Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

KHU PHỐ CỔ HÀ NỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI

Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
PHẦN A:
Mở đầu và một số vấn đề chung của đề tài
1. Lý do chọn đề tài:
Hà Nội, mảnh đất ngàn năm văn vật, "thứ nhất kinh kỳ", luôn tồn tại
sống trong tiềm thức của mỗi người con đất Việt. Để rồi "dù có bốn phương
trời, lòng vẫn nhớ về Hà Nội", Hà Nội như là một biểu tượng văn hóa bậc
nhất của con người và đất nước ta. Và nằm trong lòng thủ đô là khu phố cổ 36
phố phường của thành Thăng Long cũ. Nếu như Hà Nội là trái tim của Việt
Nam, thì phố cổ chính là trái tim của thủ đô yêu dấu. Cùng hướng về kỷ niệm
1000 năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, thủ đô đang có những bước
chuyển mình mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực để xứng đáng là trung tâm văn hóa,
kinh tế, chính trị lớn nhất cả nước.
Đóng góp vào sự phát triển chung đó là khu phố cổ Hà Nội với sức hấp
dẫn lan tỏa mạnh mẽ, với những giá trị văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc
dân tộc. Không phải ngẫu nhiên mà năm 2004, phố cổ Hà Nội được công
nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và nhận được sự quan tâm xứng
đáng của các ban ngành có liên quan. Đây là một bằng chứng của lịch sử về
sự sức sáng tạo trong lao động, sự hài hòa về con người trong môi trường
cuộc sống của cư dân thành Thăng Long còn tồn tại đến ngày nay mà không
phải thành phố lớn nào trên thế giới cũng có được. Với tư cách là một tài
nguyên du lịch đầy tiềm năng, đã và đang được khai thác có hiệu quả cho
ngành du lịch, phố cổ Hà Nội mang đến cho du khách những cảm xúc khó tả
và những kỷ niệm khó quên. Là một sinh viên ngành Văn hóa du lịch, em
nhận thấy đây là một đề tài khoá luận phù hợp với khả năng và niềm yêu thích
của mình. Với mong muốn tìm hiểu kỹ lưỡng và đưa ra những ý kiến đóng
góp nhỏ bé nhưng không kém phần thiết thực cho việc phát triển du lịch của
5
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
khu phố cổ Hà Nội trong bối cản phát triển du lịch của thủ đô, em đã cố gắng
thực hiện khóa luận này trong khả năng của mình.
2. Mục đích giới hạn của đề tài:
Mục đích của đề tài là nghiên cứu, tìm hiểu khu phố cổ Hà Nội để từ đó
đưa ra những ý kiến đóng góp cho sự phát triển du lịch của khu phố cổ Hà
Nội nhằm phát triển du lịch của thủ đô Hà Nội.
Giới hạn của đề tài là không gian khu phố cổ và các đối tượng tham gia
du lịch chính trong khu phố cổ Hà Nội.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài này sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp tổng hợp tài liệu
- Phương pháp điều tra thực địa (điền dã)
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn.
4. Bố cục khóa luận:
Phần A: Mở đầu và một số vấn đề chung của đề tài.
Phần B: Nội dung của khóa luận chia làm ba chương:
Chương 1: Lịch sử hình thành của khu phố cổ Hà Nội.
Chương 2: Khu phố cổ Hà Nội với hoạt động du lịch của thủ đô Hà Nội.
Chương 3: Một số biện pháp khai thác tài nguyên du lịch của khu phố
cổ để phát triển du lịch Hà Nội.
Kết luận.
6
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
PHẦN B:
Nội dung của khóa luận
CHƯƠNG 1:
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH KHU PHỐ CỔ HÀ NỘI
1.1. Phố cổ Hà Nội - giá trị truyền thống và hiện đại
1.1.1. Quan niệm về phố cổ
Cho đến thời điểm hiện nay, đất nước ta đã bước vào thiên niên kỷ thứ
ba và liền kề với ngày kỷ niệm Thăng Long - Hà Nội tròn 1000 năm tuổi, thế
nhưng chưa có nhà khoa học chuyên ngành; liên ngành nào; dù bằng những
bằng chứng xác thực, những tư liệu lịch sử và lý luận thuyết phục; có thể đưa
ra khái niệm hoặc một định nghĩa cụ thể nào về phố cổ Hà Nội là một di sản
văn hóa cấp quốc gia vào cuối năm 2004 (quyết định số 14/2004/QĐ -
BVHTT) thì những quan niệm về phố cổ được đánh giá theo khía cạnh là một
di sản văn hóa. Các di sản văn hóa và di tích lịch sử là sản phẩm lao động của
nhiều thế hệ trước và là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của ngành du lịch.
Các di tích lịch sử văn hóa không chỉ là di sản văn hóa quý giá của mỗi
địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước hay thậm chí là của nhân loại. Đó còn
là bằng chứng trung thành, xác thực nhất và cụ thể nhất về thời điểm hay thời
kỳ văn hóa. Nó mang trong mình những giá trị truyền thống, kiến trúc, thuần
phong mỹ tục để đóng góp tích cực vào việc phát triển về mọi mặt đời sống
vật chất cũng như đời sống tinh thần của con người.
Di sản văn hóa cũng được coi là bức thông điệp giữa hiện tại và tương
lai. Nó chính là một dây truyền thống nối liền hiện tại và tương lai. Thông qua
những di tích lịch sử văn hóa đó mà mỗi thế hệ lớn lên lại có thể soi mình vào
cuộc sống của cha ông và hiểu rõ nguồn cội của thế hệ mình
7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
Di tích lịch sử còn là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn. Là một di
sản văn hóa cấp quốc gia, phố cổ được tạo dựng bởi con người. Chính những
con người bản địa và nhập cư trải qua hàng thế kỷ ở vùng đất "địa linh nhân
kiệt" này bằng quá trình sống, cách ứng xử và cả nếp sinh hoạt hàng ngày đã
tại nên một khu phố cổ - cái cốt lõi, tinh tuý, trái tim của Hà Nội từ lúc nào
không hay.
Chính vì đặc trưng về sự đa dạng như đã nêu trên mà di tích lịch sử văn
hóa có rất nhiều định nghĩa, điển hình như:
- Theo đạo luật số 117 về bảo vệ bảo vật của Ai Cập (08/06/1983) thì:
"Di tích lịch sử văn hóa được coi là cổ vật bất động sản được làm ra từ các
nền văn minh khác nhau, hoặc là một sự sáng tạo nghệ thuật, khoa học, văn
hóa hoặc tôn giáo của thời đại tiền sử, hoặc các thời kỳ tiếp nhau của lịch sử
và ngược trở lên 100 năm khi tài nguyên đó có một giá trị quan trọng về khảo
cổ học hay lịch sử, là chứng cứ của nền văn minh khác nhau đã tồn tại trên đất
nước Ai Cập và những quan niệm lịch sử cũng đều được coi là cổ vật, kế cả
các di hài người và động vật cùng niên đại với thời kỳ ấy".
- Theo đạo luật số 16 về di sản lịch sử của Tây Ban Nha (25/06/1985)
thì: "Di sản lịch sử Tây Ban Nha bao gồm các bất động sản và các động sản
có lợi ích nghệ thuật, cổ sinh vật học, khảo cổ học, dân tộc học, khoa học
hoặc kỹ thuật . Cũng cả di sản tư liệu và thư mục, các lớp mỏ, các khu vực
khảo cổ cũng như các thắng cảnh thiên nhiên, các công viên, các vườn có giá
trị nghệ thuật, lịch sử hay nhân chủng học".
- Theo quy định trong Hiến chương Venice của Italia năm 1964, khái
niệm di tích lịch sử văn hóa bao gồm những chương trình xây dựng lẻ loi,
những di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của nền văn minh riêng
biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay một biến cố về lịch sử.
- Theo pháp lệnh "Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam
thắng cảnh của Việt Nam (04/04/1984) thì: "Di tích lịch sử - văn hóa là những
8
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch
sử khoa học, nghệ thuật, cũng như có giá trị văn hóa khác liên quan đến cá sự
kiện lịch sử và quá trình phát triển văn hóa xã hội. Di tích lịch sử - văn hóa là
những không gian vật chất cụ thể, khách quan trong đó chứa đựng các giá trị
điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ta
trong lịch sử để lại.
Cho dù nhìn nhận dưới góc độ, quan điểm, khía cạnh hay khái niệm nào
đi chăng nữa thì giá trị của khu phố cổ Hà Nội vẫn luôn được ghi nhận và trân
trọng, gìn giữ suốt bao thế hệ người Hà Nội - Việt Nam.
1.1.2. Giá trị khu phố cổ
Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội là một đô thị lớn hình thành lâu đời
nhất ở Việt Nam. Từ giữa thế kỷ VI, nơi đây là trung tâm đầu tiên của nước
Vạn Xuân với toà thành cổ đầu tiên mà sử sách còn ghi ở cửa sông Tô Lịch.
Trải qua mấy trăm năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc từ thế kỷ VII đến thế
kỷ X là trung tâm An Nam đô hộ phủ đời Đường. Từ thế kỷ XI nơi đây đã
thực sự trở thành trung tâm đầu não - kinh đô của quốc gia Đại Việt với tên
gọi là Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội định hình và phát triển rực rỡ về mọi
mặt. Từ Lý, Trần, Lê trải qua các triều đại nơi đây luôn giữ một vị trí xứng
đáng, quan trọng đối với đất nước. Đến thế kỷ XIX tuy không còn là kinh đô
nhưng Thăng Long vẫn là một đô thị bậc nhất ở Việt Nam: dân cư đông đúc,
buôn bán sầm uất, phố phường nhộn nhịp. Ca dao cổ Việt Nam có câu:
"Hà Nội ba sáu phố phường
Hàng mứt, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh"
Có rất nhiều bài ca dao và thơ nói về con số truyền thống 36 phố giống
như trên, ví dụ:
"Rủ nhau chơi khắp Long thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
9
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
Hàng Bồ, Hàng Bạ, Hàng Gai,
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay…"
Hoặc là:
"Ba mươi sáu mặt phố phường
Hàng Giấy, Hàng Bạc, Hàng Ngang, Hàng Đào
Người đài các, kẻ thanh tao
Qua Hàng Thợ Tiện lại vào Hàng Gai…"
Chính là để khu vực phía Đông của Hoàng thành, là khu thị dân với 36
phố phường nổi tiếng. Thực ra đó cũng là một con số mang ý nghĩa tượng
trưng. Thời Lê có 36 phường, khái niệm "phường" là để chỉ một tổ chức
người cùng làm một nghề hay là một đơn vị hành chính của thành Thăng
Long. Các phường chia làm ba loại: nông nghiệp, thủ công, buôn bán. Các
phường lấy tên nghề của mình đặt tên cho con phố nơi họ làm ăn, buôn bán và
sinh sống. Chính vì thế mà tên gọi cua các phố trong những câu ca dao
thường bắt đầu bằng chữ "Hàng". Ngày nay các phố nhìn chung vẫn giữ
nguyên tên gọi từ thời xưa, chỉ có các chức năng ban đầu đã được chuyển đổi
hoặc không còn tồn tại nữa. Phố cổ Hà Nội ngày nay mang trong mình những
giá trị riêng biệt, to lớn về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc và kinh tế
mà không một đô thị cổ nào có thể so sánh.
Lịch sử của khu phố cổ Hà Nội đã bắt đầu hình thành khi vua Lý Thái
Tổ chọn Thăng Long làm kinh đô năm 1010. Trải qua bao thăng trầm với biết
bao biến cố lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm và thời kỳ nội chiến kéo
dài, phố cổ Hà Nội đã không còn giữ được nguyên vẹn hình dáng ban đầu của
mình. Tuy thế nó vẫn luôn gợi lại quá khứ và lịch sử của một đô thị cổ hình
thành sớm nhất của Việt Nam. Dựa vào các di tích tồn hiện, các tài liệu văn
học dân gian cổ, sách sử ký, sách vở về khu phố cổ mà các nhà nghiên cứu
chuyên ngành - liên ngành có những phát hiện khoa học có tính chất vô cùng
10
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
quan trọng. Đối với nhà nghiên cứu này thì khu phố cổ chính là một "bảo tàng
sống", một "trang lịch sử bằng đá".
Trải dài trong tiến trình lịch sử phát triển của mình, Thăng Long - Đông
Đô - Hà Nội, trong đó khu phố cổ là cái nôi văn hóa đã sản sinh và nuôi
dưỡng nhiều truyền thuyết, truyện kể dân gian, ca dao như Rồng vàng bay
lên, Rùa vàng đòi kiếm quý, vua chúa gặp tiền Mảnh đất "địa linh, nhân
kiệt" này sinh ra va thu hút không biết bao nhiêu nhân tài của đất nước trong
mọi lĩnh vực: văn học, nghệ thuật cho đến chính trị, quân sự nhiều không
sao kể hết. Bên cạnh đó, giá trị văn hóa - nghệ thuật của khu phố cổ còn được
thể hiện qua các hội thi tài giữa các ngành nghề, các lễ hội dân gian truyền
thống, các sản phẩm thủ công bày bán trên phố, qua các món ăn dân dã mang
hồn quê hay thậm chí là qua nếp sống hồn hậu, thanh lịch của người dân nơi
này.
Về mặt kiến trúc, chỉ còn một số đình chùa còn mang kiến trúc thời Lê,
còn hầu hết những ngôi nhà cổ trong khu phố cổ hiện nay được xây vào cuối
thế kỷ 19. Điểm nổi bật của kiến trúc này là nhà hình ống. Chúng cũng còn
được gọi là "nhà ở hàng phố". Phần lớn các kiểu nhà truyền thống mà ngày
nay chúng ta vẫn có thể thấy trong khu vực phố cổ được xây từ cuối thế kỷ
XIX hoặc được xây lại vào đầu thế kỷ XX. Cấu trúc dài, hẹp của kiểu nhà này
là kết quả của tình trạng thiếu không gian trong thành phố và do khoản thuế
của triều đình đối với chiều rộng mặt tiền cửa hàng. Nhà hình ống quay ra mặt
phố, chiều rộng trung bình của mặt tiền từ 2m tới 4m, trong khi đó chiều dài
có thể từ 20m tới 60m và có một số trường hợp lên tới 150m. Nhà có nhiều
lớp và cách nhau bằng những sân trong, các sân trong thông thoáng để lấy ánh
sáng tự nhiên. Sân trong còn là nơi diễn ra các hoạt động đa năng của nhà.
Ngoài sân trong, trong các ngôi nhà này trước đây còn có các mảnh vườn nhỏ.
Ngoài ra còn có những công trình công cộng đặc trưng cho khu phố cổ,
trong đó có đền và đình của nhiều dòng họ khác nhau từ nông thôn chuyển
11
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
đến, hay các ngôi đền được xây để tưởng nhớ ông tổ nghề Thế kỷ XX cũng
để lại phong cách đặc trưng của nó, từ phong cách hiện đại Xô - Viết đến
những mặt tiền cầu kỳ kiểu pháp thời kỳ đầu đổi mới, cho đến những cái có
thể gọi là "kiến trúc mới" của thập kỷ 1990 với đá rửa và các mảng kính lớn.
Khu phố cổ Hà Nội là một tổng thể kiến trúc độc đáo, một cảnh quan đô thị
vừa hiện đại vừa mang dáng dấp phương Đông mà không nơi nào khác trên
thế giới có được.
Tại khu phố cổ Hà Nội, yếu tố "thị" nổi lên cũng không kém yếu tố
"thành". Khu vực phố cổ là nơi diễn ra hoạt động buôn bán sầm uất nổi tiếng
với các khu chợ: Đồng Xuân (Chợ lớn nhất Hà Nội, nằm ở trung tâm khu phố
cổ), Hàng Bè, Hàng Da.
Bản thân khu vực phố cổ cũng được coi là trung tâm buôn bán của toàn
thành phố. Người dân có thể tìm mua được tất cả những gì cần thiết cho sinh
hoạt hàng ngày cũng như những vật dụng đặc biệt, độc đáo không đâu có.
Không những thế, khu phố cổ Hà Nội còn là tuyến điểm du lịch hấp dẫn nhất
trong các tour du lịch nội thành Hà Nội đối với du khách trong và ngoài nước.
Do đó nó có giá trị kinh tế rất lớn đối với sự phát triển của du lịch. Đây có thể
coi là thế mạnh tuyệt đối của khu phố cổ Hà Nội nếu được khai thác cụ thể và
hợp lý.
Với những giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc và kinh
tế nêu trên, cùng với việc được công nhận là di sản văn hóa cấp quốc gia
(2004) phố cổ Hà Nội chính là một “kho báu” quý giá của ngành du lịch Việt
Nam nói chung và du lịch Hà Nội nói riêng.
12
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của khu phố cổ Hà Nội qua các giai
đoạn chính
1.2.1. Hà Nội thời kỳ tiền Thăng Long - thành Đại La:
Hà Nội vốn là địa danh lâu đời được hình thành trên hai bên bờ sông
Hồng, giữa một đồng bằng Bắc Bộ trù phú và nổi tiếng từ khi mới hình thành.
Hội tụ đủ những yếu tố thuận lợi, tính ưu việt của vị trí địa lý (tụ thủy),
nơi tập trung đông dân cư (tụ nhân), Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội có cơ
sở để được khẳng định là một trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị, khoa học,
xã hội … quan trọng bậc nhất nước ta.
Nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, độ cao trung bình ở khoảng 5-
20 m so với mặt biển, giới hạn địa lý được xác định từ 20
0
53 đến 21
0
33 vĩ độ
Bắc và 105
0
44 đến 106
0
2 kinh độ Đông, tọa lạc ngay giữa vùng châu thổ sông
Hồng (sông Nhị Hà). Đây là chỗ khúc sông đang chuyển dồng từ hướng Tây
Bắc - Đông Nam sang hướng Bắc Nam với độ dài khoảng 30 km. Đặc điểm
nơi đây được chuyển hóa thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông.
Chính tại nơi đây đã hình thành nên đô thị cổ nhất nước ta, theo truyền thuyết:
“Hà Nội có nguồn cội từ một làng ven sông Tô, trung tâm là núi Nùng mà
phát triển lên, làng ấy có tên là Long Đỗ”.
Ngược dòng lịch sử, từ xa xưa người Việt cổ đã cư trú, sinh sống tại đây
từ thời đại đồng thau, thời đại của nền Văn minh lúa nước vùng châu thổ sông
Hồng với quốc gia Văn Lang của các đời vua Hùng trong buổi lập nước bình
minh của lịch sử. Cơ sở cho việc lập luận trên là trong báo cáo của nhà Hà
Nội học Nguyễn Vinh Phúc: “Ngành khảo cổ học đã cho biết, ngay tại nội
thành cũng có rìu đá mái, có mũi giáo và trồng đồng. Các di vật đó khoảng
vài ba nghìn tuổi. Tại ngoại thành dấu vết cư dân cổ còn dầy hơn. Khắp
năm huyện đều có đồ đá mới, đồ đồng. Điều này cho thấy vùng đất Hà Nội
có người làm ăn sinh sống từ các thiên niên kỷ thứ ba, thứ hai trước Công
13
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
nguyên. Thuở đó làng dựng trên những dải đất cao ven sống và đầm, hồ lớn
nhỏ”.
Từ những đặc điểm địa lý, tự nhiên trên, Hà Nội xưa là nơi cư trú lâu đời
của cư dân bản địa. Tại nơi đây xóm làng quần tụ trên những gò đất cao ven
sông Tô, sông Nhuệ, sông Đuống… Về sau, nhà nước Âu Lạc bị Triệu Đà
thôn tính kéo theo sự phân hóa của nền văn minh bản địa. Người Việt cổ bước
vào giai đoạn đen tốt nhất trong lịch sử kéo dài gần nghìn năm Bắc thuộc.
Suốt thời kỳ Bắc thuộc bọn vua quan phong kiến Trung Quốc sang xâm lược
nước ta đều đóng căn cứ địa ở những nơi bên tả ngạn sông Hồng, như thành
Long Biên. Đây là nơi đồn trú của quân xâm lược, nơi xưởng thủ công, phục
vụ cho quan lại, binh lính của bộ máy cai trị. Đó chính là những yếu tố tiền đề
quan trọng trong việc hình thành nên một đô thị lớn sau này. Giữa thế kỷ VI,
cuộc khởi nghĩa của Lý Bí - Lý Nam Đế thắng lợi. Cùng với sự ra đời của nhà
nước Vạn Xuân năm 544, Lý Nam đế cho xây dựng một thành luỹ bằng tre gỗ
đất dựng ở cửa sông Tô Lịch. Đây là thành lớn đầu tiên được xây dựng ở
vùng đất này và được sử sách ghi lại. Không lâu sau đó đầu thế kỷ VII nhà
Tùy (Trung Quốc) đem quân sang xâm chiếm, đặt thủ phủ của chính quyền đô
hộ gọi là An Nam đô hộ phủ ngay tại huyện Tống Bình - vùng đất cổ có thành
lũy của Lý Nam Đế tức Hà Nội ngày nay. Say nhà Tùy đến nhà Đường
(Trung Quốc) xây dựng La Thành được Tiết Độ Sứ Cao Biền mở rộng và
củng cố trở thành Đại La Thành năm 866. Trải qua những cuộc khởi nghĩa
của người dân tộc nước Nam như cuộc khởi nghĩa của Bố Cái Đại Vương
Phùng Hưng giành lại độc lập (776 - 791) hay Dương Thanh (819 - 820) đều
chiếm thành Đại La làm căn cứ. Đầu thế kỷ X đánh dấu sự tan rã của chế độ
phong kiến nhà Đường (Trung Quốc) cùng sự kiện hào trưởng Khúc Thừa Dụ
nổi dậy chiếm thành Đại La trở thành thủ phủ của dân tộc ta trong ba đời nhà
họ Khúc - Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ. Năm 930 nhà Nam
Hán (Trung Quốc) đem quân sang đánh chiếm nước ta bắt được Khúc Thừa
Mỹ và chiếm thành Đại La. Thành 3 năm 931 Dương Đình Nghệ phát quân
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét