24
[
P
i
c
k
t
h
e
d
a
t
e
]
G là tổng chi tiêu của chính quyền (tiêu dùng của chính quyền). Quan hệ
của phần này đối với các phần còn lại của GDP được mô tả trong lý
thuyết khả dụng(có thể đem đi tiêu).
NX là "xuất khẩu ròng" của nền kinh tế. Nó bằng xuất khẩu (tiêu dùng của
nền kinh tế khác đối với các sản phẩm và dịch vụ do nền kinh tế trong
tính toán sản xuất) - nhập khẩu (tiêu dùng của nền kinh tế trong tính toán
đối với các sản phẩm và dịch vụ do nền kinh tế khác sản xuất).
Ba thành phần đầu đôi khi được gọi chung là "nội nhu", còn thành phần cuối
cùng là "ngoại nhu".
♥ GDP theo cách tính tổng chi phí (lúc này không gọi là GDP nữa, mà gọi là
tổng chi tiêu nội địa hay GDE (viết tắt của Gross Domestic Expenditure) được
tính toán tương tự, mặc dù trong công thức tính tổng chi phí không kê khai
những khoản đầu tư ngoài kế hoạch (bỏ hàng tồn kho vào cuối chu kỳ báo cáo)
và nó phần lớn được sử dụng bởi các nhà kinh tế lý thuyết.
VI) PHÂN BIỆT GDP VỚI GNP:
GDP khác với tổng sản phẩm quốc dân (GNP) ở chỗ loại bỏ việc chuyển đổi thu
nhập giữa các quốc gia, nó được quy theo lãnh thổ mà sản phẩm được sản xuất
ở đó hơn là thu nhập nhận được ở đó.
Để dễ hiểu hơn, ta có thể lấy ví dụ như sau:
Một nhà máy sản xuất đồ ăn nhanh đặt tại Việt Nam do công dân Mỹ đầu
tư để tiêu thụ nội địa. Khi đó mọi thu nhập từ nhà máy này sau khi bán
hàng được tính vào GDP của Việt Nam, tuy nhiên lợi nhuận ròng thu
được (sau khi khấu trừ thuế phải nộp và trích nộp các quỹ phúc lợi) cũng
như lương của các công nhân Mỹ đang làm việc trong nhà máy được tính
là một bộ phận trong GNP của Mỹ.
VII) SO SÁNH XUYÊN QUỐC GIA:
♥ GDP của các quốc gia khác nhau có thể so sánh bằng cách chuyển đổi giá trị
của chúng (tính theo nội tệ) sang bằng một trong hai phương thức sau:
24
[
P
i
c
k
t
h
e
d
a
t
e
]
Tỷ giá hối đoái hiện tại: GDP được tính theo tỷ giá hối đoái thịnh hành
trên các thị trường tiền tệ quốc tế.
Ngang giá sức mua hối đoái: GDP được tính theo sự ngang giá của sức
mua (tiếng Anh: purchasing power parity hay viết tắt: PPP) của mỗi loại
tiền tệ tương đối theo một chuẩn chọn lựa (thông thường là đồng đôla Mỹ).
♥ Thứ bậc tương đối của các quốc gia có thể lệch nhau nhiều giữa hai xu hướng
tiếp cận kể trên.
♥ Phương pháp tính theo sự ngang giá của sức mua tính toán hiệu quả tương
đối của sức mua nội địa đối với những nhà sản xuất hay tiêu thụ trung bình trong
nền kinh tế. Nó có thể sử dụng để làm chỉ số của mức sống đối với những nước
chậm phát triển là tốt nhất vì nó bù lại những điểm yếu của đồng nội tệ trên thị
trường thế giới.
♥ Phương pháp tính theo tỷ giá hối đoái hiện tại chuyển đổi giá trị của hàng hóa
và dịch vụ theo các tỷ giá hối đoái quốc tế. Nó là chỉ thị tốt hơn của sức mua
quốc tế của đất nước và sức mạnh kinh tế tương đối.
VIII) CÁC VẤN ĐỀ:
Mặc dù GDP được sử dụng rộng rãi trong kinh tế, giá trị của nó như là một chỉ
số vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi. Sự phê phán sử dụng GDP bao hàm các
điểm sau:
Kết quả tính GDP theo các phương thức khác nhau làm người ta bối rối,
nhất là khi so sánh xuyên quốc gia.
GDP, như một chỉ số về kích cỡ của nền kinh tế, nhưng lại không chuẩn
xác trong đánh giá mức sống.
GDP không tính đến kinh tế ngầm, kinh tế phi tiền tệ như kinh tế trao
đổi, các công việc tình nguyện, chăm sóc trẻ em miễn phí do các ông
bố bà mẹ (không làm việc) đảm nhiệm hay sản xuất hàng hóa tại gia
đình, giá trị của thời gian nghỉ ngơi và ô nhiễm môi trường. Vì vậy, tại
các nước mà việc kinh doanh thực thi một cách không chính thức chiếm
phần lớn thì số liệu của GDP sẽ kém chính xác.
24
[
P
i
c
k
t
h
e
d
a
t
e
]
GDP không tính đến tính hài hòa của sự phát triển. Ví dụ một nước có
thể có tốc độ tăng trưởng GDP cao do khai thác khai thác quá mức tài
nguyên thiên nhiên.
GDP tính cả những công việc không đem lại lợi ích ròng và không tính
đến những hiệu ứng tiêu cực. Ví dụ, một xí nghiệp làm tăng GDP nhưng
gây ô nhiễm một con sông và người ta phải đầu tư để cải tạo lại môi
trường. Việc này cũng làm tăng GDP. Xem thêm Truyện ngụ ngôn về
cửa sổ gẫy.
GDP cũng không cho ta sự phản ánh trung thực của sự phân chia lợi ích
trong phạm vi đất nước. Có thể có những nhóm người không thu được
lợi ích gì từ lợi ích kinh tế chung. GDP cao có thể là kết quả của một số
người giàu có đem lại cho nền kinh tế trong khi phần lớn dân chúng sống
dưới mức nghèo khổ.
24
[
P
i
c
k
t
h
e
d
a
t
e
]
I – TĂNG TRƯỞNG DGP NĂM 2005 CỦA VIỆT NAM ĐẠT 8.4%:
Trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế Việt Nam năm 2005 tiếp
tục xu hướng phát triển tích cực với GDP tăng trưởng 8,4% - mức cao nhất trong
9 năm qua - là một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao hàng đầu ở châu Á
và thế giới.
-Năm nay, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công
nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP. Giá trị sản xuất công nghiệp tiếp
tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao (17%), nhất là khu vực công nghiệp
ngoài quốc doanh tăng tới 24,6%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng gần
20% và khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng gần 9%.
Năm 2005, tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 20,3% so
với năm trước - mức tăng cao nhất trong những năm gần đây. Kim ngạch xuất
khẩu cũng lập kỷ lục mới, ước cả năm đạt 32 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm
2004, gấp 2,2 lần năm 2000.
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đã khởi sắc trở lại, tiếp tục tăng
khá với tổng số vốn cấp phép mới và tăng thêm trong năm 2005 ước đạt trên 5,8
tỷ USD, tăng 25% so với năm trước và tăng 29% so với mục tiêu ban đầu đề ra,
chủ yếu tập trung trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bằng 38,2% GDP. Giá trị sản xuất nông,
lâm, ngư nghiệp tăng 5,2%. Thu ngân sách nhà nước vượt dự toán. Giá cả thị
trường tương đối ổn định, chỉ số giá tiêu dùng tăng 7,6%, thấp hơn so với năm
2004 (tăng 8,8%).
Tại kỳ họp thượng đỉnh Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tháng 9/2005, Việt Nam
được đánh giá là một trong những nước điển hình thực hiện tốt các mục tiêu
phát triển của thiên niên kỷ./.
27/12/2005
-Theo (Vinanet)-
II –GDP NĂM 2006 CỦA VIỆT NAM TĂNG 8.17%:
♥ Theo công bố của Tổng cục Thống kê, tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước
(GDP) của Việt Nam năm 2006 tăng 8,17% so với năm 2005.
♥ Cơ cấu nền kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông, lâm, nghiệp, thuỷ sản.
Bình chọn 10 sự kiện kinh tế nổi bật trong năm 2006, TTXVN chọn việc Việt Nam
trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là sự
kiện nổi bật hàng đầu cùng với việc Mỹ thông qua Quy chế thương mại bình
thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam.
♥ Các sự kiện tiếp theo được nhắc đến là kim ngạch xuất khẩu, thu hút đầu tư
nước ngoài, cam kết ODA từ cộng đồng quốc tế đạt mức cao nhất từ trước đến
nay.
♥ Sau đây là 10 sự kiện kinh tế nổi bật năm 2006 do TTXVN bình chọn:
24
[
P
i
c
k
t
h
e
d
a
t
e
]
1 - Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương
mại thế giới (WTO). Đồng thời, Mỹ cũng đã thông qua Quy chế Quan hệ
Thương mại bình thường vĩnh viễn (PRNT) với Việt Nam.
2 - Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt mức cao kỷ lục, xấp xỉ 40 tỷ
USD, tăng 24% so với năm 2005 và vượt 2 tỷ USD so với kế hoạch.
3 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng đột biến, đạt trên 10,2 tỷ USD,
trong đó Tập đoàn Intel (Mỹ) đầu tư 1 tỷ USD vào khu công nghệ cao
Thành phố Hồ Chí Minh, Tập đoàn Posco (Hàn Quốc) đầu tư 1,2 tỷ USD
vào dự án thép tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
4 - Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG) cam kết hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA) gần 4,5 tỷ USD cho Việt Nam trong năm 2007, mức cao
nhất từ trước tới nay.
5 - Khánh thành nhiều công trình trọng điểm như cầu Bãi cháy, cầu Thi
Nại
6 - Ra mắt mô hình các tập đoàn kinh tế đầu tiên như Tập đoàn Bưu
chính viễn thông, Tập đoàn than và khoáng sản, Tập đoàn công nghiệp
tàu thuỷ, Tập đoàn điện lực Việt Nam.
7 - Phanh phui và xử lý nhiều vụ tham nhũng lớn, như vụ tham nhũng tại
PMU18, vụ tiêu cực đất đai tại Đồ Sơn (Hải Phòng), vụ siêu lừa Nguyễn
Đức Chi tại dự án Rusalka ở Khánh Hoà
8 - Thị trường chứng khoán bùng nổ với nhiều doanh nghiệp tham gia sàn
giao dịch; chỉ số chứng khoán VN-Index vào những ngày cuối năm đã có
lúc lên trên 800 điểm.
9 - Bước đầu tiến hành điều tiết giá cả theo cơ chế thị trường như điều
chỉnh giá giá xăng theo tình hình giá cả lên xuống của thị trường thế giới,
tăng giá than, điện
10 - Thiên tai, dịch bệnh hoành hành vào những tháng cuối năm gây thiệt
hại lớn về người và tài sản, đặc biệt bệnh vàng lùn xoắn lá làm thiệt hại 2
triệu tấn lúa, ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo nói chung và dịch cúm gia
cầm tái phát ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
Thứ Năm, 28/12/2006
-Theo diễn đàng công nghiệp-
24
[
P
i
c
k
t
h
e
d
a
t
e
]
III –GDP CỦA VIỆT NAM NĂM 2007:
♥ Nếu không có thiên tai, dịch bệnh lớn như vừa trải qua, tốc độ tăng GDP chắc
chắn còn cao hơn 8,5%. Cơ cấu kinh tế theo giá thực tế chuyển dich theo hướng
tích cực. Tỷ trọng GDP khu vực nông - lâm nghiệp - thủy sản giảm còn dưới
20,0%/ so với 20,81% năm 2006, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng dần và
chiếm trên 41,7% so với 41.56% và khu vực dịch vụ tăng nhẹ, chiếm 38,30% so
với 38,08% trong 2 năm tương ứng. Nét mới trong năm 2007 là tỷ trọng khu vực
dịch vụ tăng cao và tốc độ tăng khá ổn định, quý sau cao hơn quý trước, trong
điều kiện có khó khăn nhiều mặt, nhất là dịch vụ vận tải, du lịch, thương mại, tài
chính ngân hàng trong bối cảnh hội nhập WTO.
♥ Do kinh tế tăng trưởng cao nên tình hình tài chính lành mạnh, thu chi ngân
sách nhà nước cân đối, bội chi ngân sách trong phạm vi Quốc hội cho phép.
Theo Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách nhà nước cả năm 2007 ước đạt 287.900
tỉ đồng, vượt dự toán cả năm (dự toán 281.900 tỉ đồng) và tăng 11,6% so với
năm 2006. Các khoản thu có tỷ trọng lớn đều đạt mức khá. Mặc dù chịu ảnh
hưởng lớn của mưa lũ, song nhiều khoản thu chủ yếu như thu từ doanh nghiệp
đầu tư nước ngoài, thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh, phí
và lệ phí, thu từ khu vực kinh tế quốc doanh, thu từ nhà, đất tăng khá. Một số
khoản thu đạt khá so với dự toán, trong đó: thuế công thương nghiệp ngoài quốc
doanh; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 100,8%; thu từ nhà và
đất đạt 117,6% dự toán
♥ Tổng số chi ngân sách nhà nước cả năm 2007 ước đạt dự toán năm. Bội chi
ngân sách cả năm ước đạt 5% GDP. Đến nay ngân sách trung ương đã cấp
chuyển 100% dự toán chi bổ sung cân đối cho các địa phương, trong đó một số
địa phương có khó khăn đã được cấp đủ 100% trợ cấp cân đối ngân sách theo
dự toán để chủ động nguồn xử lý các nhiệm vụ chi trong tháng cuối năm. Bên
cạnh đó, việc bảo đảm lương thực cho công tác cứu trợ nhân dân và kinh phí để
hỗ trợ các địa phương bị thiệt hại do mưa lũ gây ra cũng được chú trọng, đáp
ứng kịp thời yêu cầu đề ra.
Kết quả tăng trưởng kinh tế vĩ mô và ổn định nền tài chính quốc gia năm 2007
như trên có nguyên nhân trực tiếp là các ngành sản xuất và dịch vụ tiếp tục phát
triển và tăng trưởng cao.
24
[
P
i
c
k
t
h
e
d
a
t
e
]
♥ Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá cao. Tính chung năm 2007, giá trị sản
xuất công nghiệp (theo giá so sánh 1994) ước tăng 17,0% so với năm 2006,
trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 10,4% (trung ương quản lý tăng
13,4%; địa phương quản lý tăng 3,5%); khu vực ngoài nhà nước tăng 20,9%;
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,0% (dầu mỏ và khí đốt giảm 7,37%,
các ngành khác tăng 23,1%). Các ngành sản phẩm tăng khá là bia tăng 19,4%;
máy công cụ tăng 74,5%; điều hòa nhiệt độ tăng 56,9%; động cơ điện tăng
26,2%; máy giặt tăng 24,7%; quạt điện tăng 20,3%. Khai thác dầu thô và khí hóa
lỏng giảm so cùng kỳ. Nhiều tỉnh, thành phố có quy mô sản xuất công nghiệp lớn
đều đạt tốc độ tăng trưởng cao nhưng chưa đều: Hà Nội tăng 19,9%; Vĩnh Phúc
tăng 41,8%; Hà Tây tăng 24,9%; Bình Dương tăng 24,6%; Đồng Nai tăng 22,4%;
Cần Thơ tăng 17,3%.
♥ Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt mức kỷ lục: Ước tính vốn đăng ký mới và
vốn tăng thêm của các dự án cũ bổ sung cả năm 2007 đạt trên 20,3 tỉ USD, tăng
8,3 tỉ USD, so năm 2006 (12 tỉ USD), vượt kế hoạch 7 tỉ USD và là mức cao nhất
từ trước đến nay. Tổng số vốn FDI năm 2007 đạt mức gần bằng vốn đầu tư của
5 năm 1991 - 1995 là 17 tỉ USD và vượt qua năm cao nhất 1996 là 10,1 tỉ USD.
Vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào dịch vụ 63,7% và công nghiệp 35,0%, ngành
nông - lâm nghiệp thủy sản 1,3%. Địa phương thu hút nhiều vốn FDI đăng ký
mới trong 2007 là Thành phố Hồ Chí Minh 308 dự án với số vốn gần 2 tỉ USD;
Phú Yên 5 dự án với số vốn trên 1,7 tỉ USD, Bà Rịa - Vũng Tàu 1 tỉ 69 triệu USD;
Bình Dương 1 tỉ 20 triệu USD; Hà Nội 963 triệu USD và Vĩnh Phúc 789 triệu
USD. Có 4 quốc gia và vùng lãnh thổ đạt trên 1 tỉ USD vốn đầu tư mới là: Hàn
Quốc 3.686,9 triệu USD; Quần đảo Virgin thuộc Anh 3.501 triệu USD; Xin-ga-po
1.551,5 triệu USD; Đài Loan 1.141,9 triệu USD.
♥ Trong năm 2007 cả nước đã thu hút 350 lượt dự án tăng vốn với số vốn trên
3,2 tỉ USD vốn đầu tư tăng thêm của các dự án cũ. Nét mới trong thu hút vốn
FDI năm 2007 là cơ cấu đầu tư đã chuyển dịch từ công nghiệp sang lĩnh vực
dịch vụ khách sạn, căn hộ cho thuê, nhà hàng, du lịch, tài chính, ngân hàng
Địa bàn đầu tư cũng chuyển mạnh đến các vùng ít dự án như miền Trung, miền
Bắc. Năm 2007, cả nước có 52 địa phương thu hút vốn FDI. Các tỉnh miền
Trung năm 2007 đã thu hút 3,3 tỉ USD vốn đầu tư đăng ký mới, tăng 264,5% so
với năm 2006 và gần bằng số vốn FDI của 18 năm trước đó cộng lại (3,5 tỉ
USD). Nhà máy lọc dầu Vũng Rô do Anh và Nga hợp tác đầu tư, vốn FDI của
24
[
P
i
c
k
t
h
e
d
a
t
e
]
tỉnh Phú Yên đạt 1,7 tỉ USD là đứng đầu các tỉnh miền Trung, vượt qua Đà
Nẵng, Quảng Nam và Thừa Thiên - Huế.
♥ Tổng số vốn đầu tư nước ngoài (FDI) năm 2007 của nước ta đạt 20,3 tỉ USD
là mức cao nhất từ trước đến nay.
Vốn đầu tư thực hiện năm 2007 ước đạt 5,1 tỉ USD, tăng 1,2 tỉ USD (30,7%) so
năm 2006 (39,56 tỉ USD).
♥ Cùng với tăng vốn FDI, lượng kiều hối đổ về Việt Nam tiếp tục tăng cao. Dự
kiến cả năm 2007, lượng kiều hối của người Việt Nam ở nước ngoài gửi về qua
kênh chính thức đạt 5,5 tỉ USD so với mức 4,7 tỉ USD năm 2006 và gấp 157 lần
năm 2001. Tốc độ tăng bình quân 37%/năm đưa lượng kiều hối gửi qua kênh
chính thức được thực hiện từ năm 1991 đến 2007 lên con số 29,4 tỉ USD, chiếm
70% vốn FDI, tính từ năm 1998 và cao gấp rưỡi vốn ODA được giải ngân kể từ
1993. Nguồn vốn kiều hối năm 2007 chủ yếu là giúp người thân trong nước đầu
tư chứng khoán, kinh doanh địa ốc, một phần mua sắm tài sản, hàng hóa, lễ hội
vào dịp cuối năm.
♥ Vốn đầu tư gián tiếp từ thị trường chứng khoán cả năm ước đạt từ 4,5 đến 5 tỉ
USD năm 2007.
♥ Xuất khẩu đạt mức cao nhất từ trước đến nay và tăng trưởng với tốc độ cao:
Ước tính cả năm kim ngạch xuất khẩu đạt 47,7 tỉ USD, tăng 21% so năm 2006
(7,9 tỉ USD) và vượt 15,5% so kế hoạch. Trong đó khu vực kinh tế trong nước
chiếm 42% và tăng 22,3%; khu vực FDI chiếm 58% và tăng 18,4%, (kể cả dầu
thô) nếu không có dầu thô, tăng 30,4% so với năm 2006). Có 10 mặt hàng đạt
trên 1 tỉ USD. Hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất là: dệt may đạt 7,8 tỉ USD,
tăng 31% vượt qua dầu thô; dầu thô giảm bằng 97,7%, giày dép tăng 9,5%; thủy
sản, tăng 11,9%; sản phẩm gỗ tăng 23,7%; điện tử, máy tính tăng 24,6%. Gạo
xuất khẩu đạt 4,5 triệu tấn giảm 3, 4% nhưng kim ngạch là 1,5 tỉ USD tăng 14 %
do giá xuất khẩu thế giới tăng. Cà phê tăng 52,3%, cao su tăng 5,3% so với năm
2006.
♥ Du lịch khởi sắc: Năm 2007 cả nước đã đón trên 4,3 triệu lượt khách quốc tế,
tăng 19% so cùng kỳ 2006, là mức cao nhất từ trước đến nay. Khách đến với
mục đích du lịch tăng cao 25,4%, khách đến vì công việc tăng 13,7%; khách đến
thăm thân nhân tăng 7,3%. Lượng khách đến du lịch Việt Nam tăng nhanh trong
năm 2007 là Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po. Pháp, I-ta-li-a, Nga, Tây Ban Nha,
24
[
P
i
c
k
t
h
e
d
a
t
e
]
Hà Lan, Bỉ, LB. Đức. Hoạt động du lịch nội địa khởi sắc, chất lượng du lịch đã
được cải thiện đáng kể so năm 2006.
♥ Những thành tựu trên đây đã nâng vị thế của Việt Nam lên tầm cao mới. Quy
mô nền kinh tế đã lớn mạnh hơn so năm 2006. Thu nhập quốc dân theo GDP
năm 2007 tính bình quân đầu người đạt 835 USD, tăng 15 USD so kế hoạch. Dự
trữ ngoại tệ đạt 20 tỉ USD, là mức cao so với các năm trước. Trong bối cảnh
thiên tai, dịch bệnh của năm 2007, những kết quả đạt được về kinh tế như trên
là những thành tựu to lớn, cơ bản và rất đáng tự hào. Nguyên nhân của những
thành tựu đó có nhiều, trong đó đường lối đổi mới của Đảng và các chính sách
kinh tế tài chính có tác dụng kích thích sản xuất, mở rộng dịch vụ của Nhà nước
và sự điều hành của Chính phủ có vai trò quyết định.
Thành tựu đó của kinh tế Việt Nam năm nay cũng được quốc tế thừa nhận.
Chuyên gia kinh tế của Ngân hàng thế giới đánh giá khá lạc quan "Việt Nam tăng
trưởng kinh tế tốt. Năm nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng tăng mức kỷ
lục cả về vốn cam kết và vốn thực hiện, cho thấy tín hiệu tích cực từ cải cách
đang hấp dẫn các nhà đầu tư. Chi trả nợ nước ngoài đạt kế hoạch. Nợ công và
nợ nước ngoài vẫn ở mức kiểm soát được. Thị trường chứng khoán đi vào ổn
định, các nhà đầu tư bắt đầu thận trọng hơn" (Báo Tuổi Trẻ 30-11-2007).
* Những hạn chế và bất cập
Giá cả tăng cao, không đạt được mục tiêu đề ra. Chỉ số giá tiêu dùng ước tăng
12,4% so với tháng 12-2006. Đây là tốc độ tăng giá cao nhất trong những năm
gần đây, vượt qua tốc độ tăng GDP và không đạt mục tiêu đề ra. Nhóm hàng
tăng giá cao nhất trong năm qua là hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 18,92%,
riêng lương thực tăng 15,4%, giá thực phẩm tăng 21,16%, thứ 2 là nhà ở và vật
liệu xây dựng tăng 17,12%, thứ 3 là đồ dùng và dịch vụ khác tăng 9,02%, thứ 4
là dược phẩm, y tế tăng 7,05% và thứ 5 là may mặc, mũ nón, giày dép tăng
5,47%. ở Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ số giá cả ước cả năm tăng trên 12%.
Nguyên nhân tăng giá: Về khách quan, giá thế giới tăng, thiên tai, dịch bệnh lan
rộng, gây thiệt hại nặng nề. Về nguyên nhân chủ quan do điều hành giá yếu, dự
báo sai, điều hành chính sách tiền tệ chưa tốt. "Việc lúng túng trong điều hành
thị trường tiền tệ cũng là một lý do khiến tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) vượt
quá tốc độ tăng GDP" (đánh giá của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại hội nghị
Kế hoạch và Đầu tư năm 2007, ngày 30-11-2007. Theo đánh giá của chuyên gia
kinh tế WB tại Hà Nội: Lượng tiền lưu thông quá lớn, tỷ lệ tăng tín dụng trên
24
[
P
i
c
k
t
h
e
d
a
t
e
]
38%, so với tốc độ tăng GDP khoảng 8% thì con số đó là rất nhiều, dù cho các
ngân hàng thương mại phải tăng tỷ lệ dự trữ, nhưng lượng tiền lưu thông vẫn rất
nhiều. Do dòng vốn đổ vào thị trường mạnh nhưng chưa có cơ quan điều tiết đủ
năng lực, chính sách ngoại hối, ngoại tệ chưa phát huy tác dụng vì chính sách
của Chính phủ trong thị trường tiền tệ và hối đoái không nhất quán. Chính phủ
mua USD vào nhiều và bơm tiền đồng ra thị trường có thể làm giảm giá đồng
USD sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và tạo sức ép cho lạm phát (Báo Tuổi trẻ 30-
11-2007).
Nhập siêu lớn. Chung cả năm, nhập siêu ước lên tới trên 13,1 tỉ USD, bằng
27,5% kim ngạch xuất khẩu. Điều này thể hiện rõ nhất trong 2 tháng cuối năm.
Đáng chú ý là 3 mặt hàng nhập khẩu tăng gấp hơn 2 lần so năm 2006 là ô-tô
nguyên chiếc xe máy nguyên chiếc và dầu mỡ động thực vật, không có mặt
hàng nào giảm so với năm 2006 về kim ngạch.
Kim ngạch nhập khẩu cả năm 2007 ước đạt 60,8 tỉ USD, tăng 35,5% so năm
2006. Nguyên nhân nhập siêu cao có nhiều nhưng nguyên nhân khách quan do
giá cả nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu thị trường thế giới tăng cao, nhất là xăng
dầu, sắt thép, phôi thép, nhựa, vải sợi, phân bón, thức ăn gia súc. Nguyên nhân
chủ quan do lúng túng trong điều hành xuất nhập khẩu của Nhà nước và các
doanh nghiệp. Tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu cao hơn nhiều so với tốc độ
tăng kim ngạch xuất khẩu; công tác dự báo thị trường chưa tốt, chất lượng hàng
hóa xuất khẩu chưa cao, sức cạnh tranh còn hạn chế.
Đầu tư xây dựng cơ bản không đạt kế hoạch giải ngân vốn ngân sách nhà nước.
Chung cả năm, ước tính không đạt kế hoạch đề ra về nguồn vốn đầu tư xây
dựng cơ bản bằng nguồn ngân sách nhà nước thông qua các chương trình, dự
án quốc gia. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản cả năm rất chậm.
Đến cuối năm 2007, cả nước mới thực hiện 84,1 nghìn tỉ đồng vốn đầu tư từ
ngân sách nhà nước đạt 84,6% kế hoạch năm, trong đó khu vực trung ương
quản lý đạt 83,6%. Nhiều bộ, ngành trung ương đạt thấp như Giao thông - Vận
tải, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn do công tác quy hoạch, giải phóng mặt
bằng và thủ tục hành chính và nhất là giá cả vật tư như sắt thép, phôi thép, xi-
măng trên thị trường thế giới và trong nước tăng cao, nhiều nhà thầu không thực
hiện được hợp đồng, tiến độ giải ngân chậm.
Vốn do địa phương quản lý trong năm 2007 đạt 95,2%, tuy cao hơn trung ương
nhưng không đều. Nhiều địa phương còn đạt dưới 90% kế hoạch năm như Bắc
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét