Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Tài liệu Luận văn Phương hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu chè tại Tổng Công Ty chè Việt Nam doc

Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn được kết
cấu thành 3 chương.
Chương I: Lý luận chung về thương mại quốc tế và vai trò của việc phát triển quan
hệ thương mại Việt Nam

Hoa Kỳ.
Chương II: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam

Hoa Kỳ.
Chương III: Triển vọng và các giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam

Hoa Kỳ.
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức của em có hạn, tài liệu tham khảo khan hiếm,
đề tài lại rất khó và mới nên trong luận văn tốt nghiệp này chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đánh giá và đóng góp ý kiến quý báu của các
thầy cô và các bạn để luận văn tốt nghiệp này của em được hoàn thiện hơn.
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ
CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM -
HOA KỲ.
I. KHÁI NIỆM VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
PHÁT TRIỂN CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ.
1. Khái niệm về thương mại quốc tế.
Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua buôn
bán nhằm mục đích kinh tế tối đa. Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan hệ
kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh
hàng hoá riêng biệt của các quốc gia. Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng nhằm
tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và
làm giàu cho đất nước. Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần
là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế.
Vì vậy, phải coi thương mại quốc tế như một tiền đề một nhân tố phát triển kinh tế trong
nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc
tế.
5
Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối của đất nước
phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế. Mặt khác, phải tính đến lợi thế
tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội. Phải luôn luôn tính toán cái có thể thu
được so với cái giá phải trả khi tham gia vào buôn bán và phân công lao động quốc tế để
có đối sách thích hợp. Vì vậy để phát triển thương mại quốc tế có hiệu quả lâu dài cần phải
tăng cường khả năng liên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng
lớn.
2. Quá trình hình thành, phát triển và lợi ích của thương mại quốc tế.
a. Quá trình hình thành và phát triển của thương mại quốc tế.
Lịch sử phát triển của loài người gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội,
mà một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển đó là sự phân công lao
động xã hội. Theo học thuyết Mác − Lênin về phân công lao động xã hội thì phân công lao
động là sự tách biệt các loại hoạt động, lao động khác nhau trong nền sản xuất xã hội. Điều
kiện ra đời của phân công lao động xã hội là sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và
ngược lại, khi phân công lao động xã hội đạt đến sự hoàn thiện nhất định , lại trở thành
nhân tố thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, vì nó tạo điều kiện cho người
lao động tích luỹ kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất, nâng cao tri thức, trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ, khả năng quản lý và hoàn thiện công cụ lao động. Nói cách khác, phân công lao
động xã hội góp phần thúc dẩy nhanh sự phát triển của tiến bộ khoa học − kỹ thuật và công
nghệ mà tiến bộ khoa học công nghệ lại chính là một yếu tố cấu thành quan trọng của lực
lượng sản xuất xã hội, do đó phân công lao động xã hội là một động lực thúc đẩy sự phát
triển của lực lượng sản xuất xã hội.
Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội loài người đã trải qua các giai đoạn phân
công lao động xã hội lớn :
* Giai đoạn 1: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt. Các bộ lạc chăn nuôi mang thịt sữa
đổi ngũ cốc, rau quả của các bộ lạc trồng trọt. Đó là mầm mống ra đời của quan hệ sản
xuất − trao đổi hàng hoá giản đơn.
* Giai đoạn 2: Nghề thủ công tách rời khỏi nghề nông. Sản xuất chuyên môn hoá
bắt đầu phát triển, dẫn đến sự ra đời của ngành công nghiệp. Đặc biệt, với sự xuất hiện vai
trò tiền tệ đã khiến cho quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá tiền tệ ra đời, thay thế quan
hệ sản xuất trao đổi hàng hoá giản đơn.
* Giai đoạn 3: Tầng lớp thương nhân xuất hiện, lưu thông hàng hoá tách ra khỏi
lĩnh vực sản xuất, khiến cho các quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá − tiền tệ trở nên
phức tạp, ngày càng mở rộng, tạo điều kiện cho ngoại thương của từng quốc gia phát triển
và thương mại quốc tế ra đời.
6
Trải qua các hình thái kinh tế xã hội có sự thống trị của các chế độ Nhà nước khác
nhau, từ chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, đến chế độ chiếm tư bản chủ nghĩa và
kể cả chế độ xã hội chủ nghĩa mới hình thành từ đầu thế kỷ này, các quan hệ sản xuất, trao
đổi hàng hoá − tiền tệ đã phát triển trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên sự đa dạng,
phức tạp của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó, sôi động nhất và cũng chiếm vị trí,
vai trò, động lực quan trọng nhất cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế mở của mỗi quốc
gia và cho cả nên kinh tế thế giới là các hoạt động thương mại quốc tế.
Như vậy, phân công lao động quốc tế là biểu hiện của giai đoạn phát triển cao của
phân công lao động xã hội, là quá trình tập trung hoá sản xuất và cung cấp một loại hoặc
một số loại sản phẩm và dịch vụ vào một quốc gia nhất định, dựa trên cơ sở những ưu thế
của quốc gia đó về điều kiện tự nhiên, kinh tế, khoa học − kỹ thuật, công nghệ và xã hội để
đáp ứng nhu cầu của các quốc gia khác, thông qua các hoạt động kinh tế đối ngoại, trong
đó thương mại quốc tế đóng vai trò trọng tâm.
Lịch sử phát triển kinh tế quốc tế thế giới cho đến nay đã có 3 kiểu phân công lao
động quốc tế điển hình là : phân công lao động quốc tế tư bản chủ nghĩa, phân công lao
động quốc tế xã hội chủ nghĩa và phân công lao động toàn thế giới. Do những biến động
phức tạp trong đời sống chính trị − xã hội thế giới, kể từ sau năm 1991 với sự sụp đổ của
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, thế giới đương đại chỉ còn tồn
tại và phát triển hai kiểu là phân công lao động xã hội và phân công lao động toàn thế giới.
Nếu gạt bỏ những sắc thái riêng biệt nhất định, ngày nay ta dễ nhận thấy sự vận động, phát
triển của cả hai kiểu phân công lao động quốc tế này đang có xu hướng tiến tới một thể
thống nhất, mặc dù vẫn luôn chứa đựng nhiều mâu thuẫn phức tạp do tính đa dạng của nền
kinh tế thế giới tạo ra. Cùng với quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế thế giới, là
những tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã thúc đẩy quá trình
phân công lao động quốc tế đạt tới trình độ sâu rộng chưa từng thấy. Chuyên môn hoá càng
phát triển thì quan hệ hiệp tác càng bền chặt, đó là đặc trưng cơ bản của phân công lao
động quốc tế ngày nay.
Trong quá trình tái sản xuất mở rộng, do yêu cầu khách quan của việc xã hội hoá
lực lượng sản xuất, các nước ngày càng quan hệ chặt chẽ với nhau, lệ thuộc vào nhau. Sự
giao lưu tư bản, trao đổi mậu dịch, do đó, ngày càng phong phú. Sự phát triển của hệ thống
thông tin hiện đại, đặc biệt là kỹ thuật thông tin vi điện tử và sự phát triển của giao thông
vận tải đã tạo điều kiện cho phân công lao động quốc tế gày càng phát triển, làm tăng quá
trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và đời sống của các dân tộc. Sự phát triển mạnh mẽ
của các Công ty xuyên quốc gia càng làm nổi bật tính thống nhất của nền sản xuất thế giới.
Quốc tế hoá nền sản xuất tất yếu dẫn tới các loại liên kết kinh tế. Sự phát triển của
khoa học − công nghệ cùng với sự chuyển dịch vốn, kỹ thuật từ các nước công nghiệp phát
triển sang các nước đang phát triển đã giúp cho nhiều nước trở thành nước công nghiệp
mới có đủ tiềm lực kinh tế quay trở lại cạnh tranh với các nước công nghiệp phát triển. Sự
7
ra đời của hàng loạt các liên minh kinh tế Nhà nước ở các khu vực, các tổ chức kinh tế ở
khắp các Châu lục, cũng như sự hiệp tác và liên minh kinh tế dưới nhiều hình thức khác đã
đánh dấu sự phân công lao động sâu sắc và mở rộng quy mô phát triển chưa từng có. Hệ
quả trực tiếp là sự tốc độ phát triển ngoại thương, đặc biệt là xuất khẩu của hầu hết các
nước tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế đều đã tăng mạnh và liên tục
trong các thập niên gần đây và hiện nay.Năm 1950, tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới
còn ở mức 59,7 tỷ USD nhưng đến năm 1990 nghĩa là 4 thập niên sau đã lên đến con số
3.332 tỷ USD, tăng 57,6 lần bình quân hàng năm tăng 10,5 %. Điều lưu ý là suốt thời kỳ
dài, từ sau thế chiến thứ hai đến nay, nền kinh tế thế giới nói chung và thương mại quốc tế
nói riêng, mặc dù đã trải qua những bước thăng trầm trong sự phát triển, nhưng nhìn chung
tốc độ tăng của thương mại quốc tế đều tăng nhanh hơn tốc độ tăng của sản xuất thế giới.
Lý giải về sự tăng nhanh của thương mại quốc tế có thể bằng nhiều nguyên nhân
khác nhau, song phải thấy có một nguyên nhân cơ bản là nhờ đạt được hiệu quả kinh tế do
quá trình phân công lao động quốc tế mang lại. Thực tế cho thấy những lợi nhuận thu được
từ thương mại quốc tế nhờ khai thác sự chênh lệch về giá cả tương đối giữa các nước, tuy
rất quan trọng nhưng còn ít hơn nhiều so với lợi nhuận thu được nhờ tăng cường tính đa
dạng và chuyên môn hoá theo nhãn hiệu của từng loại sản phẩm sản xuất ở nhiều quốc gia
khác nhau. Thương mại trong ngành không chỉ tạo ra các khả năng mở rộng tiêu dùng,
thoả mãn nhu cầu của người mua, mà đã trở thành yếu tố cơ bản, quyết định động thái tăng
trưởng kim ngạch ngoại thương hầu hết các nước thuộc mọi khu vực khác nhau trong nền
kinh tế thế giới. Thương mại trong ngành là biểu hiện phát triển cao độ của sản xuất
chuyên môn hoá trong giai đoạn hiện nay. Nó không giải thích vì sao nước Anh xuất khẩu
xe hơi sang Hông Kông nhưng lại có thể giải thích một hiện tượng thực tế nảy sinh mà
David Ricardo đã không làm được là vì sao Anh xuất khẩu xe hơi (như Rovers, Jaguars )
sang Đức, nhưng lại nhập xe hơi (như Mercedes, Andis ) từ Đức. Điều dễ hiểu là mặc dù
đều là xe hơi nhưng tất cả các loại xe hơi do Anh sản xuất đều có những đặc điểm khác so
với tất cả các loại xe hơi do Đức sản xuất. Tương tự như vậy, Nhật là cường quốc về sản
xuất tivi chất lượng cao bởi các nhãn hiệu nổi tiếng như Sony, JVC, Sanyo nhưng vẫn
không ít người Nhật thích dùng tivi với các nhãn hiệu khác của nước ngoài như Philip cuả
Hà Lan, Sam Sung, Deawoo của Hàn Quốc Lý do chính khiến cho sự trao đổi thương
mại giữa các nước về cùng một loại sản phẩm là sự đa dạng của các nhãn hiệu khác nhau
về loại sản phẩm đó, sẽ mang lại những thoả mãn về nhu cầu của người tiêu dùng, do có sự
khác nhau về hình thức, mẫu mã, giá cả Đối với cả người sản xuất với người tiêu dùng
đều có thể tìm thấy những lợi ích cơ bản sau đây của việc phát triển thương mại trong
ngành.
* Thứ nhất, người tiêu dùng thoả mãn được nhu cầu lựa chọn trong số nhiều nhãn
hiệu khác nhau của cùng một loại sản phẩm trong ngành.
8
* Thứ hai, thương mại trong ngành mang lại lợi thế kinh tế đáng kể nhờ mức độ mở
rộng quy mô chuyên môn hoá sản xuất của mỗi quốc gia về một loại nhãn hiệu sản phẩm
trong ngành, sau đó đem chúng trao đổi với nhau qua thương mại quốc tế, thay cho tình
trạng trước đây, mỗi quốc gia đều phải cố gắng sản xuất những lượng nhỏ của tất cả các
nhãn hiệu trong ngành.
Trên đây, chúng ta đã thấy lợi ích của phát triển thương mại trong ngành là mang
lại hiệu quả kinh tế nhờ quy mô mở rộng của chuyên môn hoá sản xuất về một loại nhãn
hiệu sản phẩm trong ngành. Đối với các nước có nền kinh tế mở, quy mô nhỏ (như Việt
Nam), vấn đề này càng có ý nghĩa quan trọng. Thông thường, ở các nước này, phạm vi
hàng hoá, mà theo đó họ có thể có được quy mô hiệu quả trong sản xuất bị giới hạn nhiều
so với các nước có nền kinh tế quy mô lớn. Do đó, các nước này bao giờ cũng có thể mang
lại lợi ích kinh tế tương đối nhiều hơn so với việc chỉ lo tự cung tự cấp bằng cách sản xuất
tất cả các loại sản phẩm, mỗi thứ một ít với chi phí cao.
b. Lợi ích của thương mại quốc tế đối với mỗi quốc gia.
Buôn bán nói chung và buôn bán quốc tế nói riêng là hoạt động kinh tế trao đổi
hàng hoá − tiền tệ đã có từ lâu đời và sự phát triển của nó luôn luôn gắn liền với sự phát
triển văn minh của xã hội loài ngươì. Như vậy là con người đã sớm tìm thấy lợi ích của
thương mại quốc tế, nhưng để giải thích một cách khoa học về nguồn gốc của những lợi
ích thương mại quốc tế thì đó đã không phải là vấn đề đơn giản. Quá trình nghiên cứu của
các trường phái kinh tế khác nhau trong lịch sử phát triển tư tưởng kinh tế thế giới đã đưa
ra những lý thuyết để lý giải vấn đề này, khẳng định tác động tích cực của thương mại
quốc tế đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế theo trình tự nhận thức từ thấp đến cao,
từ đơn giản đến phức tạp, từ phiến diện đến toàn diện, từ hiện tượng đến bản chất.
* Lý thuyết trọng thương.
Lý thuyết trọng thương ở Châu Âu đã phát triển từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ
XVIII, với nhiều đại biểu khác nhau: Jean Bodin, Melon, Jully, Colbert (Pháp), Thomas
Mrm, Josias, Chhild, James Stewart (Anh)
Nội dung chính của thuyết này là: Mỗi quốc gia muốn đạt được sự thịnh vượng
trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ bằng phát triển ngoại thương và
mỗi quốc gia chỉ có thể thu được lợi ích từ ngoại thương nếu cán cân thương mại mang dấu
dương (hay giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu). Được lợi là vì thặng dư của xuất
khẩu so với nhập khẩu được thanh toán bằng vàng, bạc và chính vàng, bạc là tiền tệ, là
biểu hiện của sự giàu có. Đối với một quốc gia không có mỏ vàng hay bạc chỉ còn cách
duy nhất là trông cậy vào phát triển ngoại thương.
Lý thuyết trọng thương mặc dù có nội dung rất sơ khai và còn chứa đựng nhiều yếu
tố đơn giản, phiến diện, chưa cho phép phân tích bản chất bên trong của các sự vật hiện
tượng kinh tế, song đó đã là những tư tưởng đầu tiên của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển
9
nghiên cứu về hiện tượng và lợi ích của ngoại thương. Ý nghĩa tích cực của học thuyết này
là đối lập với tư tưởng phong kiến lúc bấy giờ là coi trọng kinh tế tự cung, tự cấp. Ngoài
ra, những người trọng thương cũng sớm nhận thức được vai trò qua trọng của nhà nước
trong quản lý, điều hành trực tiếp các hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế
quan, bảo hộ mậu dịch trong nước để bảo hộ các ngành sản xuất non trẻ, kiểm soát nhập
khẩu, thúc đẩy xuất khẩu.
* Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
Trong nhiều tác phẩm của mình, trong đó nổi tiếng nhất là cuốn sách “nghiên cứu
về bản chất và nguồn gốc giàu có của các quốc gia”, Adam Smith đã đề cao vai trò của
thương mại , đặc biệt là ngoại thương đã có tác dụng thúc đẩy nhanh sự phát triển và tăng
trưởng kinh tế của các nước, song khác với sự phiến diện của trọng thương đã tuyệt đối
hoá quá mức vai trò ngoại thương, ông cho rằng ngoại thương có vai trò rất to lớn nhưng
không phải nguồn gốc duy nhất của sự giàu có. Sự giàu có không phải do ngoại thương mà
là do công nghiệp, tức là do hoạt động sản xuất đem lại chứ không phải do hoạt động lưu
thông. Theo ông, hoạt động kinh tế (bao gồm cả hoạt động sản xuất và lưu thông) phải
được tiến hành một cách tự do, do quan hệ cung cầu và biến động giá cả thị trường quy
định. Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? Đó là câu hỏi cần được giải
quyết ở thị trường.
Theo Adam Smith, sức mạnh làm cho nền kinh tế tăng trưởng là do sự tự do trao
đổi giữa các quốc gia, do đó mỗi quốc gia cần chuyên môn vào những ngành sản xuất có
lợi thế tuyệt đối, nghĩa là phải biết dựa vào những ngành sản xuất có thể sản xuất ra những
sản phẩm có chi phí sản xuất nhỏ hơn so với quốc gia khác, nhưng lại thu được lượng sản
phẩm nhiều nhất, sau đó đem cân đối với mức cầu ở mức giá lớn hơn giá cân bằng. Chính
sự chênh lệch giá nhờ mức cầu tăng lên ở quốc gia khác làm cho nền kinh tế tăng trưởng.
Quan điểm trên thể hiện nội dung cơ bản của lý thuyết lợi thế tuyệt đối trong
thương mại quốc tế. Một nước được coi là có lợi thế tuyệt đối so với một nước khác trong
việc chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá A khi cùng một nguồn lực có thể sản xuất được
nhiều sản phẩm A hơn là nước thứ 2.
* Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo.
Lý thuyết về lợi thế so sánh trên đây cho thấy một nước có lợi thế tuyệt đối so với
nước khác về một loại hàng hoá, nước đó sẽ thu được lợi ích ngoại thương, nếu chuyên
môn hoá sản xuất theo lợi thế tuyệt đối. Tuy nhiên, do lý thuyết này chỉ dựa vào lợi thế
tuyệt đối nên đã không giải thích được vì sao một nước có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn so với
nước khác, hoặc một nước không có lợi thế nào vẫn có thể tích cực tham gia vào quá trình
hợp tác và phân công lao động quốc tế để phát triển mạnh các hoạt động thương mại quốc
tế.
Khắc phục những hạn chế của lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và cũng trả lời
những câu hỏi trên đây, năm 1817, trong tác phẩm nổi tiếng của mình “Những nguyên lý
10
của kinh tế chính trị” nhà kinh tế học cổ điển người Anh David Ricardo đã đưa ra lý thuyết
lợi thế so sánh, nhằm giải thích tổng quát chính xác hơn về cơ chế xuất hiện lợi ích trong
thương mại quốc tế. Nội dung bao gồm:
− Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi vì: phát
triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước. Nguyên nhân
chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng
nhập khẩu từ các nước khác thông qua con đường thương mại quốc tế.
− Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém
lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công
lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những lợi thế so sánh nhất định về một số mặt
hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác.
Vậy có thể kết luận rằng, một trong những điểm cốt yếu nhất của lý thuyết lợi thế
so sánh là những lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất và thương mại quốc tế phụ thuộc vào
lợi thế so sánh chứ không phải là lợi thế tuyệt đối. Lợi thế so sánh là điều kiện cần và đủ
đối với lợi ích của thương mại quốc tế.
Liên quan đến lợi thế so sánh, có một khái niệm rất cơ bản trong kinh tế học đã
được David Ricardo đề cập đến đó là chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là chi phí bỏ ra để sử
dụng cho một mục tiêu nào đó. Giả sử, một nền kinh tế khép kín (nền kinh tế đóng) có các
nguồn lực nhất định có thể sản xuất ra lương thực và quần áo. Thông thường càng dùng
nhiều nguồn lực để sản xuất ra lương thực thì càng có ít nguồn lực để sản xuất ra quần áo.
Chi phí cơ hội của lương thực là lượng quần áo bị giảm đi do dùng nguồn lực vào sản xuất
quần áo thay cho sản xuất lương thực. Như vậy chi phí cơ hội của một hàng hoá là số
lượng những hàng hoá khác mà người sản xuất phải giảm đi để có thể làm thêm ra một đơn
vị hàng hoá đó.
Tóm lại là: Lợi ích thương mại quốc tế bắt nguồn từ sự khác nhau về lợi thế so sánh
ở mỗi quốc gia, mà các lợi thế so sánh đó có thể được biểu hiện bằng các chi phí cơ hội
khác nhau của mỗi quốc gia, do đó lợi ích của thương mại quốc tế cũng chính là bắt nguồn
từ sự khác nhau về các chi phí cơ hội của mỗi quốc gia. Chi phí cơ hội cho ta biết chi phí
tương đối (chi phí so sánh) để làm ra sản phẩm hàng hoá khác nhau của mỗi quốc gia, hay
nói cách khác, khi các chi phí cơ hội ở tất cả các quốc gia đều giống nhau thì không có lợi
thế so sánh và cũng không có khả năng nảy sinh các lợi ích do chuyên môn hoá và thương
mại quốc tế. Đó cũng là nội dung cơ bản của quy luật lợi thế so sánh đã được David
Ricardo khẳng định là: các nước sẽ có lợi khi chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu
những sản phẩm mà họ làm ra với chi phí cơ hội (chi phí so sánh) thấp hơn so với các nước
khác. Quy luật này đã được nhiều nhà kinh tế khác tiếp tục phát triển, hoàn thiện, trở thành
quy luật chi phối động thái phát triển của thương mại quốc tế.
* Lý thuyết nguồn lực và Thương mại Hecksher − Ohlin.
11
Chúng ta đã thấy rằng lợi thế so sánh là nguồn gốc những lợi ích của thương mại
quốc tế, nhưng lợi thế so sánh do đâu mà có? Vì sao các nước khác nhau lại có chi phí cơ
hội khác nhau? Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo đã không giải thích được
những vấn đề trên đây. Để khắc phục những hạn chế này, hai nhà kinh tế học Thuỵ điển,
Eli Hecksher và B.Ohlin trong tác phẩm “Thương mại liên khu vực và quốc tế” xuất bản
1933, đã phát triển lợi thế so sánh của David Ricardo thêm một bước bằng việc đưa ra mô
hình H−O để trình bầy lý thuyết ưu đãi về nguồn lực sản xuất vốn có. Lý thuyết này đã giải
thích hiện tượng thương mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi quốc gia đều
hướng đến chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất
đối với nước đó là thuận lợi nhất. Nói cách khác, theo lý thuyết H−O, một số nước này có
lợi thế so sánh hơn trong việc sản xuất và xuất khẩu một số sản phẩm hàng hoá của mình là
do việc sản xuất những sản phẩm đó đã sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà một trong số
nước đó đã được ưu đãi hơn so với một số nước khác. Chính sự ưu đãi về các lợi thế tự
nhiên của các yếu tố sản xuất này (bao gồm vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu )
đã khiến một số nước đó có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sản phẩm
hàng hoá khác) khi sản xuất những sản phẩm hàng hoá đó.
Như vậy, cơ sở lý luận khoa học của lý thuyết H−O vẫn chính là dựa vào lý thuyết
lợi thế so sánh của David Ricardo, nhưng ở trình độ phát triển cao hơn là đã xác định được
nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu tố sản xuất mà kinh tế học phát
triển đương đại vẫn gọi là nguồn lực sản xuất. Và do vậy, lý thuyết H−O còn được coi là lý
thuyết lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có, hoặc vắn tắt hơn là lý thuyết
nguồn lực sản xuất vốn có. Đó cũng chính là lý thuyết hiện đại về thương mại quốc tế. Sau
này, nó còn được các nhà kinh tế học nổi tiếng khác như Paul Samuelson, james William
tiếp tục mở rộng và nghiên cứu tỷ mỉ hơn để khẳng định tư tưởng khoa học của định lý
H−O hay còn gọi là quy luật H−O về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất, trước đó đã được
Hecksher−Ohlin đưa ra với nội dung: một nước sẽ sản xuất loại hàng hoá mà việc sản xuất
nó cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn có của nước đó và nhập khẩu hàng hoá mà
việc sản xuất nó cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm hơn của nước đó.
Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trước thực tiễn phát triển phức tạp của
thương mại quốc tế ngày nay, song quy luật này đang là quy luật chi phối động thái phát
triển của thương mại quốc tế và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn quan trọng đối với các nước
đang phát triển, đặc biệt đối với nước kém phát triển, vì vậy nó đã chỉ ra rằng đối với các
nước này, đa số là những nước đông dân, nhiều lao động, nhưng nghèo vốn do đó trong
giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đất nước, cần tập trung xuất khẩu những hàng
hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều vốn. Sự lựa chọn
các sản phẩm xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có
như vậy sẽ là điều kiện cần thiết để các nước kém và đang phát triển có thể nhanh chóng
hội nhập vào sự phân công lao động và hợp tác quốc tế, và trên cơ sở lợi ích thương mại
thu được sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở những nước này.
12
II. VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ.
1. Vị trí và vai trò của thương mại quốc tế.
a. Vị trí của thương mại quốc tế.
Thương mại quốc tế có vị trí quan trọng trong kinh tế thị trường ở nước ta. Xác
định rõ vị trí của thương mại quốc tế cho phép tác động đúng hướng và tạo được những
điều kiện cho thương mại phát triển.
Trước hết, thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng là một bộ phân
hợp thành của tái sản xuất. Thương mại nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng. Ở vị trí cấu
thành của tái sản xuất, thương mại được coi như hệ thống dẫn lưu, tạo sự liên tục của quá
trình tái sản xuất. Khâu này bị ách tắc sẽ dẫn đến sự khủng hoảng của sản xuất và tiêu
dùng. Thương mại là lĩnh vực kinh doanh cũng thu hút trí lực và tiền vốn của những nhà
đầu tư để thu lợi nhuận, thậm chí siêu lợi nhuận. Bởi vậy kinh doanh thương mại trở thành
ngành sản xuất vật chất thứ hai.
b. Vai trò của thương mại quốc tế.
* Vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế quốc dân.
Thương mại quốc tế phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới kinh tế thông qua việc
sử dụng tốt hơn nguồn vốn lao động và tài nguyên của đất nước, tăng giá trị ngày công lao
động, tăng thu nhập quốc dân, tăng hiệu quả sản xuất, tạo vốn và kỹ thuật bên ngoài cho
nền sản xuất trong nước, kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm bật dậy các
nhu cầu tiềm tàng của người tiêu dùng.
Thương mại quốc tế góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, từng bước
đưa thị trường nước ta hội nhập với thị trường thế giới, biến nước ta thành bộ phận của
phân công lao động quốc tế. Đó cũng là con đường để đưa kinh tế nước ta có bước phát
triển nhảy vọt và nâng cao vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
* Vai trò của thương mại quốc tế ở doanh nghiệp.
Thương mại quốc tế là một bộ phận của thương mại cho nên trước hết nó là mục
tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Thông qua thương mại quốc tế các doanh nghiệp có thể
tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.
Thương mại quốc tế giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp diễn ra
bình thường và nâng cao vị thế của doanh nghiệp, tạo thế và lực cho doanh nghiệp không
những ở thị trường quốc tế mà cả thị trường trong nước thông qua việc mua bán hàng hoá
ở thị trường trong và ngoài nước, cũng như việc mở rộng các quan hệ bạn hàng.
Thương mại quốc tế có vai trò điều tiết, hướng dẫn sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
13
2. Các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại quốc tế.
Chính sách thương mại quốc tế là chính sách của nhà nước bao gồm một hệ thống
nguyên tắc và biện pháp thích hợp được áp dụng để điều chỉnh hoạt động ngoại thương
phù hợp với lợi ích chung của Nhà nước trong từng giai đoạn. Chính sách thương mại quốc
tế là một hệ thống chính sách của Nhà nước nó phục vụ đắc lực cho đường lối phát triển
kinh tế trong mỗi thời kỳ. Nó ảnh hưởng tới quá trình tái sản xuất xã hội và sự tham gia
của nền kinh tế quốc dân vào quá trình phân công lao động quốc tế.
Chính sách thương mại quốc tế có liên quan mật thiết với chính sách đối ngoại của
Đảng và Nhà nước ta. Nó là công cụ có hiệu lực để thực hiện chính sách đối ngoại, mở
mang quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước trong khu vực và thế giới. Đồng thời chính
sách đối ngoại tạo điều kiện giúp các tổ chức kinh tế tiếp cận với thị trường, khách hàng
nước ngoài để mở rộng hoạt động thương mại quốc tế.
Nhiệm vụ của chính sách thương mại quốc tế của Nhà nước là tạo điều kiện thuận
lợi cho các tổ chức kinh doanh tham gia vào phân công lao động quốc tế, mở mang hoạt
động xuất nhập khẩu và bảo vệ thị trường nội địa nhằm đạt mục tiêu, yêu cầu kinh tế,
chính trị, xã hội trong hoạt động kinh tế đối ngoại.
Những công cụ và chính sách chủ yếu được áp dụng trong thương mại quốc tế là:
a. Chính sách thuế quan.
* Khái niệm:
Thuế quan là một loại thuế đánh vào hàng hoá xuất nhập khẩu nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định như tăng thu ngân sách nhà nước, hạn chế nhập khẩu hoặc xuất
khẩu
Thuế quan xuất khẩu áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu và áp dụng với phạm vi
hạn chế và mức thuế suất không cao. Thường áp dụng đối với các mặt hàng truyền thống
với thuế suất không ảnh hưởng đến cung cầu.
Thuế quan nhập khẩu áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và sử dụng tương đối
phổ biến ở các nước trên thế giới với các mức thuế suất rất khác nhau đối với từng nhóm
hàng hoá cụ thể và tuỳ theo điều kiện từng nước.
* Tác động của thuế quan.
Được phân tích với trường hợp một nước nhỏ áp dụng thuế quan nhập khẩu sẽ có
ảnh hưởng đối với sản xuất, tiêu dùng, phân phối thu nhập qua mô hình đường cung,
đường cầu như sau:
14
P D S
P
t
B C
P
o
A H G E P
w
0 Q
1
Q
3
Q
4
Q
2
Q

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét