- Lãi thực của ngời gửi tiền đợc hởng nhằm đảm bảo lãi suất tiền gửi là
số dơng dể khuyến khích ngời gửi tiền vào ngân hàng.
- Chi phí ngân hàng thấp nhất đảm bảo tiền lơng, chi phí nghiệp vụ,
trích quỹ dự phòng rủi ro và lợi nhuận tối thiểu trong hoạt động ngân hàng-
- Tình hình cung cầu vốn tín dụng trên thị trờng.
- Mối quan hệ giữa lãi suất với tỷ giá ngoại tệ, giữa lãi suất nội tệ và lãi
suất ngoại tệ.
- Lãi suất thị trờng đấu thầu trái phiếu Kho bạc Nhà nớc trong các phiên
đấu thầu gần nhất.
- Lãi suất bình quân trên thị trờng nội tệ liên ngân hàng thời gian gần
nhất.
Để xác định biên độ đợc cộng vào lãi suất cơ bản cần dựa vào:
- Mục tiêu của chính sách tiền tệ từng thời kỳ ( thắt chặt hay nới lỏng) .
- Hệ số sử dụng vốn bình quân sau khi đã thực hiện dự trữ bắt buộc và
đảm bảo an toàn trong thanh toán của TCTD.
- Mức độ rủi ro của loại hình khách hàng.
- Đặc điểm khó khăn, thuận lợi trên những vùng kinh tế khác nhau
Trên cơ sở lãi suất cơ bản đợc tính theo những căn cứ nh vậy, các ngân
hàng thơng mại sẽ niêm yết để công bố mức lãi suất của mình. Mức lãi suất
cho vay thực tế của các ngân hàng sẽ là lãi suất cơ bản cộng với tỷ lệ % theo
biên độ giao động do NHTƯ quy định đợc áp dụng linh hoạt cho từng món
vay. Làm nh vậy NHNN Việt Nam sẽ quản lý đợc lãi suất cho vay cao nhất,
lãi suất cho vay thấp nhất, đảm bảo đợc quyền lợi của ngời vay trong khung
lãi suất ấn định, giúp cho các TCTD đợc tự quyết định lãi suất huy động và
tự do cạnh tranh trong khuôn khổ quản lý của NHNN Việt Nam Nh vậy, lãi
suất đã đợc điều hành theo hớng có chỉ đạo của NHNN, nhng đồng thời các
NHTM vẫn duy trì đợc quyền tự chủ trong quy định lãi suất. Lãi suất đã đợc
quản lý linh hoạt theo diễn biến thay đổi của thị trờng và dựa trên cơ sở đảm
bảo an toàn hệ thống.
Công thức chung để tính lãi suất cơ bản nh sau:
5
Lãi xuất
cơ bản do
NHNN
công bố
LSTG có
đảm bảo
quyền lợi
của khách
hàng
Chi phí
NH đảm
bảo có
lãi tối
thiểu
Biên
độ
dao
động
+= +
Theo cách tính lãi suất cơ bản nh trên, các NHTM đã đợc phép tính đến
một tỷ lệ lợi nhuận trong kinh doanh, mà vẫn tính đến cả mức độ rủi ro có
thể xảy ra. Bên cạnh đó, chi phí huy động đợc tính phù hợp trên cơ sở đảm
bảo lãi suất thực dơng cho ngời gửi tiền.
II.Một số cách hiểu về lãi suất cơ bản.
Nghị quyết Trung ơng lần thứ 4, khoá VIII Thông báo số 144/TB-TƯ
ngày 3/6/1998 của Bộ Chính trị nêu rõ: " Xây dựng và thực hiện cơ chế mới
phù hợp về tỷ giá và lãi suất, với bớc đi thích hợp, không để xảy ra biến
động xấuvề kinh tế, xã hội Cụ thể là thực hiện lãi suất thực dơng linh hoạt,
phản ánh đúng cung cầu vốn trên thị trờng, từng bớc áp dụng lãi suất cơ bản
thay dần cho việc ấn định trần lãi suât." Tuy nhiên với cách giải thích mà
NHNN đa ra trong luật đã nảy sinh khá nhiều cách hiểu khác nhau về lãi
suất cơ bản. Vấn đề đặt ra trong điều kiện hiện nay là lựa chọn loại lãi suất
cơ bản nào phù hợp với yêu cầu thực tiễn dặt ra. ở đây, em xin đợc nêu ra
một vài cách hiểu phổ biến nhất.
2.1 Lãi suất cơ bản là lãi suất tái cấp vốn
Đây là biện pháp phổ biến đợc NHTƯ các nớc áp dụng. Lãi suất
này do NHTƯ chủ động công bố và đợc xem xét tính toán tơng đối thờng
xuyên( hàng tháng hoặc 2 tuần một lần ) nên thực sự đóng vai trò quyết
định đối với các mức lãi suất kinh doanh cũng nh cung, cầu vốn của các
TCTD. Hơn nữa ở Việt nam, do nghiệp vụ chiết khấu của NHNN cha phát
triển, việc tái cấp vốn thực hiện tơng đối trực tiếp vì vậy lấy lãi suất tái cấp
vốn của NHNN để điều hành lãi suất sẽ thích hợp hơn là lãi suất tái chiết
khấu. NHNN chỉ cần xác định và công bố một mức lãi suất chỉ đạo đối với
các TCTD, do vậy thuận tiện cho việc điều hành quản lý chính sách lãi suất
của NHNN và tạo điều kiện chủ động trong kinh doanh của các TCTD.
Nhng trong điều 18 Luật NHNN Việt nam quy định:" NHNN xác
định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn". Vì vậy không thể
6
lấy lãi suất tái cấp vốn làm lãi suất cơ bản mà phải công bố một mức lãi suất
khác với tên gọi là lãi suất cơ bản. Lãi suất tái cấp vốn là công cụ điều hành
chính sách tiền tệ, trực tiếp để điều hành lợng tiền cung ứng của NHTƯ và
khối lợng vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế và gián
tiếp tác động vào lãi suất cho vay và huy động vốn ( thông qua tác động đến
cung cầu về vốn). Tuy nhiên, do cơ chế tái cấp vốn vận hành cha thông suốt
theo cơ chế thị trờng, các TCTD cha đợc tự do tiếp cận nguồn vốn của
NHNN ( theo cả hai chiều nhận vốn khi thiếu và đầu t trở lại khi thừa), nên
mức độ tác động của lãi suất tái cấp vốn đến mặt bằng lãi suất chung còn
rất nhiều hạn chế. Do vậy, nếu lấy lãi suất tái cấp vốn làm lãi suất cơ bản thì
có thể NHNN sẽ không đạt đợc mục tiêu tác động vào lãi suất của NHTM ,
kể cả khi quy dịnh một biên độ so với lãi suất cho vay.
2.2. Lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay tối đa.
Theo phơng án này, NHNN công bố trần lãi suất cho vay nh hiện nay
làm lãi suất cơ bản, các TCTD căn cứ vào trần lãi suất của NHNNđể ấn định
các mức lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi cụ thể theo từng thời kỳ và từng
vùng khác nhau.
Quy định nh phơng án này về nguyên tắc là phù hợp với Luật NHNN,
vì ở đây lựa chọn trần lãi suất cho vay là lãi suất cơ bản để làm cơ sở cho các
TCTD ấn định các mức lãi suất cho vay và huy động vốn. NHNN công bố
một mức lãi suất trần nhng có thể quy định một số mức biên độ so với trần
lãi suất phù hợp với đặc thù các loại hình TCTD , các vùng khác nhau và
các loại cho vay ngắn, trung và dài hạn nh hiện nay.
Ưu điểm:
- Tạo ra một bớc tiến mới trong chính sách lãi suất, tạo chủ động, linh
hoạt cho các TCTD trong kinh doanh và điều tiết quan hệ cung cầu về vốn,
đồng thời tạo môi trờng cạnh tranh lành mạnh giữa các TCTD trong khuôn
khổ lãi suất. Các TCTD đợc tự do hoá lãi suất tiền gửi và cho vay trong
phạm vi trần tối đa. Tuỳ theo đặc điểm, điều kiện của các loại hình TCTD về
quy mô, chi phí khác nhau mà NHNN có thể quy định nhiều mức trần lãi
suất cho phù hợp với điều kiện riêng có của loại hình tổ chức tín dụng và
của các vùng khác nhau.Các TCTD căn cứ vào trần lãi suất của NHNN để
7
ấn dịnh các mức lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi cụ thể phù hợp cung
cầu về vốn, các vùng khác nhau, mức chi phí vốn và lợi nhuận.
- Việc quy định cho vay theo trần lãi suất tạo ra mặt bằng chung về lãi
suất cho vay trong phạm vi cả nớc, nên tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
thanh tra, kiểm tra , giám sát về lãi suất của NHNN.
- Là cơ chế lãi suất linh hoạt theoquan hệ cung cầu vốn, phù hợp hơn
với cơ chế thị trờng và thông lệ quốc tế, tạo ra khả năng cạnh tranh lớn hơn
giữa các TCTD, giảm thiểu sự quản lý của Nhà nớc bằng mệnh lệnh hành
chính
- Việc xác định, công bố, điều hành chính sách lãi suất của NHNN theo
trần lãi suất dễ dàng, linh hoạt, thuận tiện.
Nhợc điểm:
- Việc quy định trần lãi suât cho vay làm lãi suất cơ bản còn mang nặng
tính hành chính trong điều hành chính sách tiền tệ. Do tính chất điều hành
trực tiếp nhiều hơn gián tiếp có thể sẽ cản trở quá trình tự do hoá lãi suất
cũng nh định hớng chuyền dần từ công cụ điều hành từ trực tiếp sang gián
tiếp của NHTƯ.
- Tiếp tục còn tình trạng nhiều trần lãi suất nh đã từng có trong những
năm trớc do tính chất kinh doanh, địa bàn hoạt động của các TCTD khác
nhau.
- Trong điều kiện các TCTD đang ứ đọng vốn, không cho vay đợc do
nền kinh tế đang trong trạng thái thiểu phát nh hiện nay, việc quy định lãi
suât cho vay tối đa là lãi suât cơ bản không thích hợp vì có thể dẫn đến tình
trạng các TCTD cạnh tranh nhau giảm lãi suất cho vay để thu hút khách
hàng gây nguy hại cho sự an toàn của hệ thống ngân hàng, tức là trần lãi
suất không còn phát huy tác dụng.
2.3. Lãi suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối đa.
Các TCTD ấn định các mức lãi suất tiền gửi trong phạm vi mức
khống chế lãi suất tiền gửi tối đa và ấn định các mức lãi suất tiền vay cụ thể
phù hợp với cung cầu vốn. Thực chất của lãi suất cơ bản loại này là NHNN
chỉ công bố và kiểm soát lãi suất tiền gửi tối đa và tự do hoá lãi suất cho
vay, việc điều hành và kiểm soát lãi suất cho vay thông qua điều hành lãi
8
suất tiền gửi tối đa và các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ. Điều này
sẽ không cho phép các TCTD huy động vốn với bất kỳ lãi suất nào, bảo đảm
an toàn hệ thống và lợi ích ngời gửi tiền; đồng thời giúp cho các TCTD chủ
động và linh hoạt trong việc ấn định lãi suất tiền gửi và cho vay phù hợp với
biến động của thị trơng tiên tệ và đặc điểm hoạt động của từng loại hình
TCTD và giữa các vùng khác nhau.Quy định lãi suất cơ bản là lãi suất tiền
gửi tối đa làm việc điều hành chính sách lãi suất của NHNN mang tính chất
quy định, về nguyên tẵc chung không can thiệp trực tiếp vào lãi suất kinh
doanh của TCTD.
Tuy nhiên, muốn điều hành lãi suát cho vay có hiệu quả thông qua
việc khống chế lãi suất tiền gửi tối đa thì phải sử dụng các công cụ gián
tiếp của chính sách tiền tệ nh nghiệp vụ thị trờng mở, cửa sổ chiết khấu và
thị trờng liên ngân hànghoạt động co hiệu quả nhằm thực hiện NHTƯ là ng-
ời cho vay cuối cùng. Nhng các điều kiện trên ở nớc ta cha hội tụ đủ, Vì
vậy, khả năng điều tiết và quản lý lãi suất sẽ rất hạn chế vì chỉ còn mỗi một
công cụ trực tiếp mà NHNN có thể thực hiện là nâng hoặc hạ lãi suất tiền
gửi tối đa để theo đó mà nâng hoặc hạ lãi suất cho vay. Nếu thực hiện lãi
suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối đa thì có thể dẫn đến tình trạng:
+ Các TCTD sẽ nâng lãi suất cho vay lên cao để đạt đợc lợi nhuận
cao vì bản chất của cơ chế thị trờng là lợi nhuận tối đa. Khi đó, nếu NHNN
dùng biện pháp hạ lãi suất tiền gửi tối đa thì sẽ kém hiệu quả và có thể lãi
suất cho vay co thể không hạ xuống đợc.Bài học về lãi suất cho vay thoả
thuận trớc đây (1993-1995) đã minh chứng điều đó, lãi suất cho vay thoả
thuận lên đến 0,35%/ tháng trong khi lãi suất cụ thể quy định là 1,8%-2,1%/
tháng, các TCTD có lãi lớn trong khi các doanh nghiệp gặp khó khăn nên
Quốc hội đã yêu cầu Chính phủ và ngành Ngân hàng và chính sách trần lãi
suất ra đời từ đó để khống chế lãi suất cho vay quá cao.
+ Lãi suất cho vay cao nhng các doanh nghiệp và hộ sản xuất vấn
phải vay vì thiếu vốn sản xuất và vay để bù đắp các khoản nợ cũ đến hạn do
cung về vốn ở nớc ta luôn nhỏ hơn cầu, lợi nhuận thấp hơn chi phí trả lãi
ngân hàng dẫn đến nguy cơ cả doanh nghiệp và Ngân hàng đều khó khăn và
dẫn cả 2 đến chỗ mất khả năng thanh toán.
9
+ Nếu thực hiện lãi suất này chắc chắn sẽ hình thành nhiều khu vực
lãi suất theo cung cầu vốn và chi phí ngân hàng khác nhau nh: lãi suất khu
vực nông thôn sẽ cao hơn khu vực thành thị, lãi suất cho vay các TCTD cổ
phần sẽ cao hơn các TCTD có quy mô và sức cạnh tranh lớn hơn nh NHTM
quốc doanh, Ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nớc ngoài, Và
nh vậy sé giảm tính lành mạnh của cạnh tranh và trong sự cạnh tranh này
các TCTD lớn sẽ có u thế hơn
Vì vậy, khi NHNN xây dựng và củng cố thị trờng tiền tệ chuyển từ
điều hành chính sách tiền tệ bằng các công cụ trực tiếp sang kết hợp điều
hành bằng công cụ trực tiếp với công cụ gián tiếp cần thực hiện một cơ chế
lãi suất cơ bản linh hoạt hon là công bố lãi suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối
đa.
Tóm lại, về nguyên tắc, sử dụng theo một trong các phơng thức nêu
trên đều đúng cả. Nhng do điều kiện kinh tê, tiền tệ ở Việt nam hiện nay
việc lựa chọn một phơng thức thích hợp nhất còn phải cân nhắc nhiều.
III. Yêu cầu đối với lãi suất cơ bản.
Kinh tế Việt nam vừa qua giai đoạn từ một nền kinh tê kế hoạch hoá
đậm nét tính quan liêu bao cấp để hớng tới phát triển theo hớng kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc. Nền thị
trờng tiền tệ cha ổn định vững vàng, hệ thống các NHTM còn nhỏ bé, cha
đủ sức cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, trong đó thị phần chủ
yếu là các NHTM quốc doanh. Với tình hình nh vậy, việc điều hành lãi suất
cơ bản phải chú ý đến các yêu cầu sau:
* Lãi suất cơ bản trớc hết phải đợc xác định đúng chuẩn mực để đúng
với vai trò lãi suất chỉ đạo, các căn cứ để xác định lãi suất cơ bản phải dựa
trên các chỉ tiêu kinh tế cũng phải đợc tính toán chính xác nh: các chỉ tiêu
dự kiến về chỉ số lạm phát, chỉ tiêu về tăng trởng kinh tế, mối quan hệ cung
cầu về vốn và yêu cầu của việc điều hành chính tiền tệ quốc gia, mối quan
hệ giữa tỷ giá ngoại tệ với đồng Việt nam.
* Vai trò quản lý Nhà nớc của NHNN thể hiện trong việc điều hành
lãi suất cơ bản phải đợc đề cao. NHNN có thể giám sát kiểm sát các TCTD
trong việc quy định và thực hiện lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay của
10
mình phù hợp với lãi suất chỉ đạo, phù hợp với lãi suất trên cùng địa bàn,
bảo đảm đợc kinh doanh, ngăn ngừa đợc tình trạng cạnh tranh không lành
mạnh giữa các TCTD.
* Phải thể hiện đợc chính sách của Nhà nớc dùng lãi suất để tác động
tới kinh tế nói chung và tình hình tiền tệ nói riêng, nhng không phải là
chính sách nặng về thắt chặt tiền tệ nh thời gian vừa qua.
*Phát huy cao độ tính tự chủ trong kinh doanh của các TCTD, tạo
thuận lợi cho các tổ chức tín dụng linh hoạt cho việc tự do định lãi suất, làm
quen dần với tính cạnh tranh lành mạnh trong thị trờng giữa các TCTD nhng
vẫn trong khuôn khổ của lãi suất cơ bản mà NHNN chỉ đạo quản lý.
* Phản ánh đợc cung cầu tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế mà các
Ngân hàng (thờng là các Ngân hàng lớn), trong đó phải phân biệt đợc đâu là
nhu cầu thực, đâu là nhu cầu đầu cơ để có khả năng chống đầu cơ ở thị tr-
ờng tài chính đang là nguy cơ gây ra khủng hoảng tiền tệ kéo theo khủng
hoảng kinh tế.
* Phải tơng thích với lãi suất của các nớc trong khu vực và rộng ra
trên thế giới để vừa thu hút đợc vốn tín dụng từ bên ngoài, vừa không rơi
vào những sai lầm chính sách nh các nớc bị khủng hoảng tiền tệ, vào nanh
vuốt của đầu cơ.
IV. Ưu-nhợc điểm của việc quản lý bằng lãi xuất cơ bản.
Theo báo cáo của chính phủ do Thủ tớng Chính phủ Phan Văn Khải
trình bày tại kỳ họp thứ 6 quốc hội khoá X tháng 11/1999 thì" Ngân hàng
cần sớm thay thế việc định lãi suất trần bằngviệc áp dụng lãi suất cơ bản
theo Luật Ngân hàng đi đôi với việc sử dụng các công cụ điều tiết lu thông
tiền tệ phù hợp với cơ chế thị trờng Giải pháp cơ bản và lâu dài là đổi mới
cơ chế lãi suất, đồng thời đòi hỏi các doanh nghiệp phải làm ăn có lãi, trả đ-
ợc nợ".
Cụ thể hoá quy định này, Quyết định 241/2000/QĐ-NHNN1 ngày
2/8/2000 nêu rõ: Đối với đồng Việt Nam, lãi suất cơ bản do thống đốc Ngân
hàng nhà nớc quy định hàng tháng, trên cơ sở tham khảo mức lãi suất cho
vay thơng mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các TCTD đợc lựa
11
chọn theo quyết định của Thống đốc NHNN trong từng thời kỳ. Các TCTD
ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất cơ bản do NHNN công bố theo
nguyên tắc lãi suất cho vay không vợt quá lãi suất cơ bản cộng với biên độ
nhất định. Đối với đồng Đôla, Quyết định 243/2000/QĐ-NHNN1 quy định:
lãi suất cho vay của các TCTD đợc xác định căn cứ vào lãi suất Đôla Mỹ
trên thị trờng tiền tệ Ngân hàng Singapore (SIBOR) và cũng đợc phép dao
động với một biên độ nhất định. Cùng ngày 2/8/2000, Thống đốc NHNN đã
công bố chính thức lãi suất cơ bản và biên độ hiện hành nh sau:
-Đối với đồng Việt Nam, lãi suất cơ bản là 0,75% tháng, biên độ giao
động là 0,3%/tháng đối với tín dụng ngắn hạn và 0,5%/tháng đối với lãi suất
cho vay trung, dài hạn. Lãi suất cho vay và lãi suất huy động của TCTD gắn
với lãi suất cơ bản, theo đó lãi suất cho vay của TCTD cao nhất bằng lãi suất
cơ bản cộng(+) tỷ lệ phần trăm.
Lãi suất cơ bản và biên độ đợc công bố định kỳ hàng tháng, trờng hợp
cần thiết NHNN sẽ công bố điều chỉnh kịp thời.
-Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ:
+ Cho vay bằng đôla Mỹ: bỏ việc quy định trần lãi suất cho vay của
NHTM đối với khách hàng, chuyển sang cơ chế lãi suất linh hoạt phù hợp
với thị trờng quốc tế nhng vẫn có sự kiểm soát của NHNN, cụ thể lãi suất
cho vay ngắn hạn( từ 1 năm trở xuống) không vợt quá mữc SIBOR ( lãi suất
thị tròng tiền tệ liên ngân hàng Singapore ) kỳ hạn 3 tháng 1,0% /năm, lãi
suất cho vay trung dài hạn không vợt quá mức SIBOR kỳ hạn 6 tháng+
0,5% /năm.
+ Cho vay bằng các ngoại tệ khác: Do chiếm tỷ lệ nhỏ trong hoạt động
tiền gửi và tín dụng trên thị trờng, nên cho phép các NHTM tự xem xét
quyết định lãi suất tiền gửi, cho vay của các loại ngoại tệ này trên cơ sở lãi
suất quốc tế và cung cầu vốn tín dụng của từng loại ngoại tệ đó.
Với quy định về lãi suất cơ bản và biên độ nh trên là phù hợp với mặt
bằng lãi suất đã và đang đợc hình thành trên thị trờng nông thôn và thành
thị hiện nay, không tác động làm thay đổi lãi suất thị trờng và không tạo tâm
lý về việc NHNN tăng trần lãi suất. Nh vậy, so với cơ chế trần lãi suất tín
dụng, cơ chế lãi suất cơ bản có một số u điềm sau:
12
- Thứ nhất, nền tảng thị trờng đã đợc đa vào cơ chế xác định lãi suất cơ
bản
- Thứ hai, môi trờng cho việc ấn định lãi suất kinh doanh của các TCTD
đợc mở rộng. Nếu nh trớc đây, các TCTD chỉ đợc phép ấn định lãi suất kinh
doanh thấp hơn trần lãi suất tín dụng, thì với cơ chế lãi suất mới này, các
TCTD đợc phép ấn định lãi suất kinh doanh cả ở trên và dới lãi suất cơ bản,
trong đó giới hạn trên là lãi suất cơ bản cộng với biên độ giao động.
- Thứ ba, lãi suất kinh doanh của các TCTD có thể là lãi suất cơ bản
hoặc là lãi suất thả nổi. Việc đa vào cơ chế lãi suất thả nổi là hoàn toàn hợp
lý, nó không chỉ phù hợp với cơ chế thị trờng, mà còn phù hợp với cơ chế
lãi suất cơ bản mà NHNN sẽ tiến hành điều chỉnh hàng tháng trên cơ sở
tham khảo lãi suất thị trờng.
- Thứ t, phơng án này một mặt không buông lỏng quản lý để lãi suât
biến động tự do nhng một mặt cũng không gây áp đặt lãi suất cứng nhắc, bỏ
qua những tín hiệu thị trờng. Sử dụng phơng án này là sự kết hợp hài hoà
giữa hai thái cực, tạo ra một hành lang phù hợp để xây dựng một môi trờng
cạnh tranh lành mạnh. Một số ngân hàng không thể sử dụng u thế về quy
mô, tiềm lực tài chính, địa bàn hoạt động của mình để giành khách hàng
quá mức cho phép. Đồng thời quy định này cũng không làm triệt tiêu động
lực cạnh tranh giữa các TCTD . Muốn nâng cao chất lợng phục vụ, các
TCTD vẫn phải không ngừng tìm cách tối thiểu chi phí hoạt động, hạ mức
lãi suất cho vay trong phạm vi quy định để ngày càng thu hút đợc nhiều
khách hàng về phía mình.
- Thứ năm, đã có cơ chế chính thức liên hệ lãi suất đồng đôla trong nớc
và lãi suất đồng đôla trên các thị trờng quốc tế thông qua lãi suất đồng đôla
trên thị tròng tiền tệ Singapore.
Chủ trơng điều hành lãi suất của NHNN theo Luật NHNN về cơ bản là
đúng, phù hợp với yêu cầu và các điều kiện hiện nay của các đối tợng hởng
lãi suất là ngời cho vay, ngời vay và các ngân hàng thơng mại, các TCTD.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt u việt trên, việc quản lý của NHNN bằng
lãi suất cơ bản đã bộc lộ một số nhợc điểm không phù hợp với sự phát triển
kinh tế, cha tơng xứng với những đòi hỏi bức xúc trong việc phát triển mạnh
mẽ thị trờng tiền tệ
13
+ Việc quy định lãi suất cơ bản nh vậy sẽ tạo ra sự không thống nhất về
lãi suất cho vay, lãi suất huy động vốn giữa các TCTD, tạo nên sự cạnh tranh
không bình thờng giữa các tổ chức này trên cùng địa bàn. Mặc dù theo
quyết đinh 241/2000/QĐ-NHNN1 thì lãi suất cho vay tối đa là 1,05%
/tháng( ngắn hạn) và 1,25%/ tháng ( trung vàdài hạn) nhng thực tế cho vay
của các Quỹ tín dụng nhân dân và các NHTMCP nông thôn vãn ở mức 1,5%
/ tháng, trong khi đó thu nhập của ngời nông dân thấp hơn dân c thành thị,
yêu cầu phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn đòi hỏi phải u tiên vốn
tín dụng cho khu vực này. Giữa các NHTM với nhau, lãi suất cho vay và lãi
suất huy động cũng rất khác nhau, ngay trong từng địa bàn, Nói chung lãi
suất huy động của các NHTMCP cao hơn các NHTMQD từ 1%-1,5%/tháng
trên cùng một địa bàn. Một số NHTMCP dùng lãi suất làm công cụđể cạnh
tranh khách hàng với các NHTM khác do họ có lợi thế về tính linh hoạt
trong điều hành lãi suất. Nhiều NHTM còn dùng lãi suất cho vay để thu hút
khách hàngm nhất là các khách hàng lớn nh các Tổng công ty 90-91, trong
khi đó, các NHTMCP vốn ít phải chấp nhận lãi suất cao hơn nên rất khó
khăn trong kinh doanh tiền tệ
+ Lãi suất hiện nay đã vợt quá tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ lạm phát năm
1998=9,2%, năm 1999 là 0,1% và năm 2000là -0,1%. Trong khi đó, tỷlệ lãi
suất huy động tiền gửi và lãi suất cho vay của các NHTM và các TCTD ngắn
hạn và dài hạn đều cao hơn mức đó. Sự chênh lệch tỷ lệ lạm phát và lãi suất
huy động, lãi suất cho vay nh trên đã và đang tạo ra những mâu thuẫn trong
hoạt động tín dụng của các NHTM và các TCTD. Tỷ lệ lạm phát thấp nh ba
năm vừa qua, bên cạnh mặt tích cực là ổn định giá trị đồng nội tệ cũng có
mặt đáng quan tâm là thị trờng trầm lắng, sức mua thấp, hàng hoá ứ đọng,
dấu hiệu của những cơn sốt lạnh. Trong khi đó các doanh nghiệp lại phải
vay vốn ngân hàng với lãi suất cao nên buộc họ phải tính toán và giảm mức
vayvốn của ngân hàng để giảm chi phí do lãi suất cho vay vốn. Không ít
doanh nghiệp thay vì việc vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh lại gửi tiền
vào ngân hàng để đợc hởng lãi suất đỡ rủi ro hơn so với mở rộng sản xuất
kinh doanh trong điều kiệnthị trờng trầm lắng, hàng hoá tồn kho còn nhiều.
Hoạt động của các doanh nghiệp cũng có xu hớng chững lại rõ nét và xu h-
ớng này cũng làm cho tình trạng các ngân hàng bị xấu đi.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét