả: giá trị của A là $900 thay vì phải là
$950. Do đó, hệ thống ở trong trạng thái không nhất quán.
2. Không thực hiện lại T
i
. Kết quả: giá trị của A và B tương ứng sẽ là $950 và $2000. Hệ
thống cũng trong trạng thái không nhất quán.
Vấn đề phát sinh ở chỗ: T
i
thực hiện nhiều thao tác sửa đổi nội dung cơ sở dữ liệu, do đó
cần nhiều thao tác xuất dữ liệu ra đĩa, nhưng lỗi phát sinh không cho phép tất cả các thao tác xuất
dữ liệu hoàn thành.
Giải pháp nhằm đạt được tính nguyên tử là: trước khi thực hiện các thao tác sửa đổi cơ sở
dữ liệu, cần ghi ra các thiết bị lưu trữ bền những thông tin mô tả các sửa đổi này. Cụ thể của giải
pháp trên sẽ được trình bày trong các phần V.4, V.5 và V.6.
PHỤC HỒI DỰA TRÊN SỔ GHI LỘ TRÌNH (Log-based recovery)
Một cấu trúc thường được dùng để ghi lại những thay đổi trên cơ sở dữ liệu là sổ ghi lộ
trình (log). Log là một dãy các mẩu tin lộ trình (log records). Một thao tác cập nhật trên cơ sở dữ
liệu sẽ được ghi nhận bằng một log record. Một log record kiểu mẫu chứa các trường sau:
• Định danh giao dịch ( transaction identifier ): định danh duy nhất của giao dịch thực
hiện hoạt động write
• Định danh hạng mục dữ liệu ( Data-item identifier ): định danh duy nhất của hạng
mục dữ liệu được viết ( thường là vị trí của hạng mục dữ liệu trên đĩa )
• Giá trị cũ ( Old value ): giá trị của hạng mục dữ liệu trước khi viết
• Giá trị mới ( New value ): giá trị hạng mục dữ liệu sẽ có sau khi viết
Có một vài log record đặc biệt mang các ý nghĩa riêng. Bảng sau đây chỉ ra một số loại log
record và ý nghĩa của chúng:
LOẠI LOG RECORD Ý NGHĨA
< T
i
start > Giao dịch T
i
đã khởi động.
< T
i
, X
j,
V
1
, V
2
> Giao dịch T
i
đã thực hiện thao tác ghi trên hạng mục dữ liệu X
j
, X
j
có giá trị V
1
trước khi ghi và nhận giá trị V
2
sau khi ghi.
< T
i
commit > Giao dịch T
i
đã bàn giao.
< T
i
abort > Giao dịch Ti
đã huỷ bỏ.
122
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
Mỗi khi một giao dịch thực hiện một thao tác ghi, trước tiên phải tạo ra một log record cho
thao tác ghi đó ( trong log file ), trước khi giao dịch thay đổi cơ sở dữ liệu. Như vậy, hệ thống có
cơ sở để huỷ bỏ ( undo ) một thay đổi đã được làm trên cơ sở dữ liệu bằng cách sử dụng trường
Old-value trong log record.
log phải được lưu trong những thiết bị lưu trữ bền. Mỗi một log record mới ngầm định sẽ
được thêm vào cuối tập tin log.
CẬP NHẬT TRÌ HOÃN CƠ SỞ DỮ LIỆU (Deferred
Database Modification):
Kỹ thuật cập nhật trì hoãn đảm bảo tính nguyên tử của giao dịch bằng cách ghi lại tất cả
những sửa đổi cơ sở dữ liệu vào sổ ghi lộ trình (log), nhưng trì hoãn sự thực hiện tất cả các thao
tác viết dữ liệu ra đĩa của giao dịch cho đến khi giao dịch bàn giao một phần (partially commits ).
Nhắc lại rằng: một giao dịch được gọi là bàn giao một phần khi hành động cuối cùng của nó được
thực hiện xong. Kỹ thuật cập nhật trì hoãn được trình bày trong phần này giả thiết rằng các giao
dịch được thực hiện một cách tuần tự.
Khi giao dịch bàn giao một phần, thông tin trên log kết hợp với giao dịch được sử dụng
trong việc viết trì hoãn. Nếu hệ thống có sự cố trước khi giao dịch hoàn thành việc thực hiện của
nó hoặc giao dịch bị bỏ dở khi đó thông tin trên log bị bỏ lơ.
Sự thực thi của một giao dịch được tiến triển như sau:
• Trước khi giao dịch T
i
bắt đầu thực hiện, một mẫu tin < T
i
start > được ghi ra sổ lộ trình.
• Trước khi T
i
thực hiện thao tác write(X), một mẫu tin < T
i
, X, V
2
> được ghi ra sổ lộ
trình.
• Cuối cùng, khi giao dịch T
i
bàn giao một phần, mẫu tin < T
i
commit > được ghi ra sổ lộ
trình.
Khi giao dịch bàn giao một phần, các mẫu tin trong sổ lộ trình kết hợp với giao dịch sẽ
được sử dụng để thực hiện việc ghi trì hoãn các hạng mục dữ liệu ra đĩa. Nhà thiết kế phải đảm
bảo rằng, trước khi hoạt động ghi hạng mục dữ liệu diễn ra, các mẫu tin log đã được ghi thành
công ra các thiết bị lưu trữ bền. Ngoài ra cũng cần để ý: kỹ thuật cập nhật trì hoãn chỉ cần ghi lại
giá trị mới của hạng mục dữ liệu (V
2
) mà thôi.
Để minh hoạ, ta sử dụng ví dụ hệ thống ngân hàng đơn giản. Gọi T
0
là giao dịch có nhiệm
vụ chuyển $50 từ tài khoản A sang tài khoản B, T
1
là giao dịch có nhiệm vụ rút $100 từ tài khoản
C. Giả sử giá trị ban đầu của các tài khoản A, B, C là $1000, $2000 và $700. Hành động của T
0
và
T
1
được mô tả như sau:
T
0
T
1
read(A)
A:=A-50
write(A)
read(B)
B:=B+50
write(B)
Read(C)
C:=C-100
write(C)
Giả thiết các giao dịch được thực hiện tuần tự: T
0
rồi tới T
1
. Một phần của sổ lộ trình ghi
lại những thông tin liên quan đến hoạt động của hai giao dịch trên được cho trong bảng dưới đây:
<T
0
start>
<T
0
,A, 950>
<T
0
,B, 2050>
123
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
<T
0
commit>
<T
1
start>
<T
1
,C, 600>
<T
1
commit>
figure VI- 2
Sau khi có sự cố xảy ra, hệ thống phục hồi sẽ tham khảo sổ lộ trình để chọn ra những giao
dịch nào cần được làm lại (redo). Giao dịch T
i
cần được làm lại khi và chỉ khi sổ nhật ký có chứa
cả hai mẫu tin <T
i
start> và <T
i
commit>.
Thủ tục làm lại giao dịch T
i
như sau:
• redo(T
i
) đặt giá trị mới cho tất cả các hạng mục dữ liệu được cập nhật bởi giao dịch T
i
.
Các giá trị mới sẽ được tìm thấy trong sổ lộ trình (log).
Hoạt động redo phải đồng hiệu lực ( idempotent ) có nghĩa là việc thực hiện nó nhiều lần
tương đương với việc thực hiện nó một lần.
Trở lại ví dụ vừa nêu, ta có bảng mô tả trạng thái của sổ ghi lộ trình và cơ sở dữ liệu như sau:
LOG CƠ SỞ DỮ LIỆU
<T
0
start>
<T
0
,A, 950>
< T
0
,B, 2050>
<T
0
commit>
<T
1
start>
<T
1
,C, 600>
<T
1
commit>
A=950
B=2050
C=600
figure VI- 3
Sau đây là một số tình huống mô phỏng:
1. Giả sử lỗi hệ thống xảy ra sau khi mẫu tin log cho hành động write(B) của giao dịch
T
0
vừa được ghi ra thiết bị lưu trữ bền. Khi hệ thống khởi động trở lại, sẽ không có
hành động “thực hiện lại giao dịch” nào cần phải làm, do không có mẫu tin ghi
commit nào xuất hiện trong sổ lộ trình. Nghĩa là giá trị của A,B và C vẫn giữ nguyên
là $1000, $2000 và $700.
2. Giả sử lỗi hệ thống xảy ra sau khi mẫu tin log cho hành động write(C) của giao dịch
T
1
vừa được ghi ra thiết bị lưu trữ bền. Khi hệ thống hoạt động trở lại, thủ tục redo(T
0
)
sẽ được thực hiện do có sự xuất hiện của mẫu tin <T
0
commit> trong sổ lộ trình. Sau
khi thủ tục này được thực thi, giá trị của A và B sẽ là $950 và $2050.
CẬP NHẬT TỨC THỜI CƠ SỞ DỮ LIỆU (Immediate Database
Modification):
Kỹ thuật cập nhật tức thời cho phép các thao tác sửa đổi cơ sở dữ liệu có quyền xuất dữ
liệu tức thời ra đĩa trong khi giao dịch vẫn còn ở trong trạng thái hoạt động ( active state ). Hành
động thay đổi nội dung dữ liệu tức thời của các giao dịch đang hoạt động được gọi là “những
thay đổi chưa được bàn giao” ( uncommitted modifications).
Sự thực thi của một giao dịch được tiến hành như sau:
• Trước khi giao dịch T
i
bắt đầu sự thực hiện, một mẫu tin < T
i
start > được ghi ra sổ lộ
trình.
124
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
• Trước khi T
i
thực hiện thao tác write(X), một mẫu tin < T
i
, X, V
1
, V
2
> được ghi ra sổ lộ
trình.
• Cuối cùng, khi giao dịch T
i
bàn giao một phần, mẫu tin < T
i
commit > được ghi ra sổ lộ
trình.
Cần phải đảm bảo rằng, trước khi hoạt động ghi hạng mục dữ liệu diễn ra, các mẫu tin log
đã được ghi thành công ra các thiết bị lưu trữ bền. Ngoài ra, cũng cần chú ý là mẫu tin log cho
hành động write(X) của giao dịch T
i
, tức là mẫu tin <T
i
, X, V
1
, V
2
> có chứa cả hai giá trị mới
(V
2
) và cũ (V
1
) của hạng mục dữ liệu X.
Trở lại với ví dụ trong phần V.4.1, ta có một phần của sổ lộ trình liên quan đến các hoạt
động của T
0
và T
1
như sau:
<T
0
start>
<T
0
, A, 1000, 950>
<T
0
, B, 2000, 2050>
<T
0
commit>
<T
1
start>
<T
1
, C, 700, 600>
<T
1
commit>
figure VI- 4
Bảng mô tả trạng thái của sổ ghi lộ trình và cơ sở dữ liệu như sau:
LOG CƠ SỞ DỮ LIỆU
<T
0
start>
<T
0
, A, 1000, 950>
< T
0
, B, 2000, 2050>
<T
0
commit>
<T
1
start>
<T
1
, C, 700, 600>
<T
1
commit>
A=950
B=2050
C=600
figure VI- 5
Kỹ thuật cập nhật tức thời sử dụng hai thủ tục khôi phục sau lỗi:
• undo(T
i
) đặt lại giá trị cũ cho tất cả các hạng mục dữ liệu được cập nhật bởi giao dịch T
i
.
Các giá trị cũ sẽ được tìm thấy trong sổ lộ trình ( log ).
• redo(T
i
) đặt giá trị mới cho tất cả các hạng mục dữ liệu được cập nhật bởi giao dịch T
i
.
Các giá trị mới sẽ được tìm thấy trong sổ lộ trình (log).
Sau khi lỗi xuất hiện, hệ thống phục hồi tham khảo sổ ghi để quyết định những giao dịch nào
cần được làm lại (redo) và những giao dịch nào cần được huỷ bỏ (undo).
• Giao dịch T
i
cần được huỷ bỏ khi sổ ghi chứa mẫu tin <T
i
start> nhưng không có mẫu tin
<T
i
commit>.
• Giao dịch T
i
cần được làm lại khi sổ ghi có chứa cả mẫu tin <T
i
start> lẫn mẫu tin <T
i
commit>.
Sau đây là một số tình huống mô phỏng:
125
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
1. Giả sử lỗi hệ thống xảy ra sau khi mẫu tin log cho hành động write(B) của giao dịch
T
0
vừa được ghi ra thiết bị lưu trữ bền. Khi hệ thống khởi động trở lại, nó sẽ tìm thấy
mẫu tin <T
0
start> trong sổ ghi, nhưng không có mẫu tin <T
0
commit> tương ứng. Do
đó giao dịch T
0
cần phải được huỷ bỏ. Nghĩa là thủ tục undo(T
0
) sẽ được gọi và giá trị
của A,B và C vẫn giữ nguyên là $1000, $2000 và $700.
2. Giả sử lỗi hệ thống xảy ra sau khi mẫu tin log cho hành động write(C) của giao dịch
T
1
vừa được ghi ra thiết bị lưu trữ bền. Khi hệ thống hoạt động trở lại, hai thủ tục
redo(T
0
) và undo(T
1
) sẽ được thực hiện. Do có sự xuất hiện của các mẫu tin <T
0
start>, <T
0
commit>, <T
1
start> trong sổ lộ trình. Sau khi hai thủ tục này được thực
thi, giá trị của A, B, C sẽ là $950,ì $2050 và $700.
ĐIỂM KIỂM SOÁT (Checkpoint):
Khi lỗi hệ thống xuất hiện, hệ thống phục hồi phải tham khảo sổ ghi lộ trình để quyết định
những giao dịch nào cần được làm lại và những giao dịch nào cần được huỷ bỏ. Theo nguyên lý
thì cần phải tìm kiếm toàn bộ nội dung của sổ ghi để có được quyết định trên.
Hướng tiếp cận trên sẽ gặp phải hai khó khăn lớn:
1. Quá trình tìm kiếm mất nhiều thời gian.
2. Theo các giải thuật vừa nêu, hầu hết các giao dịch cần được làm lại đã ghi những dữ
liệu được cập nhật ra cơ sở dữ liệu rồi. Việc làm lại chúng tuy không có hại gì, nhưng
lại làm cho tiến trình khôi phục trở nên lâu hơn.
Công cụ “điểm kiểm soát” (checkpoint) được sử dụng để cải thiện hiệu năng của quá trình
khôi phục. Trong quá trình hoạt động của mình, hệ thống sẽ duy trì một sổ ghi lộ trình bằng cách
sử dụng một trong hai kỹ thuật được giới thiệu trong phần V.4.1 và V.4.2. Ngoài ra, hệ thống còn
phải thực hiện một cách chu kỳ các hành động đặt điểm kiểm soát. Hành động này đòi hỏi một
dãy các thao tác sau:
1. Xuất ra lưu trữ bền tất cả các mẫu tin ghi nhận lộ trình ( log record ) đang nằm trong
bộ nhớ chính.
2. Xuất ra đĩa tất cả những khối đệm đã được cập nhật.
3. Xuất ra thiết bị lưu trữ bền một log-record <checkpoint>
Các giao dịch sẽ không được phép thực hiện bất kỳ thao tác cập nhật dữ liệu nào (ví dụ
như ghi các khối đệm, ghi các mẫu tin log) khi hành động đặt điểm kiểm soát đang được thực
hiện.
Sự hiện diện của điểm kiểm soát trong sổ ghi cho phép hệ thống tổ chức quá trình phục
hồi tốt hơn. Xét một giao dịch T
i
đã bàn giao (commit) trước một điểm kiểm soát. Ta có mẫu tin
<T
i
commit> xuất hiện trước mẫu tin <checkpoint>. Có nghĩa là tất cả các thay đổi mà T
i
đã làm
đối với cơ sở dữ liệu phải được thực hiện trước khi người ta đặt điểm kiểm soát trên. Vì vậy, trong
giai đoạn phục hồi sau lỗi, người ta không cần phải làm lại (redo) giao dịch T
i
.
Dựa trên điểm cải tiến này, ta cải tiến lại các kỹ thuật đã được trình bày trong phần V.4.1
và V.4.2 như sau:
1. Sau khi lỗi hệ thống xuất hiện, hệ thống phục hồi sẽ kiểm tra lại sổ lộ trình (log) để tìm
ra giao dịch T
i
thoả điều kiện: đó là giao dịch gần đây nhất được khởi động trước điểm
kiểm soát gần đây nhất. Qui trình tìm T
i
như sau: dò ngược trong sổ ghi lộ trình cho
đến khi tìm thấy mẫu tin <checkpoint> đầu tiên. Từ điểm kiểm soát này, lại tiếp
tục dò ngược trong sổ ghi cho đến khi tìm thấy mẫu tin <T
i
start> đầu tiên. Mẫu
tin này chỉ ra giao dịch T
i
.
2. Khi đã xác định được giao dịch T
i
rồi, các thủ tục undo và redo chỉ được áp dụng cho
giao dịch T
i
và các giao dịch diễn ra sau T
i.
Chúng ta ký hiệu tập những giao dịch vừa
nói là
T
.
3. Với kỹ thuật “Cập nhật tức thời cơ sở dữ liệu”, tiến trình phục hồi như sau:
126
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
• Với mọi giao dịch T
k
∈
T
mà không có mẫu tin <T
k
commit> trong sổ ghi lộ trình,
thực thi undo(T
k
).
• Với mọi giao dịch T
k
∈
T mà có mẫu tin <T
k
commit> trong sổ ghi lộ trình, thực thi
redo(T
k
).
4. Không cần thực thi thao tác undo khi sử dụng kỹ thuật “Cập nhật có trì hoãn cơ sở dữ
liệu”.
PHÂN TRANG BÓNG ( Shadow Paging ):
Kỹ thuật “Phân trang bóng” cũng là kỹ thuật cho phép phục hồi sau lỗi, nhưng ý tưởng
thực hiện khác với các kỹ thuật dựa trên sổ ghi lộ trình vừa trình bày ở phần trên.
Sau đây là một số khái niệm cần được giải trình:
• Trang (page) là gì? Như đã trình bày ở các phần trước, cơ sở dữ liệu được lưu vào
thiết bị lưu trữ không phai thành nhiều khối có kích thước cố định. Người ta gọi những
khối này là trang (page).
• Bảng trang và ý nghĩa của nó: Khái niệm trang đã nói được mượn từ lý thuyết về Hệ
điều hành. Cách quản lý trang cũng được thừa kế từ đó. Giả sử rằng cơ sở dữ liệu được
phân thành n trang và sự phân bố trên đĩa của chúng có thể không theo một thứ tự cụ
thể nào cả. Tuy nhiên, phải có cách để tìm ra nhanh và đúng trang thứ i của cơ sở dữ
liệu (1
≤
i ≤ n). Người ta dùng bảng trang (được mô phỏng như trong hình 5.2) cho
mục đích này. Bảng trang có n đầu vào (entry). Mỗi đầu vào ứng với một trang. Một
đầu vào chứa một con trỏ, trỏ đến một trang trên đĩa. Đầu vào đầu tiên chỉ đến trang
đầu tiên của cơ sở dữ liệu, đầu vào thứ hai chỉ đến trang thứ hai
Ý tưởng then chốt của kỹ thuật “Phân trang bóng” là người ta sẽ duy trì hai bảng trang
trong suốt chu kỳ sống của giao dịch, một bảng trang gọi là “bảng trang hiện hành” (current page
table), bảng trang còn lại gọi là “bảng trang bóng” (shadow page table). Khi giao dịch khởi động,
hai bảng trang này giống nhau. Bảng trang bóng sẽ không thay đổi suốt quá trình hoạt động của
giao dịch. Bảng trang hiện hành sẽ bị thay đổi mỗi khi giao dịch thực hiện tác vụ write. Tất cả các
tác vụ input và output đều sử dụng bảng trang hiện hành để định vị các trang trong đĩa. Điểm
quan trọng khác là nên lưu bảng trang bóng vào thiết bị lưu trữ bền.
127
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
1
2
3
4
5
6
7
.
.
.
n
Bảng trang
.
.
.
.
Trang trên đĩa
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
figure VI- 6
Giả sử giao dịch thực hiện tác vụ write(X) và hạng mục dữ liệu X được chứa trong trang thứ i.
Tác vụ write được thực thi như sau:
1. Nếu trang thứ i chưa có trong bộ nhớ chính, thực hiện input(X).
2. Nếu đây là lệnh ghi được thực hiện lần đầu tiên trên trang thứ i bởi giao dịch, sửa đổi
bảng trang hiện hành như sau:
n
a. Tìm một trang chưa được dùng trên đĩa.
b. Xoá trang vừa được tìm xong ở bước 2.a khỏi danh sách các khung trang tự do.
c. Sửa lại bảng trang hiện hành sao cho đầu vào thứ i trỏ đến trang mới vừa tìm được
trong bước 2.a.
3. Gán giá trị x
i
cho X trong trang đệm (buffer page).
Để bàn giao một giao dịch, cần làm các bước sau:
1. Đảm bảo rằng tất cả các trang đệm trong bộ nhớ chính đã được giao dịch sửa đổi phải
được xuất ra đĩa.
2. Xuất bảng trang hiện hành ra đĩa. chú ý là không được viết đè lên trang bóng
3. Xuất địa chỉ đĩa của bảng trang hiện hành ra vị trí cố định trong thiết bị lưu trữ bền. Vị
trí này chính là nơi chứa địa chỉ của bảng trang bóng. Hành động này sẽ ghi đè lên địa
chỉ của bảng trang bóng cũ. Như vậy, bảng trang hiện hành sẽ trở thành bảng trang
bóng và giao dịch được bàn giao.
Nếu sự cố xảy ra trước khi hoàn thành bước thứ 3, hệ thống sẽ trở về trạng thái trước khi
giao dịch được thực hiện. Nếu sự cố xảy ra sau khi bước thứ 3 hoàn thành, hiệu quả của giao dịch
được bảo tồn; không cần thực hiện thao tác redo nào cả. Ví dụ trong hình 5.3 dưới đây mô phỏng
lại trạng thái của các bảng trang hiện hành và bảng trang bóng khi giao dịch thực hiện thao tác ghi
lên trang thứ tư của cơ sở dữ liệu có 10 trang.
128
1
1
2
2
3
3
4
4
5
5
6
6
7
7
8
8
9
9
10
Bảng trang bóng
10
Bảng trang hiện hành
Các trang trên đĩa
figure VI- 7
Ví dụ về bảng trang bóng và bảng trang hiện hành
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
Kỹ thuật phân trang bóng có một số điểm lợi hơn so với các kỹ thuật dựa trên sổ ghi:
1. Không mất thời gian ghi ra các log record.
2. Khôi phục sau sự cố nhanh hơn, do không cần các thao tác undo hoặc redo.
Tuy nhiên kỹ thuật phân trang bóng lại có nhiều nhược điểm:
• Tổng phí bàn giao. Xuất nhiều khối ra đĩa: các khối dữ liệu hiện tại, bảng trang hiện
hành, địa chỉ của bảng trang hiện hành. Trong kỹ thuật dựa vào sổ ghi, chỉ cần xuất ra các
log record, mà thông thường, các log record này vừa đủ chứa trong một khối.
• Sự phân mảnh dữ liệu. Trong chương II có trình bày chiến lược gom cụm vật lý các
trang dữ liệu có liên quan với nhau. Sự gom cụm này cho phép việc vận chuyển dữ liệu
nhanh hơn. Kỹ thuật phân trang bóng lại đổi vị trí của trang khi trang này bị sửa đổi. Điều
này dẫn đến tính gom cụm dữ liệu không còn, hoặc phải dùng các giải pháp gom cụm lại
rất mất thời gian.
• Phải thu nhặt rác. Mỗi khi giao dịch bàn giao, các trang chứa giá trị dữ liệu cũ đã bị sửa
đổi bởi giao dịch sẽ trở thành không truy xuất được. Vì chúng không thuộc danh sách các
trang tự do nhưng cũng không chứa dữ liệu hữu dụng. Ta gọi chúng là “rác”. Cần thiết
phải định kỳ tìm kiếm và thêm các trang rác vào trong danh sách các trang tự do. Hành
động này được gọi là “thu nhặt rác”.
• Ngoài ra, kỹ thuật phân trang bóng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn kỹ thuật dựa vào sổ ghi khi
cần được tinh chỉnh để đáp ứng cho yêu cầu phục vụ song song cho nhiều giao dịch. Vì
những lý do trên, kỹ thuật phân trang bóng không được sử dụng rộng rãi lắm.
PHỤC HỒI VỚI CÁC GIAO DỊCH CẠNH TRANH
Cho dến bây giờ, ta chỉ xét các kỹ thuật phục hồi áp dụng cho các giao dịch được thực thi
tuần tự. Bây giờ chúng ta sẽ tìm cách cải tiến kỹ thuật dựa vào sổ ghi nhằm đáp ứng yêu cầu phục
vụ đồng thời cho nhiều giao dịch cạnh tranh. Ý tưởng thực hiện là: Không quan tâm đến số lượng
các giao dịch cạnh tranh, hệ thống vẫn sử dụng một vùng đệm đĩa và một sổ ghi lộ trình. Các khối
đệm được chia sẻ bởi tất cả các giao dịch. Chúng ta sẽ cho phép việc cập nhật tức thời cơ sở dữ
liệu và cho phép một khối đệm có nhiều hạng mục dữ liệu được cập nhật bởi một hoặc nhiều giao
dịch.
TRAO ĐỔI VỚI ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Cơ chế phục hồi phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế điều khiển cạnh tranh được sử dụng. Để
cuộn lại một giao dịch thất bại ( failed transaction ), người ta phải huỷ bỏ ( undo) các cập nhật
được thực hiện bởi giao dịch. Giả sử giao dịch T
0
phải bị cuộn lại và một hạng mục dữ liệu Q đã
bị T
0
thay đổi giá trị và cần phải được đặt lại giá trị cũ. Bằng cách sử dụng kỹ thuật dựa vào sổ ghi
lộ trình, ta trả lại giá trị cũ cho Q bằng cách sử dụng một log record. Giả thiết lại có giao dịch thứ
hai T
1
cũng vừa cập nhật Q xong, trước khi T
0
bị cuộn lại. Như vậy, sự cập nhật được thực hiện
bởi T
1
sẽ bị mất đi nếu T
0
bị cuộn lại.
Biện pháp khắc phục là: nếu một giao dịch T đã cập nhật một hạng mục dữ liệu Q, thì
không một giao dịch nào khác có quyền cập nhật lên hạng mục dữ liệu đó trong khi T chưa bàn
giao hoặc chưa bị cuộn lại. Chúng ta có thể đảm bảo yêu cầu trên được thoả bằng cách sử dụng kỹ
thuật ”chốt hai kỳ nghiêm ngặt” (strict two-phase locking).
CUỘN LẠI GIAO DỊCH:
Phương pháp để cuộn lại (rollback) một giao dịch T
i,
sử
dụng sổ ghi, trong môi trường
cạnh tranh như sau:
1. Dò ngược sổ ghi lộ trình để tìm ra các log record có dạng <T
i
, Xj, V
1
, V
2
>.
129
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
2. Hạng mục dữ liệu Xj sẽ được trả lại giá trị cũ V
1
.
3. Việc dò tìm kết thúc khi tìm thấy mẫu tin <T
i
start>.
Việc dò ngược sổ ghi lộ ¹eó một ý nghĩa rất quan trọng, do một giao dịch có thể đã cập
nhật một hạng mục dữ liệu nhiều hơn một lần. Một ví dụ: Xét một cặp log records như sau:
<T
i
, A, 10, 20>
<T
i
, A, 20, 30>
Cặp mẫu tin này thể hiện hai hành động cập nhật hạng mục dữ liệu A của giao dịch T
i
.
Nếu dò ngược sổ ghi lộ trình, A sẽ được trả về giá trị đúng là 10. Ngược lại, A sẽ nhận giá trị sai
là 20.
Nếu kỹ thuật strict two-phase locking được sử dụng để điều khiển cạnh tranh, thì việc trả
về giá trị cũ cho một hạng mục dữ liệu sẽ không xoá đi những tác động của các giao dịch khác lên
hạng mục dữ liệu này.
CÁC ĐIỂM KIỂM SOÁT
Ở phần V.4.3, người ta đã sử dụng điểm kiểm soát (checkpoint) để làm giảm số lượng các
log record mà hệ thống phục hồi phải dò tìm trong sổ ghi trong giai đoạn phục hồi sau lỗi. Nhưng,
do đã giả thiết là không có cạnh tranh nên giải pháp V.4.3 chỉ xét đến những giao dịch sau trong
quá trình khôi phục lỗi:
• Những giao dịch được khởi động sau điểm kiểm soát gần đây nhất.
• Một giao dịch (nếu có) đang trong trạng thái hoạt động (active) tại thời điểm người ta đặt
điểm kiểm soát gần đây nhất.
Tình huống càng phức tạp khi các giao dịch được thực thi cạnh tranh. Có nghĩa là tại thời
điểm đặt điểm kiểm soát, có thể có nhiều giao dịch đang ở trong trạng thái hoạt động.
Trong một hệ thống xử lý các giao dịch cạnh tranh, ta yêu cầu rằng: một mẫu tin ghi dấu kiểm
soát (checkpoint log record) phải có dạng như sau:
<checkpoint L>
Trong đó L là danh sách các giao dịch đang hoạt động tại thời điểm đặt điểm kiểm soát.
Một lần nữa, ta qui ước rằng: khi hành động đặt điểm kiểm soát đang diễn ra, các giao
dịch không được phép thực hiện bất kỳ thao tác cập nhật dữ liệu nào cả trên các khối đệm lẫn
trên sổ ghi lộ trình.
Tuy nhiên, qui ước trên lại gây phiền toái, bởi vì các giao dịch phải ngừng hoạt động khi
đặt điểm kiểm soát. Một kỹ thuật nâng cao giải quyết điểm phiền toái này là “Điểm kiểm soát
mờ” (fuzzy checkpoint).
PHỤC HỒI KHỞI ĐỘNG LẠI ( Restart Recovery )
Khi hệ thống phục hồi sau lỗi, nó tạo ra hai danh sách: undo-list bao gồm các giao dịch
cần phải huỷ bỏ và redo-list bao gồm danh sách các giao dịch cần được làm lại.
Qui trình tạo lập hai danh sách redo-list, undo-list được thực hiện như sau:
1. Đầu tiên, chúng sẽ rỗng.
2. Dò ngược sổ ghi lộ trình, kiểm tra các mẫu tin cho đến khi tìm được mẫu tin
<checkpoint> đầu tiên:
a. Với mỗi mẫu tin được tìm thấy theo dạng <T
i
commit>, ta thêm T
i
vào trong redo-
list.
b. Với mỗi mẫu tin được tìm thấy theo dạng <T
i
start>, nếu T
i
không thuộc redo-list
thì thêm T
i
vào trong undo-list.
c. Khi tất cả các log record đã được xem xét, ta kiểm tra danh sách L trong mẫu tin
<checkpoint L>. Với mọi giao dịch T
i
trong L, nếu T
i
không thuộc redo-list thì
thêm T
i
vào undo-list.
130
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
Khi hai danh sách redo-list, undo-list được thiết lập xong, tiến trình phục hồi được tiến
hành như sau:
1. Dò ngược lại sổ ghi và thực hiện thủ tục undo đối với mỗi log record thuộc về giao
dịch T
i
trong undo-list. Các log record của các giao dịch nằm trong danh sách redo-list
sẽ bị bỏ qua trong giai đoạn này. Việc dò ngược sẽ ngưng khi mẫu tin <T
i
start> được
tìm thấy cho mọi giao dịch T
i
thuộc danh sách undo-list.
2. Định vị mẫu tin <checkpoint L> gần đây nhất trong log.
3. Dò sổ ghi theo chiều xuôi bắt đầu từ mẫu tin <checkpoint L> gần đây nhất và thực
hiện thủ tục redo đối với mỗi log record thuộc về giao dịch T
i
nằm trong danh sách
redo-list. Trong giai đoạn này, bỏ qua các log record của các giao dịch thuộc danh
sách undo-list.
Việc xử lý ngược ở bước 1 là rất quan trọng, nhằm đảm bảo kết quả trả về của cơ sở dữ
liệu là đúng.
Sau khi tất cả các giao dịch trong danh sách undo-list bị huỷ bỏ, tất cả các giao dịch trong
danh sách redo-list sẽ được làm lại. Sau khi tiến trình phục hồi thành công, xử lý giao dịch được
tiếp tục.
Việc thực hiện huỷ bỏ các giao dịch trong undo-list trước khi làm lại các giao dịch trong
redo-list có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu làm ngược lại, vấn đề sau sẽ phát sinh: Giả sử hạng mục
dữ liệu A có giá trị khởi đầu là 10. Giao dịch T
i
đổi A thành 20 sau đó T
i
bị huỷ bỏ. Sau đó, một
giao dịch khác T
j
cập nhật A thành 30. Đến đây thì hệ thống bị lỗi ngừng hoạt động. Hiện trạng
của sổ ghi tại thời điểm hệ thống bị lỗi như sau:
<T
i
, A, 10, 20>
<T
j
, A, 10, 30>
<T
j
commit>
Nếu thực hiện redo trước, A sẽ được đặt giá trị 30. Sau đó thực hiện undo, A sẽ được đặt
giá trị 10, mà giá trị này sai. Giá trị cuối cùng của A phải là 30.
ĐIỂM KIỂM SOÁT MỜ (fuzzy checkpoint):
Kỹ thuật fuzzy checkpoint cho phép các giao dịch được cập nhật dữ liệu trên các khối đệm
khi checkpoint-record đã được viết xong nhưng trước thời điểm các khối đệm đã sửa đổi được ghi
ra đĩa.
Ý tưởng thực hiện fuzzy checkpoint như sau: Thay vì phải dò ngược sổ ghi để tìm mẫu tin
checkpoint, ta sẽ lưu vị trí của mẫu tin checkpoint cuối cùng trong sổ ghi vào một chỗ cố định
trong đĩa gọi là last_checkpoint. Tuy nhiên, thông tin này sẽ không được cập nhật khi một mẫu
tin checkpoint được ghi ra đĩa. Thay vào đó, trước khi một mẫu tin checkpoint được ghi ra sổ ghi,
ta tạo ra một danh sách các khối đệm bị sửa đổi. Thông tin last_checkpoint được cập nhật chỉ sau
khi tất cả các khối đệm bị sửa đổi được ghi ra đĩa.
last_checkpoint chỉ được dùng cho mục đích undo.
131
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
CHƯƠNG VI
HỆ THỐNG PHỤC HỒI
(Recovery system)
MỤC ĐÍCH
Một hệ thống máy tính, cũng giống như các thiết bị cơ - điện khác, luôn có nguy cơ bị
hỏng hóc do nhiều nguyên nhân hư đĩa, mất nguồn, lỗi phần mềm v v Điều này dẫn đến hậu
quả là sự mất thông tin. Vì vậy, hệ quản trị cơ sở dữ liệu phải có các cơ chế đáp ứng lại nguy cơ
hệ thống bị hỏng hóc, nhằm đảm bảo tính nguyên tử và tính lâu bền của các giao dịch. Chương
này trình bày các nguyên lý của một hệ thống phục hồi nhằm khôi phục CSDL đến một trạng thái
nhất quán trước khi xảy ra sự cố.
YÊU CẦU
Hiểu rõ các sự cố có thể xảy ra trong đời sống của một cơ sở dữ liệu, các nguyên nhân của
sự không nhất quán dữ liệu.
Hiểu các kỹ thuật phục hồi, các ưu nhược điểm của mỗi kỹ thuật.
118
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
PHÂN LỚP HỎNG HÓC:
Có nhiều kiểu hỏng hóc có thể xảy đến với hệ thống, mỗi một trong chúng cần được ứng
xử một cách riêng biệt. Trong chương này ta chỉ xét các kiểu hỏng hóc sau:
• Hỏng hóc trong giao dịch: Có hai loại lỗi làm cho giao dịch bị hỏng hóc:
1. Lỗi luận lý: Giao dịch không thể tiếp tục thực hiện bình thường được nữa do một số
điều kiện bên trong không được thoả. ví dụ như: dữ liệu đầu vào không đúng, không tìm
thấy dữ liệu, trào dữ liệu hoặc do việc sử dụng tài nguyên vượt hạn định.
2. Lỗi hệ thống: Hệ thống rơi vào trạng thái không mong muốn ví dụ như trạng thái
deadlock.
• Hệ thống bị hư hỏng: Có một phần cứng sai chức năng hoặc có một sai sót trong phần
mềm cơ sở dữ liệu hay hệ điều hành.
• Đĩa bị hư hỏng: Một khối đĩa bị mất nội dung.
Để hệ thống có thể đề ra được chiến lược phục hồi lỗi phù hợp, trước tiên cần phải xác
định các loại hỏng hóc trên các thiết bị lưu trữ dữ liệu. Sau đó, cần xác định những hỏng hóc này
ảnh hưởng như thế nào đến nội dung cơ sở dữ liệu. Nhiệm vụ quan trọng sau cùng là đề ra các
giải pháp nhằm đảm bảo tính nhất quán của cơ sở dữ liệu và tính nguyên tử của giao dịch mỗi khi
hỏng hóc đã phát sinh. Các giải pháp này thường được gọi là các giải thuật phục hồi ( recovery
algorithms ).
Các giải thuật phục hồi gồm có hai phần:
1. Các hành động được thực hiện trong suốt quá trình hoạt động bình thường của giao
dịch nhằm đảm bảo có đầy đủ thông tin cho việc phục hồi sau này.
2. Các hành động được thực hiện sau khi lỗi phát sinh. Nhằm khôi phục nội dung của cơ
sở dữ liệu trở về một trạng thái trước đó, và trạng thái này thoã mãn được các yêu cầu
về tính nhất quán của cơ sở dữ liệu, tính bền và tính nguyên tử của giao dịch .
CẤU TRÚC LƯU TRỮ:
Như đã xét trong chương II, các hạng mục dữ liệu khác nhau của cơ sở dữ liệu có thể được
lưu trên nhiều phương tiện lưu trữ khác nhau. Để nắm được cách thức đảm bảo tính nguyên tử và
tính lâu bền của một giao dịch, cần phải có cái nhìn sâu hơn về các loại thiết bị lưu trữ dữ liệu và
cách thức truy xuất chúng.
CÁC LOẠI LƯU TRỮ:
• Lưu trữ không ổn định ( volatile storage ): Thông tin lưu trong thiết bị lưu trữ không ổn
định sẽ bị mất khi hệ thống bị hỏng hóc. Ví dụ của thiết bị lưu trữ không ổn định là: bộ
nhớ chính, bộ nhớ cache. Sự truy cập đến các thiết bị lưu trữ không ổn định là cực nhanh.
Lý do: một là: do tính chất của bộ nhớ cho phép như vậy; hai là: có thể truy xuất trực tiếp
các hạng mục dữ liệu chứa trong nó.
• Lưu trữ ổn định ( nonvolatile storage ): Thông tin lưu trữ trong thiết bị lưu trữ ổn định
thường không bị mất khi hệ thống bị sự cố. Tuy nhiên, nguy cơ bản thân thiết bị lưu trữ ổn
định bị hỏng vẫn có thể xảy ra. Ví dụ của thiết bị lưu trữ ổn định là: đĩa từ và băng từ.
Trong hầu hết các hệ cơ sở dữ liệu, thiết bị lưu trữ ổn định thường được dùng là đĩa từ.
Các loại thiết bị lưu trữ ổn định khác được dùng để lưu trữ phòng hờ ( back up ) dữ liệu.
119
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
• Lưu trữ bền ( stable storage ): Theo lý thuyết thì thông tin chứa trong thiết bị lưu trữ bền
không bao giờ bị mất khi hệ thống bị hư hỏng. Tuy nhiên, trong thực tế, ta khó lòng tạo ra
được một thiết bị đạt được tính chất lý tưởng như vậy. Chỉ có giải pháp tăng cường độ bền
mà thôi.
THỰC THI LƯU TRỮ BỀN:
Tiêu chí để thực hiện việc lưu trữ bền là nhân bản thông tin cần thiết trong một vài phương
tiện lưu trữ ổn địng khác nhau với các phương thức hỏng hóc độc lập và cập nhật các phiên bản
thông tin này một cách có tổ chức, sao cho dù có lỗi xuất hiện trong quá trình chuyển dữ liệu,
thông tin vẫn không bị hư hại.
• Các hệ thống RAID đảm bảo rằng việc hỏng hóc của một đĩa không gây sự mất dữ liệu.
Dạng thức đơn giản và nhanh nhất của RAID là dùng đĩa gương ( mirrored
disk ). Các dạng thức khác giúp tiết kiệm chi phí, nhưng cái giá phải trả là thời gian đọc
ghi chậm hơn.
• Tuy nhiên các hệ thống RAID vẫn không đảm bảo được tính an toàn dữ liệu khi gặp phải
tai họa như: cháy nổ, lụt lội. Người ta đề nghị một hệ thống lưu trữ mới an toàn hơn hoạt
động theo nguyên tắc sau: Sao lưu dữ liệu sang một vài vị trí địa lý khác nhau thông qua
mạng máy tính.
Sau đây là cách thức đảm bảo thông tin lưu trữ không bị lỗi trong quá trình đọc ghi dữ liệu:
Việc chuyển một khối dữ liệu giữa bộ nhớ và đĩa có thể dẫn đến kết quả:
• Thành công hoàn toàn: Thông tin được chuyển đến đích an toàn.
• Bị lỗi một phần: Có lỗi xuất hiện trong quá trình chuyển dữ liệu và khối đích chứa thông
tin không đúng.
• Bị lỗi hoàn toàn: Lỗi xuất hiện ngay ở giai đoạn đầu của quá trình truyền dữ liệu. Khối
đích giữ nguyên như ban đầu.
Nếu có lỗi xuất hiện trong quá trình truyền dữ liệu, hệ thống phải phát hiện được và thực
thi thủ tục phục hồi lỗi. Để làm được như vậy, hệ thống phải duy trì hai khối dữ liệu vật lý cho mỗ
khối dữ liệu luận lý. (Trong tình huống dùng hệ thống đĩa gương thì hai khối vật lý này ở cùng
một địa điểm, trong tình huống dùng hệ thống sao lưu từ xa, hai khối này ở hai địa điểm khác
nhau).
Một thao tác ghi dữ liệu được thực thi như sau:
1. Viết thông tin lên khối vật lý thứ nhất.
2. Khi hành động ghi thứ nhất thành công, tiếp tục ghi phần thông tin trên lên khối vật lý
thứ hai.
3. Thao tác ghi được coi là thành công khi thao tác ghi thứ hai thành công.
Trong quá trình phục hồi, từng cặp khối vật lý được kiểm tra:
1. Nếu nội dung của cả hai như nhau và không có lỗi có thể phát hiện, khi đó không cần
làm gì thêm.
2. Nếu một trong hai khối có lỗi phát hiện được, khi đó thay thế khối bị lỗi bởi nội dung
của khối còn lại.
3. Nếu cả hai khối không có lỗi phát hiện được, nhưng nội dung của chúng khác nhau,
thay thế khối thứ nhất bởi khối thứ hai.
Yêu cầu phải so sánh từng cặp khối vật lý một đòi hỏi phải mất nhiều thời gian. Người ta
có thể cải thiện tình huống này bằng cách lưu vết những thao tác viết khối trong tiến trình thực
thi. Khi phục hồi, chỉ những khối nào thao tác ghi ở trong tiến trình thực thi mới cần được đem so
sánh. Giao thức để viết ra một khối đến một site xa tương tự như viết khối trong hệ thống đĩa
gương
120
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
TRUY CẬP DỮ LIỆU
Như đã xét trong chương II, hệ cơ sở dữ liệu nằm thường trực trên các thiết bị lưu trữ ổn
định (thường là đĩa từ) và thường được phân thành các đơn vị lưu trữ kích thước cố định được gọi
là khối (blocks). Khối là đơn vị truyền nhận dữ liệu từ/ra đĩa. Một khối có thể chứa vài hạng mục
dữ liệu. Ta giả thiết không có hạng mục dữ liệu nào trải ra trên nhiều hơn một khối.
Các giao dịch nhập ( input ) thông tin từ đĩa vào bộ nhớ chính và xuất ( output ) thông tin
theo chiều ngược lại. Các thao tác nhập/xuất này được thực hiện theo đơn vị khối. Khối nằm trên
đĩa được gọi là khối vật lý (physical block), khối được trữ tạm trong bộ nhớ chính được gọi là
khối đệm (buffer block). Vùng bộ nhớ tạm chứa các khối dữ liệu được gọi là vùng đệm đĩa (disk
buffer).
Việc di chuyển khối giữa đĩa và bộ nhớ được thực hiện thông qua hai thao tác:
1. Input(B) chuyển khối vật lý B vào bộ nhớ chính.
2. Output(B) chuyển khối đệm B ra đĩa và thay thế cho khối vật lý tương ứng ở đó.
Hình dưới đây sẽ mô phỏng cho hai thao tác này
121
figure VI- 1
A
B
B
A
input(A)
output(B
)
Bộ nhớ chính
Đĩa
Các thao tác đọc ghi khối
Mỗi giao dịch T
i
có một vùng làm việc riêng ở đó các bản sao cùa tất cả các hạng mục dữ
liệu được truy xuất và cập nhật được lưu giữ. Vùng làm việc này được tạo ra khi giao dịch khởi
động. Nó bị xoá đi khi giao dịch bàn giao ( commit) hoặc huỷ bỏ (abort). Mỗi hạng mục dữ liệu x
được trữ trong vùng làm việc của giao dịch T
i
sẽ được ký hiệu là x
i
.
Giao dịch T
i
trao đổi với hệ
cơ sở dữ liệu bằng cách chuyển dữ liệu đến/ra vùng làm việc của nó sang vùng đệm của hệ thống.
Hai thao tác dùng để chuyển dữ liệu:
1. read(X) gán giá trị của hạng mục dữ liệu X cho biến cục bộ x
i
. Thao tác này được thực
hiện như sau:
a. Nếu khối B
X
chứa X không có trong bộ nhớ chính thì thực hiện thao tác input(B
X
).
b. Gán cho x
i
giá trị của X trong khối đệm.
2. write(X) gán giá trị của biến cục bộ x
i
cho hạng mục dữ liệu X trong khối đệm. Thao
tác này được thực hiện như sau:
a. Nếu khối B
X
chứa X không có trong bộ nhớ thì thực hiện thao tác input(B
X
).
b. Gán giá trị của x
i
cho X trong vùng đệm B
X
.
Chú ý rằng cả hai thao tác đều có thể đòi hỏi chuyển một khối từ đĩa vào bộ nhớ chính
nhưng không yêu cầu chuyển một khối từ bộ nhớ chính ra đĩa.
Đôi khi một khối đệm bị ghi bắt buộc ra đĩa do bộ quản lý vùng đệm cần không gian bộ
nhớ cho các mục đích khác hoặc do hệ cơ sở dữ liệu muốn phản ánh những thay đổi trong khối dữ
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
liệu B trên đĩa. Khi hệ cơ sở dữ liệu thực hiện thao tác Output(B) ta nói nó đã xuất bắt buộc khối
đệm B ra đĩa.
Khi một giao dịch cần truy xuất hạng mục dữ liệu X lần đầu, nó phải thực hiện Read(X).
Khi đó tất cả các cập nhật đối với X được thực hiện trên x
i
. Sau khi giao dịch truy xuất X lần cuối,
nó thực hiện Write(X) để ghi lại sự thay đổi của X trong CSDL.
Không nhất thiết phải thực hiện thao tác Output(B
X
) ngay sau khi thao tác write(X) hoàn
thành. Lý do là: khối đệm B
B
X
có thể còn chứa các hạng mục dữ liệu khác đang được truy xuất.
Nếu hệ thống bị hư hỏng ngay sau khi thao tác write(X) hoàn thành, nhưng trước khi thực hiện
thao tác Output(B
X
), giá trị mới của X sẽ không bao giờ được ghi ra đĩa, do đó, nó bị mất!
PHỤC HỒI VÀ TÍNH NGUYÊN TỬ:
Trở lại với ví dụ đơn giản về hệ thống ngân hàng: Giao dịch T
i
thực hiện việc chuyển $50
từ tài khoản A sang tài khoản B. Giả sử giá trị ban đầu của các tài khoản A và B là $1000 và
$2000. Giả sử hệ thống bị hư hỏng trong khi T
i
đang thực thi: sau khi thao tác output(B
A
) được
thực hiện và trước khi thực hiện thao tác output(B
B
) (B
B
A
và B
B
B
là hai khối đệm chứa hai hạng
mục A và B). Người ta có thể thực hiện một trong hai giải pháp phục hồi sau:
1. Thực hiện lại T
i
. Thủ tục này sẽ dẫn đến kết quả: giá trị của A là $900 thay vì phải là
$950. Do đó, hệ thống ở trong trạng thái không nhất quán.
2. Không thực hiện lại T
i
. Kết quả: giá trị của A và B tương ứng sẽ là $950 và $2000. Hệ
thống cũng trong trạng thái không nhất quán.
Vấn đề phát sinh ở chỗ: T
i
thực hiện nhiều thao tác sửa đổi nội dung cơ sở dữ liệu, do đó
cần nhiều thao tác xuất dữ liệu ra đĩa, nhưng lỗi phát sinh không cho phép tất cả các thao tác xuất
dữ liệu hoàn thành.
Giải pháp nhằm đạt được tính nguyên tử là: trước khi thực hiện các thao tác sửa đổi cơ sở
dữ liệu, cần ghi ra các thiết bị lưu trữ bền những thông tin mô tả các sửa đổi này. Cụ thể của giải
pháp trên sẽ được trình bày trong các phần V.4, V.5 và V.6.
PHỤC HỒI DỰA TRÊN SỔ GHI LỘ TRÌNH (Log-based recovery)
Một cấu trúc thường được dùng để ghi lại những thay đổi trên cơ sở dữ liệu là sổ ghi lộ
trình (log). Log là một dãy các mẩu tin lộ trình (log records). Một thao tác cập nhật trên cơ sở dữ
liệu sẽ được ghi nhận bằng một log record. Một log record kiểu mẫu chứa các trường sau:
• Định danh giao dịch ( transaction identifier ): định danh duy nhất của giao dịch thực
hiện hoạt động write
• Định danh hạng mục dữ liệu ( Data-item identifier ): định danh duy nhất của hạng
mục dữ liệu được viết ( thường là vị trí của hạng mục dữ liệu trên đĩa )
• Giá trị cũ ( Old value ): giá trị của hạng mục dữ liệu trước khi viết
• Giá trị mới ( New value ): giá trị hạng mục dữ liệu sẽ có sau khi viết
Có một vài log record đặc biệt mang các ý nghĩa riêng. Bảng sau đây chỉ ra một số loại log
record và ý nghĩa của chúng:
LOẠI LOG RECORD Ý NGHĨA
< T
i
start > Giao dịch T
i
đã khởi động.
< T
i
, X
j,
V
1
, V
2
> Giao dịch T
i
đã thực hiện thao tác ghi trên hạng mục dữ liệu X
j
, X
j
có giá trị V
1
trước khi ghi và nhận giá trị V
2
sau khi ghi.
< T
i
commit > Giao dịch T
i
đã bàn giao.
< T
i
abort > Giao dịch Ti
đã huỷ bỏ.
122
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
Mỗi khi một giao dịch thực hiện một thao tác ghi, trước tiên phải tạo ra một log record cho
thao tác ghi đó ( trong log file ), trước khi giao dịch thay đổi cơ sở dữ liệu. Như vậy, hệ thống có
cơ sở để huỷ bỏ ( undo ) một thay đổi đã được làm trên cơ sở dữ liệu bằng cách sử dụng trường
Old-value trong log record.
log phải được lưu trong những thiết bị lưu trữ bền. Mỗi một log record mới ngầm định sẽ
được thêm vào cuối tập tin log.
CẬP NHẬT TRÌ HOÃN CƠ SỞ DỮ LIỆU (Deferred
Database Modification):
Kỹ thuật cập nhật trì hoãn đảm bảo tính nguyên tử của giao dịch bằng cách ghi lại tất cả
những sửa đổi cơ sở dữ liệu vào sổ ghi lộ trình (log), nhưng trì hoãn sự thực hiện tất cả các thao
tác viết dữ liệu ra đĩa của giao dịch cho đến khi giao dịch bàn giao một phần (partially commits ).
Nhắc lại rằng: một giao dịch được gọi là bàn giao một phần khi hành động cuối cùng của nó được
thực hiện xong. Kỹ thuật cập nhật trì hoãn được trình bày trong phần này giả thiết rằng các giao
dịch được thực hiện một cách tuần tự.
Khi giao dịch bàn giao một phần, thông tin trên log kết hợp với giao dịch được sử dụng
trong việc viết trì hoãn. Nếu hệ thống có sự cố trước khi giao dịch hoàn thành việc thực hiện của
nó hoặc giao dịch bị bỏ dở khi đó thông tin trên log bị bỏ lơ.
Sự thực thi của một giao dịch được tiến triển như sau:
• Trước khi giao dịch T
i
bắt đầu thực hiện, một mẫu tin < T
i
start > được ghi ra sổ lộ trình.
• Trước khi T
i
thực hiện thao tác write(X), một mẫu tin < T
i
, X, V
2
> được ghi ra sổ lộ
trình.
• Cuối cùng, khi giao dịch T
i
bàn giao một phần, mẫu tin < T
i
commit > được ghi ra sổ lộ
trình.
Khi giao dịch bàn giao một phần, các mẫu tin trong sổ lộ trình kết hợp với giao dịch sẽ
được sử dụng để thực hiện việc ghi trì hoãn các hạng mục dữ liệu ra đĩa. Nhà thiết kế phải đảm
bảo rằng, trước khi hoạt động ghi hạng mục dữ liệu diễn ra, các mẫu tin log đã được ghi thành
công ra các thiết bị lưu trữ bền. Ngoài ra cũng cần để ý: kỹ thuật cập nhật trì hoãn chỉ cần ghi lại
giá trị mới của hạng mục dữ liệu (V
2
) mà thôi.
Để minh hoạ, ta sử dụng ví dụ hệ thống ngân hàng đơn giản. Gọi T
0
là giao dịch có nhiệm
vụ chuyển $50 từ tài khoản A sang tài khoản B, T
1
là giao dịch có nhiệm vụ rút $100 từ tài khoản
C. Giả sử giá trị ban đầu của các tài khoản A, B, C là $1000, $2000 và $700. Hành động của T
0
và
T
1
được mô tả như sau:
T
0
T
1
read(A)
A:=A-50
write(A)
read(B)
B:=B+50
write(B)
Read(C)
C:=C-100
write(C)
Giả thiết các giao dịch được thực hiện tuần tự: T
0
rồi tới T
1
. Một phần của sổ lộ trình ghi
lại những thông tin liên quan đến hoạt động của hai giao dịch trên được cho trong bảng dưới đây:
<T
0
start>
<T
0
,A, 950>
<T
0
,B, 2050>
123
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
<T
0
commit>
<T
1
start>
<T
1
,C, 600>
<T
1
commit>
figure VI- 2
Sau khi có sự cố xảy ra, hệ thống phục hồi sẽ tham khảo sổ lộ trình để chọn ra những giao
dịch nào cần được làm lại (redo). Giao dịch T
i
cần được làm lại khi và chỉ khi sổ nhật ký có chứa
cả hai mẫu tin <T
i
start> và <T
i
commit>.
Thủ tục làm lại giao dịch T
i
như sau:
• redo(T
i
) đặt giá trị mới cho tất cả các hạng mục dữ liệu được cập nhật bởi giao dịch T
i
.
Các giá trị mới sẽ được tìm thấy trong sổ lộ trình (log).
Hoạt động redo phải đồng hiệu lực ( idempotent ) có nghĩa là việc thực hiện nó nhiều lần
tương đương với việc thực hiện nó một lần.
Trở lại ví dụ vừa nêu, ta có bảng mô tả trạng thái của sổ ghi lộ trình và cơ sở dữ liệu như sau:
LOG CƠ SỞ DỮ LIỆU
<T
0
start>
<T
0
,A, 950>
< T
0
,B, 2050>
<T
0
commit>
<T
1
start>
<T
1
,C, 600>
<T
1
commit>
A=950
B=2050
C=600
figure VI- 3
Sau đây là một số tình huống mô phỏng:
1. Giả sử lỗi hệ thống xảy ra sau khi mẫu tin log cho hành động write(B) của giao dịch
T
0
vừa được ghi ra thiết bị lưu trữ bền. Khi hệ thống khởi động trở lại, sẽ không có
hành động “thực hiện lại giao dịch” nào cần phải làm, do không có mẫu tin ghi
commit nào xuất hiện trong sổ lộ trình. Nghĩa là giá trị của A,B và C vẫn giữ nguyên
là $1000, $2000 và $700.
2. Giả sử lỗi hệ thống xảy ra sau khi mẫu tin log cho hành động write(C) của giao dịch
T
1
vừa được ghi ra thiết bị lưu trữ bền. Khi hệ thống hoạt động trở lại, thủ tục redo(T
0
)
sẽ được thực hiện do có sự xuất hiện của mẫu tin <T
0
commit> trong sổ lộ trình. Sau
khi thủ tục này được thực thi, giá trị của A và B sẽ là $950 và $2050.
CẬP NHẬT TỨC THỜI CƠ SỞ DỮ LIỆU (Immediate Database
Modification):
Kỹ thuật cập nhật tức thời cho phép các thao tác sửa đổi cơ sở dữ liệu có quyền xuất dữ
liệu tức thời ra đĩa trong khi giao dịch vẫn còn ở trong trạng thái hoạt động ( active state ). Hành
động thay đổi nội dung dữ liệu tức thời của các giao dịch đang hoạt động được gọi là “những
thay đổi chưa được bàn giao” ( uncommitted modifications).
Sự thực thi của một giao dịch được tiến hành như sau:
• Trước khi giao dịch T
i
bắt đầu sự thực hiện, một mẫu tin < T
i
start > được ghi ra sổ lộ
trình.
124
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
• Trước khi T
i
thực hiện thao tác write(X), một mẫu tin < T
i
, X, V
1
, V
2
> được ghi ra sổ lộ
trình.
• Cuối cùng, khi giao dịch T
i
bàn giao một phần, mẫu tin < T
i
commit > được ghi ra sổ lộ
trình.
Cần phải đảm bảo rằng, trước khi hoạt động ghi hạng mục dữ liệu diễn ra, các mẫu tin log
đã được ghi thành công ra các thiết bị lưu trữ bền. Ngoài ra, cũng cần chú ý là mẫu tin log cho
hành động write(X) của giao dịch T
i
, tức là mẫu tin <T
i
, X, V
1
, V
2
> có chứa cả hai giá trị mới
(V
2
) và cũ (V
1
) của hạng mục dữ liệu X.
Trở lại với ví dụ trong phần V.4.1, ta có một phần của sổ lộ trình liên quan đến các hoạt
động của T
0
và T
1
như sau:
<T
0
start>
<T
0
, A, 1000, 950>
<T
0
, B, 2000, 2050>
<T
0
commit>
<T
1
start>
<T
1
, C, 700, 600>
<T
1
commit>
figure VI- 4
Bảng mô tả trạng thái của sổ ghi lộ trình và cơ sở dữ liệu như sau:
LOG CƠ SỞ DỮ LIỆU
<T
0
start>
<T
0
, A, 1000, 950>
< T
0
, B, 2000, 2050>
<T
0
commit>
<T
1
start>
<T
1
, C, 700, 600>
<T
1
commit>
A=950
B=2050
C=600
figure VI- 5
Kỹ thuật cập nhật tức thời sử dụng hai thủ tục khôi phục sau lỗi:
• undo(T
i
) đặt lại giá trị cũ cho tất cả các hạng mục dữ liệu được cập nhật bởi giao dịch T
i
.
Các giá trị cũ sẽ được tìm thấy trong sổ lộ trình ( log ).
• redo(T
i
) đặt giá trị mới cho tất cả các hạng mục dữ liệu được cập nhật bởi giao dịch T
i
.
Các giá trị mới sẽ được tìm thấy trong sổ lộ trình (log).
Sau khi lỗi xuất hiện, hệ thống phục hồi tham khảo sổ ghi để quyết định những giao dịch nào
cần được làm lại (redo) và những giao dịch nào cần được huỷ bỏ (undo).
• Giao dịch T
i
cần được huỷ bỏ khi sổ ghi chứa mẫu tin <T
i
start> nhưng không có mẫu tin
<T
i
commit>.
• Giao dịch T
i
cần được làm lại khi sổ ghi có chứa cả mẫu tin <T
i
start> lẫn mẫu tin <T
i
commit>.
Sau đây là một số tình huống mô phỏng:
125
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
1. Giả sử lỗi hệ thống xảy ra sau khi mẫu tin log cho hành động write(B) của giao dịch
T
0
vừa được ghi ra thiết bị lưu trữ bền. Khi hệ thống khởi động trở lại, nó sẽ tìm thấy
mẫu tin <T
0
start> trong sổ ghi, nhưng không có mẫu tin <T
0
commit> tương ứng. Do
đó giao dịch T
0
cần phải được huỷ bỏ. Nghĩa là thủ tục undo(T
0
) sẽ được gọi và giá trị
của A,B và C vẫn giữ nguyên là $1000, $2000 và $700.
2. Giả sử lỗi hệ thống xảy ra sau khi mẫu tin log cho hành động write(C) của giao dịch
T
1
vừa được ghi ra thiết bị lưu trữ bền. Khi hệ thống hoạt động trở lại, hai thủ tục
redo(T
0
) và undo(T
1
) sẽ được thực hiện. Do có sự xuất hiện của các mẫu tin <T
0
start>, <T
0
commit>, <T
1
start> trong sổ lộ trình. Sau khi hai thủ tục này được thực
thi, giá trị của A, B, C sẽ là $950,ì $2050 và $700.
ĐIỂM KIỂM SOÁT (Checkpoint):
Khi lỗi hệ thống xuất hiện, hệ thống phục hồi phải tham khảo sổ ghi lộ trình để quyết định
những giao dịch nào cần được làm lại và những giao dịch nào cần được huỷ bỏ. Theo nguyên lý
thì cần phải tìm kiếm toàn bộ nội dung của sổ ghi để có được quyết định trên.
Hướng tiếp cận trên sẽ gặp phải hai khó khăn lớn:
1. Quá trình tìm kiếm mất nhiều thời gian.
2. Theo các giải thuật vừa nêu, hầu hết các giao dịch cần được làm lại đã ghi những dữ
liệu được cập nhật ra cơ sở dữ liệu rồi. Việc làm lại chúng tuy không có hại gì, nhưng
lại làm cho tiến trình khôi phục trở nên lâu hơn.
Công cụ “điểm kiểm soát” (checkpoint) được sử dụng để cải thiện hiệu năng của quá trình
khôi phục. Trong quá trình hoạt động của mình, hệ thống sẽ duy trì một sổ ghi lộ trình bằng cách
sử dụng một trong hai kỹ thuật được giới thiệu trong phần V.4.1 và V.4.2. Ngoài ra, hệ thống còn
phải thực hiện một cách chu kỳ các hành động đặt điểm kiểm soát. Hành động này đòi hỏi một
dãy các thao tác sau:
1. Xuất ra lưu trữ bền tất cả các mẫu tin ghi nhận lộ trình ( log record ) đang nằm trong
bộ nhớ chính.
2. Xuất ra đĩa tất cả những khối đệm đã được cập nhật.
3. Xuất ra thiết bị lưu trữ bền một log-record <checkpoint>
Các giao dịch sẽ không được phép thực hiện bất kỳ thao tác cập nhật dữ liệu nào (ví dụ
như ghi các khối đệm, ghi các mẫu tin log) khi hành động đặt điểm kiểm soát đang được thực
hiện.
Sự hiện diện của điểm kiểm soát trong sổ ghi cho phép hệ thống tổ chức quá trình phục
hồi tốt hơn. Xét một giao dịch T
i
đã bàn giao (commit) trước một điểm kiểm soát. Ta có mẫu tin
<T
i
commit> xuất hiện trước mẫu tin <checkpoint>. Có nghĩa là tất cả các thay đổi mà T
i
đã làm
đối với cơ sở dữ liệu phải được thực hiện trước khi người ta đặt điểm kiểm soát trên. Vì vậy, trong
giai đoạn phục hồi sau lỗi, người ta không cần phải làm lại (redo) giao dịch T
i
.
Dựa trên điểm cải tiến này, ta cải tiến lại các kỹ thuật đã được trình bày trong phần V.4.1
và V.4.2 như sau:
1. Sau khi lỗi hệ thống xuất hiện, hệ thống phục hồi sẽ kiểm tra lại sổ lộ trình (log) để tìm
ra giao dịch T
i
thoả điều kiện: đó là giao dịch gần đây nhất được khởi động trước điểm
kiểm soát gần đây nhất. Qui trình tìm T
i
như sau: dò ngược trong sổ ghi lộ trình cho
đến khi tìm thấy mẫu tin <checkpoint> đầu tiên. Từ điểm kiểm soát này, lại tiếp
tục dò ngược trong sổ ghi cho đến khi tìm thấy mẫu tin <T
i
start> đầu tiên. Mẫu
tin này chỉ ra giao dịch T
i
.
2. Khi đã xác định được giao dịch T
i
rồi, các thủ tục undo và redo chỉ được áp dụng cho
giao dịch T
i
và các giao dịch diễn ra sau T
i.
Chúng ta ký hiệu tập những giao dịch vừa
nói là
T
.
3. Với kỹ thuật “Cập nhật tức thời cơ sở dữ liệu”, tiến trình phục hồi như sau:
126
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
• Với mọi giao dịch T
k
∈
T
mà không có mẫu tin <T
k
commit> trong sổ ghi lộ trình,
thực thi undo(T
k
).
• Với mọi giao dịch T
k
∈
T mà có mẫu tin <T
k
commit> trong sổ ghi lộ trình, thực thi
redo(T
k
).
4. Không cần thực thi thao tác undo khi sử dụng kỹ thuật “Cập nhật có trì hoãn cơ sở dữ
liệu”.
PHÂN TRANG BÓNG ( Shadow Paging ):
Kỹ thuật “Phân trang bóng” cũng là kỹ thuật cho phép phục hồi sau lỗi, nhưng ý tưởng
thực hiện khác với các kỹ thuật dựa trên sổ ghi lộ trình vừa trình bày ở phần trên.
Sau đây là một số khái niệm cần được giải trình:
• Trang (page) là gì? Như đã trình bày ở các phần trước, cơ sở dữ liệu được lưu vào
thiết bị lưu trữ không phai thành nhiều khối có kích thước cố định. Người ta gọi những
khối này là trang (page).
• Bảng trang và ý nghĩa của nó: Khái niệm trang đã nói được mượn từ lý thuyết về Hệ
điều hành. Cách quản lý trang cũng được thừa kế từ đó. Giả sử rằng cơ sở dữ liệu được
phân thành n trang và sự phân bố trên đĩa của chúng có thể không theo một thứ tự cụ
thể nào cả. Tuy nhiên, phải có cách để tìm ra nhanh và đúng trang thứ i của cơ sở dữ
liệu (1
≤
i ≤ n). Người ta dùng bảng trang (được mô phỏng như trong hình 5.2) cho
mục đích này. Bảng trang có n đầu vào (entry). Mỗi đầu vào ứng với một trang. Một
đầu vào chứa một con trỏ, trỏ đến một trang trên đĩa. Đầu vào đầu tiên chỉ đến trang
đầu tiên của cơ sở dữ liệu, đầu vào thứ hai chỉ đến trang thứ hai
Ý tưởng then chốt của kỹ thuật “Phân trang bóng” là người ta sẽ duy trì hai bảng trang
trong suốt chu kỳ sống của giao dịch, một bảng trang gọi là “bảng trang hiện hành” (current page
table), bảng trang còn lại gọi là “bảng trang bóng” (shadow page table). Khi giao dịch khởi động,
hai bảng trang này giống nhau. Bảng trang bóng sẽ không thay đổi suốt quá trình hoạt động của
giao dịch. Bảng trang hiện hành sẽ bị thay đổi mỗi khi giao dịch thực hiện tác vụ write. Tất cả các
tác vụ input và output đều sử dụng bảng trang hiện hành để định vị các trang trong đĩa. Điểm
quan trọng khác là nên lưu bảng trang bóng vào thiết bị lưu trữ bền.
127
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
1
2
3
4
5
6
7
.
.
.
n
Bảng trang
.
.
.
.
Trang trên đĩa
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
figure VI- 6
Giả sử giao dịch thực hiện tác vụ write(X) và hạng mục dữ liệu X được chứa trong trang thứ i.
Tác vụ write được thực thi như sau:
1. Nếu trang thứ i chưa có trong bộ nhớ chính, thực hiện input(X).
2. Nếu đây là lệnh ghi được thực hiện lần đầu tiên trên trang thứ i bởi giao dịch, sửa đổi
bảng trang hiện hành như sau:
n
a. Tìm một trang chưa được dùng trên đĩa.
b. Xoá trang vừa được tìm xong ở bước 2.a khỏi danh sách các khung trang tự do.
c. Sửa lại bảng trang hiện hành sao cho đầu vào thứ i trỏ đến trang mới vừa tìm được
trong bước 2.a.
3. Gán giá trị x
i
cho X trong trang đệm (buffer page).
Để bàn giao một giao dịch, cần làm các bước sau:
1. Đảm bảo rằng tất cả các trang đệm trong bộ nhớ chính đã được giao dịch sửa đổi phải
được xuất ra đĩa.
2. Xuất bảng trang hiện hành ra đĩa. chú ý là không được viết đè lên trang bóng
3. Xuất địa chỉ đĩa của bảng trang hiện hành ra vị trí cố định trong thiết bị lưu trữ bền. Vị
trí này chính là nơi chứa địa chỉ của bảng trang bóng. Hành động này sẽ ghi đè lên địa
chỉ của bảng trang bóng cũ. Như vậy, bảng trang hiện hành sẽ trở thành bảng trang
bóng và giao dịch được bàn giao.
Nếu sự cố xảy ra trước khi hoàn thành bước thứ 3, hệ thống sẽ trở về trạng thái trước khi
giao dịch được thực hiện. Nếu sự cố xảy ra sau khi bước thứ 3 hoàn thành, hiệu quả của giao dịch
được bảo tồn; không cần thực hiện thao tác redo nào cả. Ví dụ trong hình 5.3 dưới đây mô phỏng
lại trạng thái của các bảng trang hiện hành và bảng trang bóng khi giao dịch thực hiện thao tác ghi
lên trang thứ tư của cơ sở dữ liệu có 10 trang.
128
1
1
2
2
3
3
4
4
5
5
6
6
7
7
8
8
9
9
10
Bảng trang bóng
10
Bảng trang hiện hành
Các trang trên đĩa
figure VI- 7
Ví dụ về bảng trang bóng và bảng trang hiện hành
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
Kỹ thuật phân trang bóng có một số điểm lợi hơn so với các kỹ thuật dựa trên sổ ghi:
1. Không mất thời gian ghi ra các log record.
2. Khôi phục sau sự cố nhanh hơn, do không cần các thao tác undo hoặc redo.
Tuy nhiên kỹ thuật phân trang bóng lại có nhiều nhược điểm:
• Tổng phí bàn giao. Xuất nhiều khối ra đĩa: các khối dữ liệu hiện tại, bảng trang hiện
hành, địa chỉ của bảng trang hiện hành. Trong kỹ thuật dựa vào sổ ghi, chỉ cần xuất ra các
log record, mà thông thường, các log record này vừa đủ chứa trong một khối.
• Sự phân mảnh dữ liệu. Trong chương II có trình bày chiến lược gom cụm vật lý các
trang dữ liệu có liên quan với nhau. Sự gom cụm này cho phép việc vận chuyển dữ liệu
nhanh hơn. Kỹ thuật phân trang bóng lại đổi vị trí của trang khi trang này bị sửa đổi. Điều
này dẫn đến tính gom cụm dữ liệu không còn, hoặc phải dùng các giải pháp gom cụm lại
rất mất thời gian.
• Phải thu nhặt rác. Mỗi khi giao dịch bàn giao, các trang chứa giá trị dữ liệu cũ đã bị sửa
đổi bởi giao dịch sẽ trở thành không truy xuất được. Vì chúng không thuộc danh sách các
trang tự do nhưng cũng không chứa dữ liệu hữu dụng. Ta gọi chúng là “rác”. Cần thiết
phải định kỳ tìm kiếm và thêm các trang rác vào trong danh sách các trang tự do. Hành
động này được gọi là “thu nhặt rác”.
• Ngoài ra, kỹ thuật phân trang bóng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn kỹ thuật dựa vào sổ ghi khi
cần được tinh chỉnh để đáp ứng cho yêu cầu phục vụ song song cho nhiều giao dịch. Vì
những lý do trên, kỹ thuật phân trang bóng không được sử dụng rộng rãi lắm.
PHỤC HỒI VỚI CÁC GIAO DỊCH CẠNH TRANH
Cho dến bây giờ, ta chỉ xét các kỹ thuật phục hồi áp dụng cho các giao dịch được thực thi
tuần tự. Bây giờ chúng ta sẽ tìm cách cải tiến kỹ thuật dựa vào sổ ghi nhằm đáp ứng yêu cầu phục
vụ đồng thời cho nhiều giao dịch cạnh tranh. Ý tưởng thực hiện là: Không quan tâm đến số lượng
các giao dịch cạnh tranh, hệ thống vẫn sử dụng một vùng đệm đĩa và một sổ ghi lộ trình. Các khối
đệm được chia sẻ bởi tất cả các giao dịch. Chúng ta sẽ cho phép việc cập nhật tức thời cơ sở dữ
liệu và cho phép một khối đệm có nhiều hạng mục dữ liệu được cập nhật bởi một hoặc nhiều giao
dịch.
TRAO ĐỔI VỚI ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Cơ chế phục hồi phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế điều khiển cạnh tranh được sử dụng. Để
cuộn lại một giao dịch thất bại ( failed transaction ), người ta phải huỷ bỏ ( undo) các cập nhật
được thực hiện bởi giao dịch. Giả sử giao dịch T
0
phải bị cuộn lại và một hạng mục dữ liệu Q đã
bị T
0
thay đổi giá trị và cần phải được đặt lại giá trị cũ. Bằng cách sử dụng kỹ thuật dựa vào sổ ghi
lộ trình, ta trả lại giá trị cũ cho Q bằng cách sử dụng một log record. Giả thiết lại có giao dịch thứ
hai T
1
cũng vừa cập nhật Q xong, trước khi T
0
bị cuộn lại. Như vậy, sự cập nhật được thực hiện
bởi T
1
sẽ bị mất đi nếu T
0
bị cuộn lại.
Biện pháp khắc phục là: nếu một giao dịch T đã cập nhật một hạng mục dữ liệu Q, thì
không một giao dịch nào khác có quyền cập nhật lên hạng mục dữ liệu đó trong khi T chưa bàn
giao hoặc chưa bị cuộn lại. Chúng ta có thể đảm bảo yêu cầu trên được thoả bằng cách sử dụng kỹ
thuật ”chốt hai kỳ nghiêm ngặt” (strict two-phase locking).
CUỘN LẠI GIAO DỊCH:
Phương pháp để cuộn lại (rollback) một giao dịch T
i,
sử
dụng sổ ghi, trong môi trường
cạnh tranh như sau:
1. Dò ngược sổ ghi lộ trình để tìm ra các log record có dạng <T
i
, Xj, V
1
, V
2
>.
129
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
2. Hạng mục dữ liệu Xj sẽ được trả lại giá trị cũ V
1
.
3. Việc dò tìm kết thúc khi tìm thấy mẫu tin <T
i
start>.
Việc dò ngược sổ ghi lộ ¹eó một ý nghĩa rất quan trọng, do một giao dịch có thể đã cập
nhật một hạng mục dữ liệu nhiều hơn một lần. Một ví dụ: Xét một cặp log records như sau:
<T
i
, A, 10, 20>
<T
i
, A, 20, 30>
Cặp mẫu tin này thể hiện hai hành động cập nhật hạng mục dữ liệu A của giao dịch T
i
.
Nếu dò ngược sổ ghi lộ trình, A sẽ được trả về giá trị đúng là 10. Ngược lại, A sẽ nhận giá trị sai
là 20.
Nếu kỹ thuật strict two-phase locking được sử dụng để điều khiển cạnh tranh, thì việc trả
về giá trị cũ cho một hạng mục dữ liệu sẽ không xoá đi những tác động của các giao dịch khác lên
hạng mục dữ liệu này.
CÁC ĐIỂM KIỂM SOÁT
Ở phần V.4.3, người ta đã sử dụng điểm kiểm soát (checkpoint) để làm giảm số lượng các
log record mà hệ thống phục hồi phải dò tìm trong sổ ghi trong giai đoạn phục hồi sau lỗi. Nhưng,
do đã giả thiết là không có cạnh tranh nên giải pháp V.4.3 chỉ xét đến những giao dịch sau trong
quá trình khôi phục lỗi:
• Những giao dịch được khởi động sau điểm kiểm soát gần đây nhất.
• Một giao dịch (nếu có) đang trong trạng thái hoạt động (active) tại thời điểm người ta đặt
điểm kiểm soát gần đây nhất.
Tình huống càng phức tạp khi các giao dịch được thực thi cạnh tranh. Có nghĩa là tại thời
điểm đặt điểm kiểm soát, có thể có nhiều giao dịch đang ở trong trạng thái hoạt động.
Trong một hệ thống xử lý các giao dịch cạnh tranh, ta yêu cầu rằng: một mẫu tin ghi dấu kiểm
soát (checkpoint log record) phải có dạng như sau:
<checkpoint L>
Trong đó L là danh sách các giao dịch đang hoạt động tại thời điểm đặt điểm kiểm soát.
Một lần nữa, ta qui ước rằng: khi hành động đặt điểm kiểm soát đang diễn ra, các giao
dịch không được phép thực hiện bất kỳ thao tác cập nhật dữ liệu nào cả trên các khối đệm lẫn
trên sổ ghi lộ trình.
Tuy nhiên, qui ước trên lại gây phiền toái, bởi vì các giao dịch phải ngừng hoạt động khi
đặt điểm kiểm soát. Một kỹ thuật nâng cao giải quyết điểm phiền toái này là “Điểm kiểm soát
mờ” (fuzzy checkpoint).
PHỤC HỒI KHỞI ĐỘNG LẠI ( Restart Recovery )
Khi hệ thống phục hồi sau lỗi, nó tạo ra hai danh sách: undo-list bao gồm các giao dịch
cần phải huỷ bỏ và redo-list bao gồm danh sách các giao dịch cần được làm lại.
Qui trình tạo lập hai danh sách redo-list, undo-list được thực hiện như sau:
1. Đầu tiên, chúng sẽ rỗng.
2. Dò ngược sổ ghi lộ trình, kiểm tra các mẫu tin cho đến khi tìm được mẫu tin
<checkpoint> đầu tiên:
a. Với mỗi mẫu tin được tìm thấy theo dạng <T
i
commit>, ta thêm T
i
vào trong redo-
list.
b. Với mỗi mẫu tin được tìm thấy theo dạng <T
i
start>, nếu T
i
không thuộc redo-list
thì thêm T
i
vào trong undo-list.
c. Khi tất cả các log record đã được xem xét, ta kiểm tra danh sách L trong mẫu tin
<checkpoint L>. Với mọi giao dịch T
i
trong L, nếu T
i
không thuộc redo-list thì
thêm T
i
vào undo-list.
130
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
H Ệ QUẢ N TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆ U
Khi hai danh sách redo-list, undo-list được thiết lập xong, tiến trình phục hồi được tiến
hành như sau:
1. Dò ngược lại sổ ghi và thực hiện thủ tục undo đối với mỗi log record thuộc về giao
dịch T
i
trong undo-list. Các log record của các giao dịch nằm trong danh sách redo-list
sẽ bị bỏ qua trong giai đoạn này. Việc dò ngược sẽ ngưng khi mẫu tin <T
i
start> được
tìm thấy cho mọi giao dịch T
i
thuộc danh sách undo-list.
2. Định vị mẫu tin <checkpoint L> gần đây nhất trong log.
3. Dò sổ ghi theo chiều xuôi bắt đầu từ mẫu tin <checkpoint L> gần đây nhất và thực
hiện thủ tục redo đối với mỗi log record thuộc về giao dịch T
i
nằm trong danh sách
redo-list. Trong giai đoạn này, bỏ qua các log record của các giao dịch thuộc danh
sách undo-list.
Việc xử lý ngược ở bước 1 là rất quan trọng, nhằm đảm bảo kết quả trả về của cơ sở dữ
liệu là đúng.
Sau khi tất cả các giao dịch trong danh sách undo-list bị huỷ bỏ, tất cả các giao dịch trong
danh sách redo-list sẽ được làm lại. Sau khi tiến trình phục hồi thành công, xử lý giao dịch được
tiếp tục.
Việc thực hiện huỷ bỏ các giao dịch trong undo-list trước khi làm lại các giao dịch trong
redo-list có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu làm ngược lại, vấn đề sau sẽ phát sinh: Giả sử hạng mục
dữ liệu A có giá trị khởi đầu là 10. Giao dịch T
i
đổi A thành 20 sau đó T
i
bị huỷ bỏ. Sau đó, một
giao dịch khác T
j
cập nhật A thành 30. Đến đây thì hệ thống bị lỗi ngừng hoạt động. Hiện trạng
của sổ ghi tại thời điểm hệ thống bị lỗi như sau:
<T
i
, A, 10, 20>
<T
j
, A, 10, 30>
<T
j
commit>
Nếu thực hiện redo trước, A sẽ được đặt giá trị 30. Sau đó thực hiện undo, A sẽ được đặt
giá trị 10, mà giá trị này sai. Giá trị cuối cùng của A phải là 30.
ĐIỂM KIỂM SOÁT MỜ (fuzzy checkpoint):
Kỹ thuật fuzzy checkpoint cho phép các giao dịch được cập nhật dữ liệu trên các khối đệm
khi checkpoint-record đã được viết xong nhưng trước thời điểm các khối đệm đã sửa đổi được ghi
ra đĩa.
Ý tưởng thực hiện fuzzy checkpoint như sau: Thay vì phải dò ngược sổ ghi để tìm mẫu tin
checkpoint, ta sẽ lưu vị trí của mẫu tin checkpoint cuối cùng trong sổ ghi vào một chỗ cố định
trong đĩa gọi là last_checkpoint. Tuy nhiên, thông tin này sẽ không được cập nhật khi một mẫu
tin checkpoint được ghi ra đĩa. Thay vào đó, trước khi một mẫu tin checkpoint được ghi ra sổ ghi,
ta tạo ra một danh sách các khối đệm bị sửa đổi. Thông tin last_checkpoint được cập nhật chỉ sau
khi tất cả các khối đệm bị sửa đổi được ghi ra đĩa.
last_checkpoint chỉ được dùng cho mục đích undo.
131
CHƯƠNG VI HỆ THỐNG PHỤC HỒI
Trang
Kế toán TSCĐ tại công ty cơ khí xây dựng đãi mỗ
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
4. Nhiệm vụ của kế toán TSCĐ:
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, kế toán TSCĐ phải đợc thực hiện tốt các
nhiệm vụ sau:
- Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu một cách chính xác đầy đủ,
kịp thời về số lợng, hiện trạng và giá trị TSCĐ hiện có, tình hình tăng, giảm và di
chuyển TSCĐ trong nội bộ doanh nghiệp, giám sát chặt chẽ việc mua sắm, đầu t,
việc bảo quản và sử dụng TSCĐ ở doanh nghiệp.
- Phản ánh kịp thời giá trị hao mòn TSCĐ trong quá trình sử dụng, tính toán
và phân bổ chính xác số trích khấu hao TSCĐ tính vào các đối tợng chịu chi phí
sản xuất kinh doanh.
- Tham gia lập kế hoạch sửa chữa, dự toán chi phí sửa chữa TSCĐ, phản ánh
chính xác chi phí thực tế về sửa chữa TSCĐ khi cần thiết tổ chức phân tích tình
hình bảo quản và sử dụng TSCĐ ở doanh nghiêp.
II. Phân loại và đánh giá TSCĐ
1. Phân loại TSCĐ:
TSCĐ trong một doanh nghiệp rất đa dạng, có sự khác biệt về tính chất kỹ
thuật, công dụng, thời gian sử dụng Để thuận lợi cho quản lý và hạch toán
TSCĐ, cần phân loại TSCĐ theo nhiều cách thức khác nhau:
1.1 Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu:
Căn cứ vào quyền sở hữu, TSCĐ của doanh nghiệp đợc chia làm 2 loại:
TSCĐ tự có và TSCĐ thuê ngoài.
- TSCĐ tự có: Là những TSCĐ hữu hình, vô hình, do mua sắm, xây dựng và
hình thành từ nguồn vốn ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp, nguồn vốn vay, nguồn
vốn liên doanh cũng nh các TSCĐ đợc biếu, tặng, viện trợ không hoàn lại.
- TSCĐ thuê ngoài: Là TSCĐ đi thuê để sử dụng trong một thời gian nhất
định theo hợp đồng thuê tài sản. Tuỳ theo điều khoản của hợp đồng thuê mà TSCĐ
đi thuê đợc chia thành TSCĐ thuê tài chính và TSCĐ thuê hoạt động.
TSCĐ thuê tài chính cũng đợc coi nh TSCĐ của doanh nghiệp, đợc phản
ánh trên bảng cân đối kế toán và doanh nghiệp có trách nhiệm quản lý, sử dụng và
trích khấu hao nh các TSCĐ tự có của doanh nghiệp.
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
TSCĐ thuê hoạt động thì bên đi thuê chỉ đợc quản lý, sử dụng trong thời
gian hợp đồng và phải hoàn trả cho bên cho thuê khi kết thúc hợp đồng.
1.2 Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện và theo đặc trng kỹ thuật:
Căn cứ vào hình thái biểu hiện và theo đặc trng kỹ thuật:
Căn cứ vào hình thái biểu hiện, TSCĐ đợc chia thành 2 loại lớn: TSCĐ hữu
hình và TSCĐ vô hình.
1.2.1 Tài sản cố định hữu hình:
TSCĐ hữu hình là các TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể, TSCĐ hữu hình có
thể phân loại theo kết cấu bao gồm:
- Nhà cửa, vật kiến trúc: Gồm nhà làm việc, nhà ở, nhà kho, xởng sản xuất
- Máy móc, thiết bị: Gồm máy móc thiết bị động lực và các loại máy móc
thiết bị khác dùng trong sản xuất kinh doanh.
- Phơng tiện vận tải, truyền dẫn: ô tô, máy kéo, tàu thuyền dùng trong
vận chuyển, hệ thống ống dẫn nớc, dàn hơi, hệ thống đờng dẫn điện thuộc
TSCĐ của doanh nghiệp.
- Thiết bị, dụng cụ quản lý: Gồm các thiết bị sử dụng trong sản xuất kinh
doanh, quản lý hành chính, dụng cụ đo lờng, thí nghiệm.
- Cây lâu năm, gia súc cơ bản: Gồm cà phê, chè, cao su Trâu, bò, ngựa
cày kéo
- TSCĐ hữu hình khác: Gồm các loại TSCĐ cha đợc xếp vào các loại TSCĐ
nói trên (tác phẩm nghệ thuật, sách báo chuyên môn kỹ thuật )
1.2.2 TSCĐ vô hình:
TSCĐ vô hình là những TSCĐ không có hình thái vật chất, nó thể hiện một
lợng giá trị đã đợc đầu t chi trả nhằm có đợc lợi ích hoặc các nguồn lực có tính
kinh tế mà giá trị chúng xuất phát từ các đặc điểm của các doanh nghiệp. Cụ thể
là:
- Quyền sử dụng đất
- Chi phí thành lập doanh nghiệp
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
- Bằng phát minh sáng chế
- Chi phí nghiên cứu phát triển
- Chi phí về lợi thế thơng mại
- TSCĐ vô hình khác: Là các chi phí mà doanh nghiệp chi ra để có đợc
các tài sản vô hình khác cha nêu ở trên nh: Quyền đặc nhợng, quyền
thuê nhà, bản quyền tác giả
1.3 Phân lại TSCĐ theo tình hình sử dụng
Theo cách này TSCĐ đợc chia thành:
- TSCĐ đang dùng trong sản xuất kinh doanh: Bao gồm tất cả các TSCĐ
đang dùng trong sản xuất kinh doanh (kể cả bộ phận trực tiếp hoặc quản lý).
- TSCĐ đang dùng ngoài sản xuất kinh doanh: Gồm các TSCĐ dùng cho
đời sống tinh thần của công nhân viên: th viện, nhà trẻ
- TSCĐ không cần dùng: Là các TSCĐ đang dùng đợc nhng doanh nghiệp
không có nhu cầu sử dụng hoặc đang chờ quyết định cho chuyển đi hoặc nhợng
bán.
- TSCĐ h hỏng xin thanh lý: Là những TSCĐ h hỏng không còn dùng đợc
phải xin thanh lý để thu hồi vốn.
- TSCĐ bảo quản hộ, cất giữ hộ, cất giữ hộ cho Nhà nớc.
2. Đánh giá TSCĐ:
Đánh giá TSCĐ là biểu hiện giá trị TSCĐ bằng tiền theo những nguyên tắc
nhất định. Đánh giá TSCĐ là điều kiện cần thiết để kế toán TSCĐ tính khấu hao và
phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp.
2.1. Nguyên tắc đánh giá:
Xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu quản lý TSCĐ trong hoạt động sản xuất
kinh doanh. TSCĐ trong doanh nghiệp đợc đánh giá theo nguyên giá và giá trị còn
lại.
2.2. Phơng pháp đánh giá:
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
Đánh giá TSCĐ là xác định giá trị ghi sổ của tài sản. Trong mọi trờng hợp
TSCĐ phải đợc đánh giá theo nguyên giá và giá trị còn lại, do vậy kế toán TSCĐ
thực hiện việc ghi sổ phải bảo đảm phản ánh đợc cả 3 chỉ tiêu giá trị của TSCĐ là:
Nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại của TSCĐ.
Giá trị còn lại = Nguyên giá - giá trị hao mòn.
2.2.1. Đánh giá TSCĐ theo nguyên giá:
Nguyên giá TSCĐ là toàn bộ các chi phí thực tế đã bỏ ra để có TSCĐ cho
tới khi đa TSCĐ đi vào hoạt động bình thờng. Nói cách khác đó là giá trị ban đầu,
đầy đủ của TSCĐ khi đa TSCĐ vào sử dụng.
Nguyên giá TSCĐ bao gồm:
- Nguyên giá TSCĐ mua sắm
- Nguyên giá TSCĐ nhận của đơn vị khác góp vốn liên doanh
- Nguyên giá TSCĐ đợc cấp
- Nguyên giá TSCĐ đợc tặng, biếu, viện trợ không hoàn lại
- Nguyên giá TSCĐ tự xây dựng, chế tạo
Kế toán TSCĐ phải triệt để tôn trọng nguyên tắc ghi theo nguyên giá.
Nguyên giá TSCĐ không thay đổi trong suốt quá trình sử dụng và thời gian tồn tại
của chúng, trừ các trờng hợp sau:
+ Đánh giá lại TSCĐ
+ Xây dựng, trang bị thêm TSCĐ
+ Cải tạo, nâng cấp làm tăng năng lực hoạt động và kéo dài tuổi thọ của
TSCĐ.
+ Tháo dỡ bớt các bộ phận làm giảm nguyên giá TSCĐ
2.2.2. Đánh giá TSCĐ theo giá trị còn lại:
Giá trị còn lại của TSCĐ chính là vốn đầu t cha thu hồi của TSCĐ, nó đợc
tính bằng nguyên giá trừ (-) số đã hao mòn của TSCĐ.
Giá trị còn lại của TSCĐ = Nguyên giá của TSCĐ - Số khấu hao luỹ kế
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
Trờng hợp nguyên giá TSCĐ đợc đánh giá lại thì giá trị còn lại của TSCĐ đ-
ợc xác định lại. Giá trị còn lại của TSCĐ sau khi đánh giá đợc điều chỉnh theo
công thức sau:
Giá trị còn lại
của TSCĐ sau
khi đánh giá lại
=
Giá trị còn lại
của TSCĐ trớc
khi đánh giá lại
x
Giá trị đánh giá lại của TSCĐ
Nguyên giá của TSCĐ
III - Kế toán chi tiết TSCĐ:
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, TSCĐ của doanh nghiệp th-
ờng xuyên biến động. Để quản lý tốt TSCĐ kế toán cần theo dõi chặt chẽ, phản
ánh mọi trờng hợp biến động tăng, giảm TSCĐ. Yêu cầu quản lý TSCĐ trong
doanh nghiệp đòi hỏi phải kế toán chi tiết TSCĐ. Công tác, kế toán chi tiết TSCĐ
là khâu rất quan trọng, đồng thời cũng phức tạp, nhất là trong toàn bộ công tác kế
toán TSCĐ. DO đó tổ chức kế toán chi tiết TSCĐ một mặt phải dựa vào các cách
phân loại TSCĐ, mặt khác phải căn cứ vào cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh,
yêu cầu phân cấp quản lý, chế độ hạch toán kinh tế nội bộ áp dụng trong các
doanh nghiệp.
Nội dung chính của kế toán chi tiết TSCĐ bao gồm:
1. Đánh số TSCĐ:
Đánh số TSCĐ là quy định cho mỗi TSCĐ một số liệu tơng ứng theo những
nguyên tắc nhất định. Việc đánh giá số TSCĐ đợc tiến hành theo từng đối tợng
TSCĐ (còn gọi là đối tợng ghi TSCĐ).
Mỗi đối tợng ghi TSCĐ không phân biệt đang sử dụng hay dự trữ đều phải
có số liệu riêng. Số liệu của mỗi đối tợng ghi trong TSCĐ không thay đổi trong
suốt thời gian bảo quan, sử dụng tại đơn vị. Số liệu của những TSCĐ đã thanh lý
hoặc nhợng bán không dùng lại cho những TSCĐ mới tiếp nhận.
2. Kế toán chi tiết TSCĐ ở bộ phận kế toán và các địa điểm sử dụng,
bảo quản:
- Kế toán chi tiết TSCĐ ở bộ phận kế toán của doanh nghiệp đợc thực hiện ở
thẻ hoặc sổ chi tiết TSCĐ.
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
Căn cứ để ghi sổ chi tiết hoặc thẻ TSCĐ là các biên bản giao nhận TSCĐ,
biên bản đánh giá lại TSCĐ, biên bản tính và phân bổ khấu hao TSCĐ, biên bản
thanh lý TSCĐ và các chứng từ khác có liên quan đến quá trình thu mua, vận
chuyển TSCĐ.
- Kế toán chi tiết TSCĐ ở địa điểm sử dụng, bảo quản đợc thực hiện ở sổ
TSCĐ theo đơn vị sử dụng.
Để quản lý, theo dõi TSCĐ theo địa điểm sử dụng ngời ta mở "sổ TSCĐ
theo đơn vị sử dụng" cho từng đơn vị bộ phận. Sổ này dùng để theo dõi tình hình
tăng, giảm TSCĐ trong suốt thời gian sử dụng tại đơn vị trên cơ sở các chứng từ
gốc để tăng, giảm TSCĐ.
Trên cơ sở các chứng từ đã lập đúng thủ tục, bảo đảm tính hợp lý, hợp pháp,
kế toán mở thẻ TSCĐ (mẫu 02- TSCĐ) hay sổ chi tiết TSCĐ gồm các nội dung
sau: Nh tên TSCĐ, ký mã hiệu, năm sản xuất, nguyên giá TSCĐ và giá trị hao
mòn, phụ tùng, dụng cụ, đồ nghề kèm theo, phần ghi giảm TSCĐ.
(Xem phụ lục)
IV - Kế toán tổng hợp tăng giảm TSCĐ
Tài khoản sử dụng:
TK 211: TSCĐ hữu hình
TK 212: TSCĐ thuê tài chính
TK 213: TSCĐ vô hình
TK 214: Hao mòn TSCĐ
Sổ kế toán sử dụng:
Tuỳ theo hình thức kế toán mà doanh nghiệp áp dụng các nghiệp vụ liên
quan đến các loại TSCĐ đợc phản ánh ở các sổ kế toán phù hợp.
- Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung thì gồm các
loại sổ kế toán chủ yếu sau: Sổ nhật ký chung, sổ cái các tài khoản, các sổ, thẻ kế
toán chi tiết,
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
- Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức chứng từ ghi sổ thì gồm các loại sổ
kế toán chủ yếu sau: Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sổ cái, các sổ, thẻ kế toán chi
tiết,
- Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức nhật ký chứng từ thì gồm các loại sổ
kế toán chủ yếu sau: Nhật ký chứng từ, bảng kê, sổ cái hoặc thẻ kế toán chi tiết,
1. Kế toán tổng hợp tăng TSCĐ hữu hình.
Tài khoản sử dụng: TK 211 - TSCĐ hữu hình
Tài khoản 211 dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động, tăng
giảm và số hiện có theo nguyên giá TSCĐ.
Kết cấu TK 211 nh sau:
- Bên nợ: + Nguyên giá của TSCĐ hữu hình tăng
+ Điều chỉnh tăng nguyên giá TSCĐ hữu hình
- Bên có: + Nguyên giá của TSCĐ hữu hình giảm
+ Điều chỉnh giảm nguyên giá TSCĐ hữu hình
- Số d nợ: Nguyên giá của TSCĐ hữu hình hiện có
Tài khoản 211 có 6 tài khoản cấp 2 sau:
TK 2112: Nhà cửa, vật kiến trúc
TK 2113: Máy móc, thiết bị
TK 2114: Phơng tiện vận tải, truyền dẫn
TK 2115: Thiết bị, dụng cụ quản lý
TK 2116: Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
TK 2118: TSCĐ hữu hình khác
Ngoài ra kế toán còn sử dụng TK411 "nguồn vốn kinh donah" và nhiều tài
khoản liên quan khác nh: TK111, TK112, TK131, TK331, TK441, TK241
1.1. Trờng hợp mua sắm TSCĐ hữu hình:
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
- Căn cứ vào các chứng từ nh hoá đơn, phiếu chi, đồng thời phản ánh thuế
GTGT đầu vào đợc khấu trừ (nếu có) và ghi sổ:
Nợ TK211 - TSCĐ hữu hình (nguyên giá)
Nợ TK113 - Thuế GTGT đợc khấu trừ
Có TK111,112 - Nếu trả bằng tiền mặt hoặc tiền gửi ngân hàng.
Có TK331 - Phải trả ngời bán
Có TK341 - Vay dài hạn
- Trờng hợp dùng nguồn vốn đầu t xây dựng cơ bản và các quỹ doanh
nghiệp mua sắm TSCĐ thì đồng thời với việc ghi tăng TSCĐ phải có bút toán
chuyển nguồn vốn nh sau:
Nợ TK414 - Quỹ phát triển kinh doanh
Nợ TK 441 - Nguồn vốn đầu t XDCB
Có TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh
1.2. Do công trình XDCB hoàn thành, nghiệm thu và bàn giao đa vào sử
dụng:
- Căn cứ vào giá trị quyết toán công trình kế toán ghi:
Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình
Có TK 241 - XDCB dở dang
- Trờng hợp xây dựng bằng nguồn vốn XDCB và bằng quỹ đầu t phat triển:
Nợ TK414 - Quỹ đầu t phát triển
Nợ TK441 - Nguồn vốn đầu t XDCB
Có TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh
- Trờng hợp sử dụng nguồn vốn khấu hao cơ bản
Ghi có TK 009 (ghi đơn)
- Trờng hợp giá trị công trình XDCB dở dang hoàn thành cần đánh giá thì
ghi:
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình
Có TK411 - Nguồn vốn kinh doanh
Nếu phần chênh lệch giảm thì kế toán ghi bút toán ngợc lại
1.3. Trờng hợp TSCĐ tăng do các đơn vị khác góp vốn liên doanh, biếu,
tặng
- Đối với TSCĐ hữu hình mới, kế toán ghi:
Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình
Có TK411 - Nguồn vốn kinh doanh
- Đối với TSCĐ hữu hình đã sử dụng, kế toán ghi:
Nợ TK 211 - Theo nguyên giá
Có TK411 - Theo giá trị còn lại
Có TK214 - Theo giá trị hao mòn
1.4. Trờng hợp tăng TSCĐ do trớc đây góp vốn liên doanh với đơn vị
khác giờ nhận lại, kế toán ghi:
Nợ TK211 - TSCĐ hữu hình
Có TK 128 - Đầu t ngắn hạn khác
Có TK222 - Góp vốn liên doanh (trờng hợp góp vốn LD dài hạn)
1.5. Trờng hợp tăng TSCĐ do đánh giá lại:
- Nếu điều chỉnh tăng nguyên giá, kế toán ghi:
Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình
Có TK412 - Chênh lệch đánh giá lại tài sản
- Nếu điều chỉnh giá trị hao mòn
Nợ TK412 - Chênh lệch đánh giá lại tài sản
Có TK214 - Hao mòn TSCĐ
1.6. Trờng hợp tăng TSCĐ do kiểm kê phát hiện thừa:
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
- Nếu do ghi sót cha vào sổ sẽ căn cứ vào hồ sơ TSCĐ, xác định nguyên giá
ghi:
Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình
Có TK411 - Nguồn vốn kinh doanh
Đồng thời ghi:
Nợ TK627 (6274)
Nợ TK641 (6414)
Nợ TK642 (6424)
Nợ TK 241
Có TK214 (2141)
- Nếu TSCĐ thừa là do tài sản của đơn vị khác cần phải thông báo ngay cho
chủ sở hữu nhận lại.
- Nếu TSCĐ thừa không rõ nguyên nhân cần báo cáo cho cơ quan chủ quản
và cơ quan tài chính cùng cấp biết để xử lý.
2. Kế toán tổng hợp tăng TSCĐ vô hình
Kế toán tăng, giảm TSCĐ vô hình đợc ghi chép trên tài khoản sau:
Tài khoản sử dụng: TK213 - TSCĐ vô hình
Kết cấu của TK 213 nh sau:
- Bên nợ: + Nguyên giá của TSCĐ vô hình tăng
+ Điều chỉnh tăng nguyên giá TSCĐ vô hình
- Bên có: +Nguyên giá của TSCĐ vô hình giảm
+Điều chinh giảm nguyên giá TSCĐ vô hình
- Số d nợ: Nguyên giá của TSCĐ vô hình hiện có
Tài khoản 213 có 6 tài khoản cấp 2 sau:
TK 2131: Quyền sử dụng đất
TK 2132: Chi phí thành lập, chuẩn bị sản xuất
Trần Văn Chung
4. Nhiệm vụ của kế toán TSCĐ:
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, kế toán TSCĐ phải đợc thực hiện tốt các
nhiệm vụ sau:
- Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu một cách chính xác đầy đủ,
kịp thời về số lợng, hiện trạng và giá trị TSCĐ hiện có, tình hình tăng, giảm và di
chuyển TSCĐ trong nội bộ doanh nghiệp, giám sát chặt chẽ việc mua sắm, đầu t,
việc bảo quản và sử dụng TSCĐ ở doanh nghiệp.
- Phản ánh kịp thời giá trị hao mòn TSCĐ trong quá trình sử dụng, tính toán
và phân bổ chính xác số trích khấu hao TSCĐ tính vào các đối tợng chịu chi phí
sản xuất kinh doanh.
- Tham gia lập kế hoạch sửa chữa, dự toán chi phí sửa chữa TSCĐ, phản ánh
chính xác chi phí thực tế về sửa chữa TSCĐ khi cần thiết tổ chức phân tích tình
hình bảo quản và sử dụng TSCĐ ở doanh nghiêp.
II. Phân loại và đánh giá TSCĐ
1. Phân loại TSCĐ:
TSCĐ trong một doanh nghiệp rất đa dạng, có sự khác biệt về tính chất kỹ
thuật, công dụng, thời gian sử dụng Để thuận lợi cho quản lý và hạch toán
TSCĐ, cần phân loại TSCĐ theo nhiều cách thức khác nhau:
1.1 Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu:
Căn cứ vào quyền sở hữu, TSCĐ của doanh nghiệp đợc chia làm 2 loại:
TSCĐ tự có và TSCĐ thuê ngoài.
- TSCĐ tự có: Là những TSCĐ hữu hình, vô hình, do mua sắm, xây dựng và
hình thành từ nguồn vốn ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp, nguồn vốn vay, nguồn
vốn liên doanh cũng nh các TSCĐ đợc biếu, tặng, viện trợ không hoàn lại.
- TSCĐ thuê ngoài: Là TSCĐ đi thuê để sử dụng trong một thời gian nhất
định theo hợp đồng thuê tài sản. Tuỳ theo điều khoản của hợp đồng thuê mà TSCĐ
đi thuê đợc chia thành TSCĐ thuê tài chính và TSCĐ thuê hoạt động.
TSCĐ thuê tài chính cũng đợc coi nh TSCĐ của doanh nghiệp, đợc phản
ánh trên bảng cân đối kế toán và doanh nghiệp có trách nhiệm quản lý, sử dụng và
trích khấu hao nh các TSCĐ tự có của doanh nghiệp.
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
TSCĐ thuê hoạt động thì bên đi thuê chỉ đợc quản lý, sử dụng trong thời
gian hợp đồng và phải hoàn trả cho bên cho thuê khi kết thúc hợp đồng.
1.2 Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện và theo đặc trng kỹ thuật:
Căn cứ vào hình thái biểu hiện và theo đặc trng kỹ thuật:
Căn cứ vào hình thái biểu hiện, TSCĐ đợc chia thành 2 loại lớn: TSCĐ hữu
hình và TSCĐ vô hình.
1.2.1 Tài sản cố định hữu hình:
TSCĐ hữu hình là các TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể, TSCĐ hữu hình có
thể phân loại theo kết cấu bao gồm:
- Nhà cửa, vật kiến trúc: Gồm nhà làm việc, nhà ở, nhà kho, xởng sản xuất
- Máy móc, thiết bị: Gồm máy móc thiết bị động lực và các loại máy móc
thiết bị khác dùng trong sản xuất kinh doanh.
- Phơng tiện vận tải, truyền dẫn: ô tô, máy kéo, tàu thuyền dùng trong
vận chuyển, hệ thống ống dẫn nớc, dàn hơi, hệ thống đờng dẫn điện thuộc
TSCĐ của doanh nghiệp.
- Thiết bị, dụng cụ quản lý: Gồm các thiết bị sử dụng trong sản xuất kinh
doanh, quản lý hành chính, dụng cụ đo lờng, thí nghiệm.
- Cây lâu năm, gia súc cơ bản: Gồm cà phê, chè, cao su Trâu, bò, ngựa
cày kéo
- TSCĐ hữu hình khác: Gồm các loại TSCĐ cha đợc xếp vào các loại TSCĐ
nói trên (tác phẩm nghệ thuật, sách báo chuyên môn kỹ thuật )
1.2.2 TSCĐ vô hình:
TSCĐ vô hình là những TSCĐ không có hình thái vật chất, nó thể hiện một
lợng giá trị đã đợc đầu t chi trả nhằm có đợc lợi ích hoặc các nguồn lực có tính
kinh tế mà giá trị chúng xuất phát từ các đặc điểm của các doanh nghiệp. Cụ thể
là:
- Quyền sử dụng đất
- Chi phí thành lập doanh nghiệp
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
- Bằng phát minh sáng chế
- Chi phí nghiên cứu phát triển
- Chi phí về lợi thế thơng mại
- TSCĐ vô hình khác: Là các chi phí mà doanh nghiệp chi ra để có đợc
các tài sản vô hình khác cha nêu ở trên nh: Quyền đặc nhợng, quyền
thuê nhà, bản quyền tác giả
1.3 Phân lại TSCĐ theo tình hình sử dụng
Theo cách này TSCĐ đợc chia thành:
- TSCĐ đang dùng trong sản xuất kinh doanh: Bao gồm tất cả các TSCĐ
đang dùng trong sản xuất kinh doanh (kể cả bộ phận trực tiếp hoặc quản lý).
- TSCĐ đang dùng ngoài sản xuất kinh doanh: Gồm các TSCĐ dùng cho
đời sống tinh thần của công nhân viên: th viện, nhà trẻ
- TSCĐ không cần dùng: Là các TSCĐ đang dùng đợc nhng doanh nghiệp
không có nhu cầu sử dụng hoặc đang chờ quyết định cho chuyển đi hoặc nhợng
bán.
- TSCĐ h hỏng xin thanh lý: Là những TSCĐ h hỏng không còn dùng đợc
phải xin thanh lý để thu hồi vốn.
- TSCĐ bảo quản hộ, cất giữ hộ, cất giữ hộ cho Nhà nớc.
2. Đánh giá TSCĐ:
Đánh giá TSCĐ là biểu hiện giá trị TSCĐ bằng tiền theo những nguyên tắc
nhất định. Đánh giá TSCĐ là điều kiện cần thiết để kế toán TSCĐ tính khấu hao và
phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp.
2.1. Nguyên tắc đánh giá:
Xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu quản lý TSCĐ trong hoạt động sản xuất
kinh doanh. TSCĐ trong doanh nghiệp đợc đánh giá theo nguyên giá và giá trị còn
lại.
2.2. Phơng pháp đánh giá:
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
Đánh giá TSCĐ là xác định giá trị ghi sổ của tài sản. Trong mọi trờng hợp
TSCĐ phải đợc đánh giá theo nguyên giá và giá trị còn lại, do vậy kế toán TSCĐ
thực hiện việc ghi sổ phải bảo đảm phản ánh đợc cả 3 chỉ tiêu giá trị của TSCĐ là:
Nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại của TSCĐ.
Giá trị còn lại = Nguyên giá - giá trị hao mòn.
2.2.1. Đánh giá TSCĐ theo nguyên giá:
Nguyên giá TSCĐ là toàn bộ các chi phí thực tế đã bỏ ra để có TSCĐ cho
tới khi đa TSCĐ đi vào hoạt động bình thờng. Nói cách khác đó là giá trị ban đầu,
đầy đủ của TSCĐ khi đa TSCĐ vào sử dụng.
Nguyên giá TSCĐ bao gồm:
- Nguyên giá TSCĐ mua sắm
- Nguyên giá TSCĐ nhận của đơn vị khác góp vốn liên doanh
- Nguyên giá TSCĐ đợc cấp
- Nguyên giá TSCĐ đợc tặng, biếu, viện trợ không hoàn lại
- Nguyên giá TSCĐ tự xây dựng, chế tạo
Kế toán TSCĐ phải triệt để tôn trọng nguyên tắc ghi theo nguyên giá.
Nguyên giá TSCĐ không thay đổi trong suốt quá trình sử dụng và thời gian tồn tại
của chúng, trừ các trờng hợp sau:
+ Đánh giá lại TSCĐ
+ Xây dựng, trang bị thêm TSCĐ
+ Cải tạo, nâng cấp làm tăng năng lực hoạt động và kéo dài tuổi thọ của
TSCĐ.
+ Tháo dỡ bớt các bộ phận làm giảm nguyên giá TSCĐ
2.2.2. Đánh giá TSCĐ theo giá trị còn lại:
Giá trị còn lại của TSCĐ chính là vốn đầu t cha thu hồi của TSCĐ, nó đợc
tính bằng nguyên giá trừ (-) số đã hao mòn của TSCĐ.
Giá trị còn lại của TSCĐ = Nguyên giá của TSCĐ - Số khấu hao luỹ kế
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
Trờng hợp nguyên giá TSCĐ đợc đánh giá lại thì giá trị còn lại của TSCĐ đ-
ợc xác định lại. Giá trị còn lại của TSCĐ sau khi đánh giá đợc điều chỉnh theo
công thức sau:
Giá trị còn lại
của TSCĐ sau
khi đánh giá lại
=
Giá trị còn lại
của TSCĐ trớc
khi đánh giá lại
x
Giá trị đánh giá lại của TSCĐ
Nguyên giá của TSCĐ
III - Kế toán chi tiết TSCĐ:
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, TSCĐ của doanh nghiệp th-
ờng xuyên biến động. Để quản lý tốt TSCĐ kế toán cần theo dõi chặt chẽ, phản
ánh mọi trờng hợp biến động tăng, giảm TSCĐ. Yêu cầu quản lý TSCĐ trong
doanh nghiệp đòi hỏi phải kế toán chi tiết TSCĐ. Công tác, kế toán chi tiết TSCĐ
là khâu rất quan trọng, đồng thời cũng phức tạp, nhất là trong toàn bộ công tác kế
toán TSCĐ. DO đó tổ chức kế toán chi tiết TSCĐ một mặt phải dựa vào các cách
phân loại TSCĐ, mặt khác phải căn cứ vào cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh,
yêu cầu phân cấp quản lý, chế độ hạch toán kinh tế nội bộ áp dụng trong các
doanh nghiệp.
Nội dung chính của kế toán chi tiết TSCĐ bao gồm:
1. Đánh số TSCĐ:
Đánh số TSCĐ là quy định cho mỗi TSCĐ một số liệu tơng ứng theo những
nguyên tắc nhất định. Việc đánh giá số TSCĐ đợc tiến hành theo từng đối tợng
TSCĐ (còn gọi là đối tợng ghi TSCĐ).
Mỗi đối tợng ghi TSCĐ không phân biệt đang sử dụng hay dự trữ đều phải
có số liệu riêng. Số liệu của mỗi đối tợng ghi trong TSCĐ không thay đổi trong
suốt thời gian bảo quan, sử dụng tại đơn vị. Số liệu của những TSCĐ đã thanh lý
hoặc nhợng bán không dùng lại cho những TSCĐ mới tiếp nhận.
2. Kế toán chi tiết TSCĐ ở bộ phận kế toán và các địa điểm sử dụng,
bảo quản:
- Kế toán chi tiết TSCĐ ở bộ phận kế toán của doanh nghiệp đợc thực hiện ở
thẻ hoặc sổ chi tiết TSCĐ.
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
Căn cứ để ghi sổ chi tiết hoặc thẻ TSCĐ là các biên bản giao nhận TSCĐ,
biên bản đánh giá lại TSCĐ, biên bản tính và phân bổ khấu hao TSCĐ, biên bản
thanh lý TSCĐ và các chứng từ khác có liên quan đến quá trình thu mua, vận
chuyển TSCĐ.
- Kế toán chi tiết TSCĐ ở địa điểm sử dụng, bảo quản đợc thực hiện ở sổ
TSCĐ theo đơn vị sử dụng.
Để quản lý, theo dõi TSCĐ theo địa điểm sử dụng ngời ta mở "sổ TSCĐ
theo đơn vị sử dụng" cho từng đơn vị bộ phận. Sổ này dùng để theo dõi tình hình
tăng, giảm TSCĐ trong suốt thời gian sử dụng tại đơn vị trên cơ sở các chứng từ
gốc để tăng, giảm TSCĐ.
Trên cơ sở các chứng từ đã lập đúng thủ tục, bảo đảm tính hợp lý, hợp pháp,
kế toán mở thẻ TSCĐ (mẫu 02- TSCĐ) hay sổ chi tiết TSCĐ gồm các nội dung
sau: Nh tên TSCĐ, ký mã hiệu, năm sản xuất, nguyên giá TSCĐ và giá trị hao
mòn, phụ tùng, dụng cụ, đồ nghề kèm theo, phần ghi giảm TSCĐ.
(Xem phụ lục)
IV - Kế toán tổng hợp tăng giảm TSCĐ
Tài khoản sử dụng:
TK 211: TSCĐ hữu hình
TK 212: TSCĐ thuê tài chính
TK 213: TSCĐ vô hình
TK 214: Hao mòn TSCĐ
Sổ kế toán sử dụng:
Tuỳ theo hình thức kế toán mà doanh nghiệp áp dụng các nghiệp vụ liên
quan đến các loại TSCĐ đợc phản ánh ở các sổ kế toán phù hợp.
- Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung thì gồm các
loại sổ kế toán chủ yếu sau: Sổ nhật ký chung, sổ cái các tài khoản, các sổ, thẻ kế
toán chi tiết,
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
- Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức chứng từ ghi sổ thì gồm các loại sổ
kế toán chủ yếu sau: Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sổ cái, các sổ, thẻ kế toán chi
tiết,
- Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức nhật ký chứng từ thì gồm các loại sổ
kế toán chủ yếu sau: Nhật ký chứng từ, bảng kê, sổ cái hoặc thẻ kế toán chi tiết,
1. Kế toán tổng hợp tăng TSCĐ hữu hình.
Tài khoản sử dụng: TK 211 - TSCĐ hữu hình
Tài khoản 211 dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động, tăng
giảm và số hiện có theo nguyên giá TSCĐ.
Kết cấu TK 211 nh sau:
- Bên nợ: + Nguyên giá của TSCĐ hữu hình tăng
+ Điều chỉnh tăng nguyên giá TSCĐ hữu hình
- Bên có: + Nguyên giá của TSCĐ hữu hình giảm
+ Điều chỉnh giảm nguyên giá TSCĐ hữu hình
- Số d nợ: Nguyên giá của TSCĐ hữu hình hiện có
Tài khoản 211 có 6 tài khoản cấp 2 sau:
TK 2112: Nhà cửa, vật kiến trúc
TK 2113: Máy móc, thiết bị
TK 2114: Phơng tiện vận tải, truyền dẫn
TK 2115: Thiết bị, dụng cụ quản lý
TK 2116: Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
TK 2118: TSCĐ hữu hình khác
Ngoài ra kế toán còn sử dụng TK411 "nguồn vốn kinh donah" và nhiều tài
khoản liên quan khác nh: TK111, TK112, TK131, TK331, TK441, TK241
1.1. Trờng hợp mua sắm TSCĐ hữu hình:
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
- Căn cứ vào các chứng từ nh hoá đơn, phiếu chi, đồng thời phản ánh thuế
GTGT đầu vào đợc khấu trừ (nếu có) và ghi sổ:
Nợ TK211 - TSCĐ hữu hình (nguyên giá)
Nợ TK113 - Thuế GTGT đợc khấu trừ
Có TK111,112 - Nếu trả bằng tiền mặt hoặc tiền gửi ngân hàng.
Có TK331 - Phải trả ngời bán
Có TK341 - Vay dài hạn
- Trờng hợp dùng nguồn vốn đầu t xây dựng cơ bản và các quỹ doanh
nghiệp mua sắm TSCĐ thì đồng thời với việc ghi tăng TSCĐ phải có bút toán
chuyển nguồn vốn nh sau:
Nợ TK414 - Quỹ phát triển kinh doanh
Nợ TK 441 - Nguồn vốn đầu t XDCB
Có TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh
1.2. Do công trình XDCB hoàn thành, nghiệm thu và bàn giao đa vào sử
dụng:
- Căn cứ vào giá trị quyết toán công trình kế toán ghi:
Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình
Có TK 241 - XDCB dở dang
- Trờng hợp xây dựng bằng nguồn vốn XDCB và bằng quỹ đầu t phat triển:
Nợ TK414 - Quỹ đầu t phát triển
Nợ TK441 - Nguồn vốn đầu t XDCB
Có TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh
- Trờng hợp sử dụng nguồn vốn khấu hao cơ bản
Ghi có TK 009 (ghi đơn)
- Trờng hợp giá trị công trình XDCB dở dang hoàn thành cần đánh giá thì
ghi:
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình
Có TK411 - Nguồn vốn kinh doanh
Nếu phần chênh lệch giảm thì kế toán ghi bút toán ngợc lại
1.3. Trờng hợp TSCĐ tăng do các đơn vị khác góp vốn liên doanh, biếu,
tặng
- Đối với TSCĐ hữu hình mới, kế toán ghi:
Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình
Có TK411 - Nguồn vốn kinh doanh
- Đối với TSCĐ hữu hình đã sử dụng, kế toán ghi:
Nợ TK 211 - Theo nguyên giá
Có TK411 - Theo giá trị còn lại
Có TK214 - Theo giá trị hao mòn
1.4. Trờng hợp tăng TSCĐ do trớc đây góp vốn liên doanh với đơn vị
khác giờ nhận lại, kế toán ghi:
Nợ TK211 - TSCĐ hữu hình
Có TK 128 - Đầu t ngắn hạn khác
Có TK222 - Góp vốn liên doanh (trờng hợp góp vốn LD dài hạn)
1.5. Trờng hợp tăng TSCĐ do đánh giá lại:
- Nếu điều chỉnh tăng nguyên giá, kế toán ghi:
Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình
Có TK412 - Chênh lệch đánh giá lại tài sản
- Nếu điều chỉnh giá trị hao mòn
Nợ TK412 - Chênh lệch đánh giá lại tài sản
Có TK214 - Hao mòn TSCĐ
1.6. Trờng hợp tăng TSCĐ do kiểm kê phát hiện thừa:
Trần Văn Chung
Luận văn tốt nghiệp Lớp 4A01
- Nếu do ghi sót cha vào sổ sẽ căn cứ vào hồ sơ TSCĐ, xác định nguyên giá
ghi:
Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình
Có TK411 - Nguồn vốn kinh doanh
Đồng thời ghi:
Nợ TK627 (6274)
Nợ TK641 (6414)
Nợ TK642 (6424)
Nợ TK 241
Có TK214 (2141)
- Nếu TSCĐ thừa là do tài sản của đơn vị khác cần phải thông báo ngay cho
chủ sở hữu nhận lại.
- Nếu TSCĐ thừa không rõ nguyên nhân cần báo cáo cho cơ quan chủ quản
và cơ quan tài chính cùng cấp biết để xử lý.
2. Kế toán tổng hợp tăng TSCĐ vô hình
Kế toán tăng, giảm TSCĐ vô hình đợc ghi chép trên tài khoản sau:
Tài khoản sử dụng: TK213 - TSCĐ vô hình
Kết cấu của TK 213 nh sau:
- Bên nợ: + Nguyên giá của TSCĐ vô hình tăng
+ Điều chỉnh tăng nguyên giá TSCĐ vô hình
- Bên có: +Nguyên giá của TSCĐ vô hình giảm
+Điều chinh giảm nguyên giá TSCĐ vô hình
- Số d nợ: Nguyên giá của TSCĐ vô hình hiện có
Tài khoản 213 có 6 tài khoản cấp 2 sau:
TK 2131: Quyền sử dụng đất
TK 2132: Chi phí thành lập, chuẩn bị sản xuất
Trần Văn Chung
Bước đầu nghiên cứu sự nghiệp văn chương của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc (ở hai thể loại Kịch bản văn học và truyện ngắn).pdf
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Là người tham gia hoạt động văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại từ
khá sớm và để lại dấu ấn qua hai kịch bản Ông Tây An Nam và Chàng Ngốc
(trong đó, "ông Tây An Nam" đã trở thành một kiểu thành ngữ của người Việt
Nam khi đề cập tới những người Việt vọng ngoại, bắt chước phương Tây một
cách lố lăng), nhưng do nhiều biến cố của cuộc đời ông mà sự nghiệp của
Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc chưa được giới nghiên cứu chú ý. Hơn nữa,
do sáng tác của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc chủ yếu công bố trong vùng
tạm chiếm khi ông hoạt động công khai trong nội thành Hà Nội và sau đó vào
miền Nam hoạt động với danh nghĩa trí thức, nên việc sưu tầm tác phẩm của
Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc là rất khó khăn. Theo khảo sát bước đầu của
chúng tôi, cho tới nay đã có những công trình nghiên cứu sau đề cập đến tác
giả Nam Xương :
1. Bước đầu tìm hiểu Lịch sử kịch nói Việt Nam trước cách mạng tháng
Tám (Phan Kế Hoành - Huỳnh Lý, NXB Văn hoá, H.1978)
2. Từ điển Văn học, mục từ Nam Xương (bản in năm 1984)
3. Từ điển Văn học (bộ mới), mục từ Nam Xương (bản in năm 2005)
4. Văn học Việt Nam thế kỷ XX, GS Phan Cự Đệ chủ biên, NXB Giáo
dục, H.2004 (phần về kịch bản do PGS TS Phan Trọng Thưởng thực hiện).
5. Tổng tập văn học Việt Nam, tập 23, GS Đinh Gia Khánh chủ biên,
NXB Khoa học xã hội, H.1997.
6. Kịch nói Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, GS Hà Minh Đức chủ biên,
NXB Sân khấu, H.1997.
7. Bài báo Về tác giả vở kịch nói Ông Tây An Nam (Nguyễn Hòa, Tạp
chí Nghiên cứu văn học - Viện Văn học, số 7 năm 2001)
Trong các nguồn tư liệu này, thì ở 2 bộ từ điển chỉ giới thiệu về cuộc đời
và sự nghiệp của Nam Xương một cách khá sơ lược. Trong Từ điển Văn học,
mục từ Nam Xương, Trần Hữu Tá giới thiệu: "Nam Xương tham gia cách
mạng từ tháng Tám năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
1948, làm công tác bí mật ở các thành phố Nam Định và Hà Nội. 1954, ông
được phái vào Sài Gòn công tác và hy sinh 1958. Thời gian hoạt động trong
vùng Hà Nội tạm bị chiếm (1948 - 1954), ông viết một tập truyện ngắn có giá
trị phê phán tích cực (Bụi phồn hoa), hai cuốn tiểu thuyết lịch sử đậm đà tinh
thần dân tộc (Bách Việt, Hùng Vương) và một vở kịch (Tây Thi). Dưới danh
nghĩa một nhà xuất bản tưởng tượng "Quê hương", ông đã in được hai cuốn
Bụi phồn hoa và Bách Việt nhằm động viên bạn đọc thành phố hướng về
chính nghĩa" [5, tr.11].
Chúng tôi xin giới thiệu một số đánh giá của các nhà nghiên cứu trong
các công trình trên:
Trong bài mở đầu cuốn Kịch nói Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX , có nhan
đề “Kịch nói Việt Nam, thời kỳ đầu hình thành và phát triển”, GS Hà Minh
Đức viết: “Nam Xương không trực tiếp đả kích vào bọn thực dân xâm lược,
mà phê phán đả kích vào cái hình bóng của nó qua những quái thai như Cử
Lân, một trí thức du học ở Pháp về và hoàn toàn mất gốc” “Chất hài trong
kịch Ông Tây An Nam của Nam Xương bộc lộ trong chiều sâu của xung đột
và tác giả biết dẫn dắt để nhân vật tự phơi bày những nghịch lý, những trò lố
lăng. Có thể xem đây là vở hài kịch thành công trong không khí chung của
thời kỳ này” [22, tr.12]
Trong công trình “ Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam” của
Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý, có viết: “Ở cuối thời kỳ này (thời kỳ 1927 -
1930, theo cách phân kỳ của 2 tác giả trên - NTQ), Nam Xương cũng để lại
hai vở kịch đáng chú ý là vở Chàng Ngốc và vở Ông Tây An Nam. Qua vở
Ông Tây An Nam, Nam Xương đả kích một bọn trí thức vong bản. Cũng qua
hai vở ấy, người ta thấy Nam Xương là người am hiểu về nghệ thuật kịch cổ
điển và có sở trường về lối hài kịch”.[13, tr42] Cũng trong cuốn sách trên,
Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý nhấn mạnh vị trí của kịch Nam Xương trong
sân khấu kịch nói đương thời: “ trong sự phát triển có thể nói là xô bồ của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
mấy năm 1929, 1930, 1931, người ta ít tìm thấy những vở có tiếng vang trong
kịch trường, trừ mấy vở của Nguyễn Hữu Kim, Vi Huyền Đắc, Tương Huyền
và nhất là của Nam Xương” [13, tr. 44].
Bài báo của nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà viết: “Bằng hai vở
kịch nói Ông Tây An Nam (1930) và Chàng Ngốc (1931), Nam Xương -
Nguyễn Cát Ngạc đã cùng với Vi Huyền Đắc, Vũ Đình Long, Nguyễn Hữu
Kim…trở thành những nghệ sĩ đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời của
nghệ thuật kịch nói Việt Nam. Dù chỉ là đôi dòng, nhưng tên tuổi của Nam
Xương - Nguyễn Cát Ngạc thường được nhắc tới trong các công trình
nghiên cứu lịch sử văn học, nghiên cứu lịch sử sân khấu Việt Nam trong
những thập kỷ đầu của thế kỷ XX.”, “Có thể nói không quá lời rằng
Nguyễn Cát Ngạc, là một trong số ít các tác giả đầu tiên có những sáng tác
văn học về một gia đoạn lịch sử cách chúng ta rất xa là thời đại Hùng
Vương - một thời đại mà sử liệu hiện chỉ còn chủ yếu trong truyền
thuyết…Cho đến nay, truyện ngắn của Nguyễn Cát Ngạc chưa được khảo
sát kỹ lưỡng. Có thể nhận xét, đây là những truyện ngắn được viết khá
công phu, được tổ chức theo lối kịch bản, có thắt nút cởi nút, đặc biệt tác
giả thường khai thác một cách tinh tế những tình huống có khả năng khắc
họa hình ảnh lố bịch của những kẻ bán nước hại dân. ”[14]
Có thể thấy rằng: hầu hết các công trình nghiên cứu trên đây chỉ mới
dừng ở những đánh giá ngắn gọn và khái quát về Nam Xương - Nguyễn
Cát Ngạc, chủ yếu ở vai trò một tác giả kịch bản giai đoạn đầu thế kỷ XX
trong một tổng thể chung của cả nền văn học hoặc riêng lĩnh vực kịch nói;
và mới chỉ có một bài báo của nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà viết về
cuộc đời và sự nghiệp của Nam Xương. Toàn bộ sự nghiệp văn học của
Nam Xương nói chung và phần văn xuôi nói riêng chưa được khảo sát,
nghiên cứu. Bài báo của nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà - tuy đã đề
cập tới phần văn xuôi của ông, nhưng cũng mới chỉ dừng ở việc đưa ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
những nhận định ban đầu. Chưa có công trình nào nghiên cứu sự nghiệp
văn chương của Nam Xương một cách hệ thống và hoàn chỉnh. Do đó,
việc nghiên cứu về Nam Xương là rất cần thiết.
3. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật trong các
sáng tác của Nam Xương ở hai thể loại: kịch bản và truyện ngắn.
- Khẳng định các đóng góp của Nam Xương đối với sự hình thành và
phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại trong giai đoạn đầu thế kỷ XX ở
hai thể loại trên.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
- Toàn bộ các tác phẩm của Nam Xương, tập trung nghiên cứu các tác
phẩm kịch bản và truyện ngắn.
- Các tài liệu liên quan: các tác phẩm kịch bản, truyện ngắn cùng thời với
ông; các công trình nghiên cứu có đề cập đến sáng tác của Nam Xương.
- Các tài liệu lý thuyết, lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Chỉ ra được những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của Nam
Xương trong thể loại kịch bản văn học.
- Chỉ ra được những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của Nam
Xương trong thể loại truyện ngắn.
- Khẳng định vị trí, vai trò cùng những đóng góp quan trọng của Nam
Xương trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hoá nền văn học nước nhà ở
hai thể loại trên.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên
cứu:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống
7. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương.
Chương I: Vài nét về đời sống xã hội - văn hóa Việt Nam giai đoạn
đầu thế kỷ XX và tác giả Nam Xƣơng.
Chương II. Một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật kịch bản của
Nam Xƣơng.
Chƣơng III. Một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật truyện ngắn
của Nam Xƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Chƣơng I
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI – VĂN HOÁ VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ
XX VÀ TÁC GIẢ NAM XƢƠNG - NGUYỄN CÁT NGẠC
1.1. Đời sống xã hội – văn hoá Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX ảnh
hƣởng đến việc hình thành ngòi bút Nam Xƣơng - Nguyễn Cát Ngạc
1.1.1. Sự xâm nhập của văn hoá phương Tây và những biến động
trong đời sống xã hội - văn hoá Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, về cơ bản người Pháp đã hoàn tất quá trình xâm lược
Việt Nam. Chính sách chia để trị và sự hình thành về mặt hình thức của ba xứ
Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ đã cho phép người Pháp xúc tiến công cuộc
khai thác thuộc địa ở “xứ Đông Dương thuộc Pháp” một cách triệt để, nhằm tận
thu của cải vật chất từ thuộc địa, và nhằm một mặt bù vào những thiệt hại nặng
nề từ các cuộc chiến tranh mà nước Pháp tham gia, một mặt tăng cường thêm
nguồn lực tạo ra sức mạnh của nước Pháp trong quan hệ quốc tế. Kết quả của
chính sách kinh tế đó là nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp hàng nghìn năm đã
bị phá vỡ, kinh tế tư bản hình thành và phát triển; nước ta trở thành một thuộc
địa bị khai thác đến tận cùng các của cải vật chất, đồng thời trở thành thị trường
tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu cho tư bản công nghiệp và thương nghiệp
Pháp. Đi cùng với tình trạng này là việc giai cấp nông dân Việt Nam bị bần
cùng hoá, tầng lớp tiểu tư sản, thợ thủ công không có điều kiện để phát triển,
trở thành nguồn nhân công đông đảo và rẻ mạt cho các hãng buôn, chủ đồn
điền, chủ thầu của Pháp.
Về mặt chính trị, chế độ thực dân nửa phong kiến chưa từng có trong
lịch sử Việt Nam từng bước hình thành trên khắp lãnh thổ. Nó tiếp tục kìm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
hãm sự phát triển của đất nước dưới một hình thức khác, tuy nhiên chính sự
có mặt của nó lại phá vỡ và gây nên những biến động lớn trong xã hội Việt
Nam vốn hàng nghìn năm “bế quan toả cảng” dưới chế độ phong kiến kiểu
phương Đông.
Để bóc lột sức lao động và vơ vét tài nguyên ở nước thuộc địa, người
Pháp mở mang giao thông, thị trường buôn bán, phát triển nền kinh tế hàng
hoá thống nhất trong cả nước. Kèm theo sự phát triển ấy là việc mở rộng các
đô thị cũ, hình thành các khu công nghiệp mới “kiểu phương Tây”, rồi các
tỉnh lỵ, phủ, huyện lỵ được xây dựng như những trung tâm kinh tế - văn hóa
địa phương để phục vụ hoạt động, sinh hoạt của tầng lớp “Tây thuộc địa”, là
trung tâm hành chính để cai trị, đồng thời là nơi sơ chế, buôn bán và tiêu thụ,
sản phẩm có được trong quá trình bóc lột tài nguyên và tận dụng nguồn nhân
công rẻ mạt.
Quá trình đô thị hoá dẫn đến sự phá vỡ kết cấu xã hội. Hệ thống các giai
tầng đã có tuổi đời hàng nghìn năm, được tổ chức theo mô hình “tứ dân” (sĩ -
nông - công - thương ) dần dần bị phá vỡ do trong xã hội xuất hiện những dấu
hiệu sơ khai của quan hệ sản xuất kiểu mới mà nền kinh tế tư bản từ nước
Pháp mang lại. Những ngành nghề chưa từng có trong lịch sử dân tộc như
thông ngôn, ký lục, ký giả, cho đến thợ cơ khí, thợ in ấn, phu mỏ,… lần lượt
xuất hiện, và tình trạng này cũng góp phần làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp
trong xã hội. Đông đảo nông dân bị bần cùng hoá do mất ruộng đất phải tha
hương ra các đô thị kiếm sống, hình thành một tầng lớp tiểu tư sản nghèo
ngày càng tăng mãi lên trong các đô thị; một số khác không nhiều trở thành
lực lượng phu mỏ, phu đồn điền, từng bước hình thành nên những bộ phận
đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Và do đó, cuộc xâm lăng của
người Pháp đã đẩy tới sự thoát thai ra khỏi cách thức tổ chức xã hội kiểu cũ,
từng bước làm nên một xã hội Việt Nam kiểu mới với sự xuất hiện của một số
tầng lớp xã hội mới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
Về sinh hoạt xã hội, đã diễn ra một tình trạng phân cực rõ rệt đến mức
đối lập giữa nông thôn và đô thị, giữa kẻ giàu và người nghèo. Một nền kinh
tế phụ thuộc với một số hàng hoá đến từ phương Tây, cùng với đó là một lối
sống kiểu khác với những giá trị văn hóa - văn minh khác lạ đã dẫn đến sự
thay đổi tâm trạng và lối sống trong xã hội Việt Nam đương thời. Từ việc tẩy
chay những gì thuộc về ngoại bang, dần dà người ta buộc phải thích ứng với
nó. Ở cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực, sự xâm nhập của cái mới đến từ
phương Tây đã làm thay đổi căn bản bộ mặt xã hội Việt Nam, phá vỡ sự bình
yên ngàn đời dưới luỹ tre xanh, đặt con người đứng trước sự tự ý thức trong
một xã hội phức tạp và rộng lớn, phải vật lộn trong những tính toán mưu sinh
trong các quan hệ ít nhiều mang dấu ấn của kinh tế thị trường tư bản, lạnh
lùng và “tiền trao cháo múc”.
Về mặt xã hội - văn hoá, công cuộc khai thác thuộc địa tự nó đòi hỏi phải
có một hệ thống hạ tầng cơ sở, một không gian văn hóa chính quốc thu nhỏ,
không chỉ nhằm phục vụ sinh hoạt mà còn có ý nghĩa quảng bá với cường độ
cao, tiến tới đồng hóa văn hóa bản địa thông qua việc tuyên truyền cho những
giá trị văn hóa - văn minh phương Tây mà văn hóa - văn minh Pháp là đại
diện. Hệ quả của quá trình “khai hoá văn minh” mà người Pháp thực hiện tại
xứ An Nam là sự phân hóa trong hoạt động tinh thần của xã hội. Biểu hiện cụ
thể nhất là qua tình trạng cùng tồn tại của lớp nhà Nho, trí thức khoa bảng do
nhà nước phong kiến Việt Nam đào tạo và những trí thức “Tây học” được đào
tạo ở các nhà trường thuộc địa hoặc được đào tạo tại nước Pháp. Tình hình
này đã đưa tới một hệ quả là sự du nhập những tri thức mới vào sinh hoạt tinh
thần của người Việt trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đây
cũng là thời kỳ mà lần đầu tiên các người con yêu nước của dân tộc được tiếp
xúc với những tư tưởng tiến bộ của nhân loại lúc bấy giờ. Họ học hỏi, họ suy
nghĩ và ý chí chấn hưng dân tộc, tư tưởng dân chủ và cách mạng được cái chí
sĩ yêu nước bàn thảo và truyền bá công khai, trở thành mục tiêu của một số
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
phong trào yêu nước tiến bộ như Đông du, Đông kinh nghĩa thục, cho thấy
sự “lột xác” trong nhận thức của thế hệ người Việt Nam đầu tiên tiếp xúc với
khoa học - văn minh phương Tây và cũng cho thấy tính chất quyết định trong
tiến trình lịch sử dân tộc ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Cũng
trong thời kỳ này, chủ nghĩa Mác - Lê nin, tinh hoa rực rỡ nhất của nhân loại
đã được tiếp thu, kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào cách mạng
của giai cấp công nhân còn non trẻ đã trở thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho
sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng Cộng sản Việt
Nam - lực lượng tiên phong lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Chúng tôi trình bày vài nét về bối cảnh xã hội – văn hoá Việt Nam đầu
thế kỷ XX để làm cơ sở cho việc nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của nhà
văn Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc, bởi đó là những điều kiện khách quan
đã tác động mạnh mẽ, và là đối tượng phản ánh trong tác phẩm của ông, cũng
như góp phần hình thành tư tưởng và thế giới nghệ thuật của ông.
1.1.2. Quá trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX và những ảnh hưởng trực tiếp đến nhà văn Nam Xương - Nguyễn Cát
Ngạc.
Sự ra đời và diễn biến của nền kinh tế - xã hội – văn hoá kiểu mới trên
đây đã tác động sâu sắc đã tác động sâu sắc tới mọi lĩnh vực vật chất - tinh
thần của xã hội, và tất nhiên đối với văn học, nó cũng đặt ra các yêu cầu
khách quan cho tiến trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam. Đồng thời, tự
thân đời sống văn học cũng đứng trước yêu cầu phải đổi mới theo xu hướng
hiện đại, bởi sự tham góp của các thành tố quan trọng về kinh tế - xã hội - văn
hóa đã có vai trò như “bà đỡ” cho tiến trình hiện đại hoá văn học. Và trên
thực tế, nhiều biến động văn hóa - xã hội đã diễn ra và cũng là điều kiện để
văn học phát triển.
Trước hết là sự thay thế dần chữ Hán, chữ Nôm bằng chữ quốc ngữ.
Thời kỳ này, chữ quốc ngữ thật sự đã trở thành một chiếc cầu nối giữa văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
hóa Việt với văn hóa phương Tây. Có thể xem chữ việc sử dụng chữ quốc
ngữ là thành tựu quan trọng của việc dân chủ hoá nền văn học. Sự phát triển
của chữ quốc ngữ gắn liền với sự thay đổi tư duy của xã hội mới, kéo theo
những kiểu công cụ chuyển tải mới như báo chí, và cả cách thức truyền bá
mới như in ấn với số lượng lớn và hàng loạt, cập nhật và phổ cập trong mọi
thành phần xã hội của hệ thống thông tin đại chúng - những phương tiện ngay
đến thời cận đại ở Việt Nam vẫn còn kém cỏi. Ngoài việc thông báo tin tức,
luận bàn các vấn đề xã hội, giới thiệu những thành tựu văn hoá - văn minh
phương Tây , một hệ quả của sự phát triển hệ thống thông tin đại chúng là
đưa tới việc xuất hiện và đăng tải các tác phẩm văn chương “viết theo lối
mới”, khác hẳn với hình thức - nội dung những tác phẩm văn chương vẫn
được sáng tác và phổ biến theo “lối truyền thống”. Sự lên ngôi của chữ quốc
ngữ thay thế cho chữ Hán, chữ Nôm cùng với sự phát triển của các phương
tiện truyền thông, và quan trọng nhất là sự thay đổi về tư tưởng của các tầng
lớp trong xã hội, nhất là nhân sĩ trí thức, đã dẫn đến sự phát triển có tính bước
ngoặt của nền văn học nước nhà.
Một nền văn học hiện đại vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của sự thay
đổi lực lượng tác giả và công chúng của nó. Nếu như trong cả ngàn năm
trước, văn học trung đại là sự biểu hiện thành văn của chính trị - đạo đức, là
sản phẩm của các bậc nho sĩ, vua quan, mà mục đích chủ yếu họ khi cầm bút
là để bày tỏ chí hướng, bộc lộ khí phách người quân tử, văn chương là “thi dĩ
ngôn chí”, là “văn dĩ tải đạo”, thì vào đầu thế kỷ XX văn chương hiện đại đã
làm thay đổi vị trí và tâm thế người cầm bút. Và quan trọng hơn cả là các
quan niệm về đặc trưng và chức năng của văn học cũng thay đổi. Khi mà
những quan niệm về mỹ học phương Đông về sự ước lệ, tượng trưng, quy
phạm… đã hầu như không còn phù hợp nữa. Đặc biệt là một quan niệm mới
về đời sống tinh thần cho thấy văn chương không chỉ là chính trị, là luân lý,
mà nó còn mang tải những đặc trưng nghệ thuật riêng khác để phản ánh xã
5
Là người tham gia hoạt động văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại từ
khá sớm và để lại dấu ấn qua hai kịch bản Ông Tây An Nam và Chàng Ngốc
(trong đó, "ông Tây An Nam" đã trở thành một kiểu thành ngữ của người Việt
Nam khi đề cập tới những người Việt vọng ngoại, bắt chước phương Tây một
cách lố lăng), nhưng do nhiều biến cố của cuộc đời ông mà sự nghiệp của
Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc chưa được giới nghiên cứu chú ý. Hơn nữa,
do sáng tác của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc chủ yếu công bố trong vùng
tạm chiếm khi ông hoạt động công khai trong nội thành Hà Nội và sau đó vào
miền Nam hoạt động với danh nghĩa trí thức, nên việc sưu tầm tác phẩm của
Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc là rất khó khăn. Theo khảo sát bước đầu của
chúng tôi, cho tới nay đã có những công trình nghiên cứu sau đề cập đến tác
giả Nam Xương :
1. Bước đầu tìm hiểu Lịch sử kịch nói Việt Nam trước cách mạng tháng
Tám (Phan Kế Hoành - Huỳnh Lý, NXB Văn hoá, H.1978)
2. Từ điển Văn học, mục từ Nam Xương (bản in năm 1984)
3. Từ điển Văn học (bộ mới), mục từ Nam Xương (bản in năm 2005)
4. Văn học Việt Nam thế kỷ XX, GS Phan Cự Đệ chủ biên, NXB Giáo
dục, H.2004 (phần về kịch bản do PGS TS Phan Trọng Thưởng thực hiện).
5. Tổng tập văn học Việt Nam, tập 23, GS Đinh Gia Khánh chủ biên,
NXB Khoa học xã hội, H.1997.
6. Kịch nói Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, GS Hà Minh Đức chủ biên,
NXB Sân khấu, H.1997.
7. Bài báo Về tác giả vở kịch nói Ông Tây An Nam (Nguyễn Hòa, Tạp
chí Nghiên cứu văn học - Viện Văn học, số 7 năm 2001)
Trong các nguồn tư liệu này, thì ở 2 bộ từ điển chỉ giới thiệu về cuộc đời
và sự nghiệp của Nam Xương một cách khá sơ lược. Trong Từ điển Văn học,
mục từ Nam Xương, Trần Hữu Tá giới thiệu: "Nam Xương tham gia cách
mạng từ tháng Tám năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
1948, làm công tác bí mật ở các thành phố Nam Định và Hà Nội. 1954, ông
được phái vào Sài Gòn công tác và hy sinh 1958. Thời gian hoạt động trong
vùng Hà Nội tạm bị chiếm (1948 - 1954), ông viết một tập truyện ngắn có giá
trị phê phán tích cực (Bụi phồn hoa), hai cuốn tiểu thuyết lịch sử đậm đà tinh
thần dân tộc (Bách Việt, Hùng Vương) và một vở kịch (Tây Thi). Dưới danh
nghĩa một nhà xuất bản tưởng tượng "Quê hương", ông đã in được hai cuốn
Bụi phồn hoa và Bách Việt nhằm động viên bạn đọc thành phố hướng về
chính nghĩa" [5, tr.11].
Chúng tôi xin giới thiệu một số đánh giá của các nhà nghiên cứu trong
các công trình trên:
Trong bài mở đầu cuốn Kịch nói Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX , có nhan
đề “Kịch nói Việt Nam, thời kỳ đầu hình thành và phát triển”, GS Hà Minh
Đức viết: “Nam Xương không trực tiếp đả kích vào bọn thực dân xâm lược,
mà phê phán đả kích vào cái hình bóng của nó qua những quái thai như Cử
Lân, một trí thức du học ở Pháp về và hoàn toàn mất gốc” “Chất hài trong
kịch Ông Tây An Nam của Nam Xương bộc lộ trong chiều sâu của xung đột
và tác giả biết dẫn dắt để nhân vật tự phơi bày những nghịch lý, những trò lố
lăng. Có thể xem đây là vở hài kịch thành công trong không khí chung của
thời kỳ này” [22, tr.12]
Trong công trình “ Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam” của
Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý, có viết: “Ở cuối thời kỳ này (thời kỳ 1927 -
1930, theo cách phân kỳ của 2 tác giả trên - NTQ), Nam Xương cũng để lại
hai vở kịch đáng chú ý là vở Chàng Ngốc và vở Ông Tây An Nam. Qua vở
Ông Tây An Nam, Nam Xương đả kích một bọn trí thức vong bản. Cũng qua
hai vở ấy, người ta thấy Nam Xương là người am hiểu về nghệ thuật kịch cổ
điển và có sở trường về lối hài kịch”.[13, tr42] Cũng trong cuốn sách trên,
Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý nhấn mạnh vị trí của kịch Nam Xương trong
sân khấu kịch nói đương thời: “ trong sự phát triển có thể nói là xô bồ của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
mấy năm 1929, 1930, 1931, người ta ít tìm thấy những vở có tiếng vang trong
kịch trường, trừ mấy vở của Nguyễn Hữu Kim, Vi Huyền Đắc, Tương Huyền
và nhất là của Nam Xương” [13, tr. 44].
Bài báo của nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà viết: “Bằng hai vở
kịch nói Ông Tây An Nam (1930) và Chàng Ngốc (1931), Nam Xương -
Nguyễn Cát Ngạc đã cùng với Vi Huyền Đắc, Vũ Đình Long, Nguyễn Hữu
Kim…trở thành những nghệ sĩ đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời của
nghệ thuật kịch nói Việt Nam. Dù chỉ là đôi dòng, nhưng tên tuổi của Nam
Xương - Nguyễn Cát Ngạc thường được nhắc tới trong các công trình
nghiên cứu lịch sử văn học, nghiên cứu lịch sử sân khấu Việt Nam trong
những thập kỷ đầu của thế kỷ XX.”, “Có thể nói không quá lời rằng
Nguyễn Cát Ngạc, là một trong số ít các tác giả đầu tiên có những sáng tác
văn học về một gia đoạn lịch sử cách chúng ta rất xa là thời đại Hùng
Vương - một thời đại mà sử liệu hiện chỉ còn chủ yếu trong truyền
thuyết…Cho đến nay, truyện ngắn của Nguyễn Cát Ngạc chưa được khảo
sát kỹ lưỡng. Có thể nhận xét, đây là những truyện ngắn được viết khá
công phu, được tổ chức theo lối kịch bản, có thắt nút cởi nút, đặc biệt tác
giả thường khai thác một cách tinh tế những tình huống có khả năng khắc
họa hình ảnh lố bịch của những kẻ bán nước hại dân. ”[14]
Có thể thấy rằng: hầu hết các công trình nghiên cứu trên đây chỉ mới
dừng ở những đánh giá ngắn gọn và khái quát về Nam Xương - Nguyễn
Cát Ngạc, chủ yếu ở vai trò một tác giả kịch bản giai đoạn đầu thế kỷ XX
trong một tổng thể chung của cả nền văn học hoặc riêng lĩnh vực kịch nói;
và mới chỉ có một bài báo của nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà viết về
cuộc đời và sự nghiệp của Nam Xương. Toàn bộ sự nghiệp văn học của
Nam Xương nói chung và phần văn xuôi nói riêng chưa được khảo sát,
nghiên cứu. Bài báo của nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà - tuy đã đề
cập tới phần văn xuôi của ông, nhưng cũng mới chỉ dừng ở việc đưa ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
những nhận định ban đầu. Chưa có công trình nào nghiên cứu sự nghiệp
văn chương của Nam Xương một cách hệ thống và hoàn chỉnh. Do đó,
việc nghiên cứu về Nam Xương là rất cần thiết.
3. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật trong các
sáng tác của Nam Xương ở hai thể loại: kịch bản và truyện ngắn.
- Khẳng định các đóng góp của Nam Xương đối với sự hình thành và
phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại trong giai đoạn đầu thế kỷ XX ở
hai thể loại trên.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
- Toàn bộ các tác phẩm của Nam Xương, tập trung nghiên cứu các tác
phẩm kịch bản và truyện ngắn.
- Các tài liệu liên quan: các tác phẩm kịch bản, truyện ngắn cùng thời với
ông; các công trình nghiên cứu có đề cập đến sáng tác của Nam Xương.
- Các tài liệu lý thuyết, lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Chỉ ra được những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của Nam
Xương trong thể loại kịch bản văn học.
- Chỉ ra được những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của Nam
Xương trong thể loại truyện ngắn.
- Khẳng định vị trí, vai trò cùng những đóng góp quan trọng của Nam
Xương trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hoá nền văn học nước nhà ở
hai thể loại trên.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên
cứu:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống
7. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương.
Chương I: Vài nét về đời sống xã hội - văn hóa Việt Nam giai đoạn
đầu thế kỷ XX và tác giả Nam Xƣơng.
Chương II. Một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật kịch bản của
Nam Xƣơng.
Chƣơng III. Một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật truyện ngắn
của Nam Xƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Chƣơng I
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI – VĂN HOÁ VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ
XX VÀ TÁC GIẢ NAM XƢƠNG - NGUYỄN CÁT NGẠC
1.1. Đời sống xã hội – văn hoá Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX ảnh
hƣởng đến việc hình thành ngòi bút Nam Xƣơng - Nguyễn Cát Ngạc
1.1.1. Sự xâm nhập của văn hoá phương Tây và những biến động
trong đời sống xã hội - văn hoá Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, về cơ bản người Pháp đã hoàn tất quá trình xâm lược
Việt Nam. Chính sách chia để trị và sự hình thành về mặt hình thức của ba xứ
Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ đã cho phép người Pháp xúc tiến công cuộc
khai thác thuộc địa ở “xứ Đông Dương thuộc Pháp” một cách triệt để, nhằm tận
thu của cải vật chất từ thuộc địa, và nhằm một mặt bù vào những thiệt hại nặng
nề từ các cuộc chiến tranh mà nước Pháp tham gia, một mặt tăng cường thêm
nguồn lực tạo ra sức mạnh của nước Pháp trong quan hệ quốc tế. Kết quả của
chính sách kinh tế đó là nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp hàng nghìn năm đã
bị phá vỡ, kinh tế tư bản hình thành và phát triển; nước ta trở thành một thuộc
địa bị khai thác đến tận cùng các của cải vật chất, đồng thời trở thành thị trường
tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu cho tư bản công nghiệp và thương nghiệp
Pháp. Đi cùng với tình trạng này là việc giai cấp nông dân Việt Nam bị bần
cùng hoá, tầng lớp tiểu tư sản, thợ thủ công không có điều kiện để phát triển,
trở thành nguồn nhân công đông đảo và rẻ mạt cho các hãng buôn, chủ đồn
điền, chủ thầu của Pháp.
Về mặt chính trị, chế độ thực dân nửa phong kiến chưa từng có trong
lịch sử Việt Nam từng bước hình thành trên khắp lãnh thổ. Nó tiếp tục kìm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
hãm sự phát triển của đất nước dưới một hình thức khác, tuy nhiên chính sự
có mặt của nó lại phá vỡ và gây nên những biến động lớn trong xã hội Việt
Nam vốn hàng nghìn năm “bế quan toả cảng” dưới chế độ phong kiến kiểu
phương Đông.
Để bóc lột sức lao động và vơ vét tài nguyên ở nước thuộc địa, người
Pháp mở mang giao thông, thị trường buôn bán, phát triển nền kinh tế hàng
hoá thống nhất trong cả nước. Kèm theo sự phát triển ấy là việc mở rộng các
đô thị cũ, hình thành các khu công nghiệp mới “kiểu phương Tây”, rồi các
tỉnh lỵ, phủ, huyện lỵ được xây dựng như những trung tâm kinh tế - văn hóa
địa phương để phục vụ hoạt động, sinh hoạt của tầng lớp “Tây thuộc địa”, là
trung tâm hành chính để cai trị, đồng thời là nơi sơ chế, buôn bán và tiêu thụ,
sản phẩm có được trong quá trình bóc lột tài nguyên và tận dụng nguồn nhân
công rẻ mạt.
Quá trình đô thị hoá dẫn đến sự phá vỡ kết cấu xã hội. Hệ thống các giai
tầng đã có tuổi đời hàng nghìn năm, được tổ chức theo mô hình “tứ dân” (sĩ -
nông - công - thương ) dần dần bị phá vỡ do trong xã hội xuất hiện những dấu
hiệu sơ khai của quan hệ sản xuất kiểu mới mà nền kinh tế tư bản từ nước
Pháp mang lại. Những ngành nghề chưa từng có trong lịch sử dân tộc như
thông ngôn, ký lục, ký giả, cho đến thợ cơ khí, thợ in ấn, phu mỏ,… lần lượt
xuất hiện, và tình trạng này cũng góp phần làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp
trong xã hội. Đông đảo nông dân bị bần cùng hoá do mất ruộng đất phải tha
hương ra các đô thị kiếm sống, hình thành một tầng lớp tiểu tư sản nghèo
ngày càng tăng mãi lên trong các đô thị; một số khác không nhiều trở thành
lực lượng phu mỏ, phu đồn điền, từng bước hình thành nên những bộ phận
đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Và do đó, cuộc xâm lăng của
người Pháp đã đẩy tới sự thoát thai ra khỏi cách thức tổ chức xã hội kiểu cũ,
từng bước làm nên một xã hội Việt Nam kiểu mới với sự xuất hiện của một số
tầng lớp xã hội mới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
Về sinh hoạt xã hội, đã diễn ra một tình trạng phân cực rõ rệt đến mức
đối lập giữa nông thôn và đô thị, giữa kẻ giàu và người nghèo. Một nền kinh
tế phụ thuộc với một số hàng hoá đến từ phương Tây, cùng với đó là một lối
sống kiểu khác với những giá trị văn hóa - văn minh khác lạ đã dẫn đến sự
thay đổi tâm trạng và lối sống trong xã hội Việt Nam đương thời. Từ việc tẩy
chay những gì thuộc về ngoại bang, dần dà người ta buộc phải thích ứng với
nó. Ở cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực, sự xâm nhập của cái mới đến từ
phương Tây đã làm thay đổi căn bản bộ mặt xã hội Việt Nam, phá vỡ sự bình
yên ngàn đời dưới luỹ tre xanh, đặt con người đứng trước sự tự ý thức trong
một xã hội phức tạp và rộng lớn, phải vật lộn trong những tính toán mưu sinh
trong các quan hệ ít nhiều mang dấu ấn của kinh tế thị trường tư bản, lạnh
lùng và “tiền trao cháo múc”.
Về mặt xã hội - văn hoá, công cuộc khai thác thuộc địa tự nó đòi hỏi phải
có một hệ thống hạ tầng cơ sở, một không gian văn hóa chính quốc thu nhỏ,
không chỉ nhằm phục vụ sinh hoạt mà còn có ý nghĩa quảng bá với cường độ
cao, tiến tới đồng hóa văn hóa bản địa thông qua việc tuyên truyền cho những
giá trị văn hóa - văn minh phương Tây mà văn hóa - văn minh Pháp là đại
diện. Hệ quả của quá trình “khai hoá văn minh” mà người Pháp thực hiện tại
xứ An Nam là sự phân hóa trong hoạt động tinh thần của xã hội. Biểu hiện cụ
thể nhất là qua tình trạng cùng tồn tại của lớp nhà Nho, trí thức khoa bảng do
nhà nước phong kiến Việt Nam đào tạo và những trí thức “Tây học” được đào
tạo ở các nhà trường thuộc địa hoặc được đào tạo tại nước Pháp. Tình hình
này đã đưa tới một hệ quả là sự du nhập những tri thức mới vào sinh hoạt tinh
thần của người Việt trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đây
cũng là thời kỳ mà lần đầu tiên các người con yêu nước của dân tộc được tiếp
xúc với những tư tưởng tiến bộ của nhân loại lúc bấy giờ. Họ học hỏi, họ suy
nghĩ và ý chí chấn hưng dân tộc, tư tưởng dân chủ và cách mạng được cái chí
sĩ yêu nước bàn thảo và truyền bá công khai, trở thành mục tiêu của một số
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
phong trào yêu nước tiến bộ như Đông du, Đông kinh nghĩa thục, cho thấy
sự “lột xác” trong nhận thức của thế hệ người Việt Nam đầu tiên tiếp xúc với
khoa học - văn minh phương Tây và cũng cho thấy tính chất quyết định trong
tiến trình lịch sử dân tộc ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Cũng
trong thời kỳ này, chủ nghĩa Mác - Lê nin, tinh hoa rực rỡ nhất của nhân loại
đã được tiếp thu, kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào cách mạng
của giai cấp công nhân còn non trẻ đã trở thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho
sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng Cộng sản Việt
Nam - lực lượng tiên phong lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Chúng tôi trình bày vài nét về bối cảnh xã hội – văn hoá Việt Nam đầu
thế kỷ XX để làm cơ sở cho việc nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của nhà
văn Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc, bởi đó là những điều kiện khách quan
đã tác động mạnh mẽ, và là đối tượng phản ánh trong tác phẩm của ông, cũng
như góp phần hình thành tư tưởng và thế giới nghệ thuật của ông.
1.1.2. Quá trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX và những ảnh hưởng trực tiếp đến nhà văn Nam Xương - Nguyễn Cát
Ngạc.
Sự ra đời và diễn biến của nền kinh tế - xã hội – văn hoá kiểu mới trên
đây đã tác động sâu sắc đã tác động sâu sắc tới mọi lĩnh vực vật chất - tinh
thần của xã hội, và tất nhiên đối với văn học, nó cũng đặt ra các yêu cầu
khách quan cho tiến trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam. Đồng thời, tự
thân đời sống văn học cũng đứng trước yêu cầu phải đổi mới theo xu hướng
hiện đại, bởi sự tham góp của các thành tố quan trọng về kinh tế - xã hội - văn
hóa đã có vai trò như “bà đỡ” cho tiến trình hiện đại hoá văn học. Và trên
thực tế, nhiều biến động văn hóa - xã hội đã diễn ra và cũng là điều kiện để
văn học phát triển.
Trước hết là sự thay thế dần chữ Hán, chữ Nôm bằng chữ quốc ngữ.
Thời kỳ này, chữ quốc ngữ thật sự đã trở thành một chiếc cầu nối giữa văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
hóa Việt với văn hóa phương Tây. Có thể xem chữ việc sử dụng chữ quốc
ngữ là thành tựu quan trọng của việc dân chủ hoá nền văn học. Sự phát triển
của chữ quốc ngữ gắn liền với sự thay đổi tư duy của xã hội mới, kéo theo
những kiểu công cụ chuyển tải mới như báo chí, và cả cách thức truyền bá
mới như in ấn với số lượng lớn và hàng loạt, cập nhật và phổ cập trong mọi
thành phần xã hội của hệ thống thông tin đại chúng - những phương tiện ngay
đến thời cận đại ở Việt Nam vẫn còn kém cỏi. Ngoài việc thông báo tin tức,
luận bàn các vấn đề xã hội, giới thiệu những thành tựu văn hoá - văn minh
phương Tây , một hệ quả của sự phát triển hệ thống thông tin đại chúng là
đưa tới việc xuất hiện và đăng tải các tác phẩm văn chương “viết theo lối
mới”, khác hẳn với hình thức - nội dung những tác phẩm văn chương vẫn
được sáng tác và phổ biến theo “lối truyền thống”. Sự lên ngôi của chữ quốc
ngữ thay thế cho chữ Hán, chữ Nôm cùng với sự phát triển của các phương
tiện truyền thông, và quan trọng nhất là sự thay đổi về tư tưởng của các tầng
lớp trong xã hội, nhất là nhân sĩ trí thức, đã dẫn đến sự phát triển có tính bước
ngoặt của nền văn học nước nhà.
Một nền văn học hiện đại vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của sự thay
đổi lực lượng tác giả và công chúng của nó. Nếu như trong cả ngàn năm
trước, văn học trung đại là sự biểu hiện thành văn của chính trị - đạo đức, là
sản phẩm của các bậc nho sĩ, vua quan, mà mục đích chủ yếu họ khi cầm bút
là để bày tỏ chí hướng, bộc lộ khí phách người quân tử, văn chương là “thi dĩ
ngôn chí”, là “văn dĩ tải đạo”, thì vào đầu thế kỷ XX văn chương hiện đại đã
làm thay đổi vị trí và tâm thế người cầm bút. Và quan trọng hơn cả là các
quan niệm về đặc trưng và chức năng của văn học cũng thay đổi. Khi mà
những quan niệm về mỹ học phương Đông về sự ước lệ, tượng trưng, quy
phạm… đã hầu như không còn phù hợp nữa. Đặc biệt là một quan niệm mới
về đời sống tinh thần cho thấy văn chương không chỉ là chính trị, là luân lý,
mà nó còn mang tải những đặc trưng nghệ thuật riêng khác để phản ánh xã
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)