CĐề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản GVHD: Th.s Đặng Thị Phương Lan
2. Các biện pháp phá thai:
Một vài năm trước đây biện pháp phá thai bằng hút chân không được sử
dụng khá phổ biến , song hiện nay phương pháp này lại ít được sử dụng, bởi
sử dụng hút chân không, các phần của phôi thai có thể không hút ra được hết
và vẫn phải nạo lại. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thủ thuật
phá thai cũng dần trở nên đảm bảo và an toàn hơn. Tùy thuộc vào tuổi thai
và điều kiện của từng cơ sở y tế mà các bác sĩ đi đến quyết định có thể sử
dụng biện pháp phá thai nào thì an toàn nhất cho người phải phá thai. Hiện
nay nước ta có những biện pháp phá thai chủ yếu sau:
- Phá thai bằng thuốc ( được thực hiện đối với trường hợp tuổi thai dưới
7 tuần tuổi)
- Hút thai ( được thực hiện khi tuổi thai đã quá 8 tuần tuổi)
- Nạo thai ( được thực hiện khi tuổi thai chưa quá 12 tuần tuổi
- Phá thai bằng kovax ( được thực hiện khi tuổi thai đã lớn)
Việc sử dụng biện pháp phá thai nào do bác sỹ quyết định, tùy thuộc vào
kỹ thuật chuyên môn của bác sĩ tại các cơ sỏ y tế đó cũng như tùy thuộc vào
điều kiện sức khỏe, tuổi thai
3.Đặc điểm tâm sinh lý tuổi vị thành niên
Về sinh lý:
Vị thành niên là giai đoạn phát triển từ một trẻ thơ để trở thành người lớn,
giai đoạn này có nhiều biến đổi về mặt tâm sinh lý, kích thước cơ thể thay
đổi và mang những dấu hiệu đặc trưng của từng giới. Những dấu hiệu dậy
thì cơ bản của bạn gái:
- Vú nhô lên
- Hông nở ra
- Tầm vóc tăng đột ngột
- Mọc lông ở khu vực sinh dục
- Các tuyến bã ở da xuất hiện
- Tử cung và âm đạo phát triển đầy đủ
SV thực hiện: Nguyễn Thị Bích Lớp D3_CT4
5
CĐề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản GVHD: Th.s Đặng Thị Phương Lan
Vóc dáng cơ thể: Từ một em gái nhở, cơ thể các bận bắt đầu có vóc dáng
thiếu nữ, sớm có thể từ 9 tuổi muộn có thể từ 14 tuổi. Có bạn lớn từ từ có
bạn lớn rất nhanh. Cơ thể mềm mại và giàu nữ tính.
Tăng trưởng của khung chậu: Ở tuổi dậy thì khung xương chậu phát triển
rộng.
Sự phát triển của vú: Từ tuổi 10 – 12, hai bên vú to dần lên và nâng cao
khỏi thành ngực. Trong quá trình phát triển vú này có thể phát triển nhanh
hơn vú kia, hoặc đôi khi bạn gái cảm thấy đau, tức. Điều đó không phải là
dấu hiệu bất thường và không có gì phải lo lắng.
Sự phát triển của lông mu và lông nách: Khi bắt đầu dậy thì lông mu và
lông quanh bộ phận sinh dục bắt đầu phát triển. Lông nách cũng xuất hiện
sau đó.
Trứng cá: Trứng cá thường gặp ở tuổi dậy thì ở cả nam và nữ do sự hoạt
động của tuyến bã, tuyến mồ hôi. Các bạn trẻ cần giữu vệ sinh sạch sẽ, tránh
ăn nhiều mỡ, ngọt, chất kích thích.
Kinh nguyệt: Sự xuất hiện của kinh nguyệt là dấu hiệu quan trọng nhất của
tuổi dậy thì, thể hiện sự bắt đầu hoạt động của hệ sinh dục. Kinh nguyệt có
thể xuất hiện sớm từ năm 12 – 13 tuổi, cũng có thể muộn hơn vào năm 16
-17 tuổi. Một chu kỳ kinh nguyệt thường kéo dài 28 ngày, tính từ ngày bắt
đầu hành kinh cho tới ngày bắt đầu hành kinh lần sau. Thời gian đầu có thể
kinh nguyệt chưa đều, điều đó các bạn gái không nên quá lo lắng.
Khi bắt đầu có kinh nguyệt là bắt đầu các bạn có khả năng có thai. Ở tuổi
dậy thì vì cơ thể chưa phát triển hoàn chỉnh, việc có thai có thể tác động
không tốt đến sức khỏe của bạn. Có được thông tin dầy đủ chính xác về sự
phát triển của cơ thể mình trong giai đoạn dậy thì sẽ giúp cho các bạn có
những quyết định đúng đắn.
Về tâm lý: Cùng với những biến đổi về cơ thể, sinh lý, đời sống tâm lý
của trẻ vị thành niên cũng có những thay đổi sâu sắc. Các em dần tự chử về
tâm lý, tình cảm có cảm xúc về giới tính, đồng thời suy nghĩ về vai tò tương
lai của các em trong xã hội. Quá trình này diễn ra dần dần, đem đến nhiều
SV thực hiện: Nguyễn Thị Bích Lớp D3_CT4
6
CĐề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản GVHD: Th.s Đặng Thị Phương Lan
cảm xúc cho các em nhưng đôi khi không ổn định. Sau đây là một số đặc
điểm tâm sinh lý nổi trội ở lứa tuổi này.
Ý thức tự trọng, tính độc lập trong suy nghĩ và hành động: Ở tuổi này các
em có xu hướng tách ra. Ít phụ thuộc vào cha mẹ. Các em có tâm lý muốn
làm người lớn, coi mình là người lớn”. Các em không còn đồi đi chung với
cha mẹ, muốn tự chọn bạn, muốn được ăn mặc theo ý thích. Các em không
còn hay tâm sự với cha mẹ mà chuyển từ sinh hoạt gia đình sang sinh hoạt
bạn bè, ngưỡng mộ thần tượng.
Những cảm giác đối với bản thân: Những biến đổi sinh học đôi khi có tác
động đến tâm lý trẻ vị thành niên. Các em có nhu cầu khám phá ơ thể mình
và bạn khác giới ( hay để ý băn khoăn những thay đổi cơ thể)
Những cảm xúc giới tính: Sự phát dục ở tuổi vị thành niên đã kích thích các
em băt đầu quan tâm đến bạn khác giới, làm xuất hiện những cảm giác cảm
xúc giới tính mới lạ. Những rung cảm mới lạ này đôi khi lướt qua nhanh
chóng nhưng cũng có khi kéo dài. Tuy nhiên không phải tất cả các em đều
có những rung cảm như vậy, cũng có một số các em sớm bị cuốc hút vào
con đường yêu đương tình ái. Tâm trạng của những em này thay đổi nhanh
và biến động mạnh. Lý trí chưa đủ giúp các em làm chủ được những rung
cảm mãnh liệt của sự yêu dương quá sớm. Trong quá trình tìm hiểu khám
phá này, các em cần rền luyện những kỹ năng sống để giúp cấc em xây
dựng được những mối quan hệ bạn bè, giải quyết mâu thuẫn, biết cách cùng
hợp tác với người khác trong nhóm, hình thành lòng tự trọng cũng như biết
kiềm chế trước sức ép từ bạn bè cùng lứa và người lớn khác để không tham
gia vào những hành vi nguy cơ có hại cho sức khỏe và an toàn của bản thân
và người khác
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.Thực trạng nạo phá thai tuổi vị thành niên ở nước ta.
Trẻ vị thành niên (từ 10-17 tuổi) ở nước ta có khoảng 23,8 triệu người,
chiếm 31% dân số. Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình thì Việt
Nam là một trong ba nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới (1,2-1,6 triệu ca
SV thực hiện: Nguyễn Thị Bích Lớp D3_CT4
7
CĐề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản GVHD: Th.s Đặng Thị Phương Lan
mỗi năm), trong đó, 20% thuộc lứa tuổi vị thành niên, thậm chí có em mới
12 tuổi. Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam cho thấy
7,6% trong độ tuổi này có quan hệ tình dục trước hôn nhân. Việc nạo phá
thai ở tuổi vị thành niên xuất hiện ở hầu hết tất cả các tỉnh thành trong cả
nước chứ không riêng địa phương nào. Tuy nhiên, xảy ra nhiều ở các thành
phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, Quảng Ninh…ở
những thành phố lớn điều kiện kinh tế xã hội phát triển các em có cơ hội tiếp
xúc với các phương tiện thông tin xã hội nên cũng dậy thì sớm hơn so với
các em cùng trang lứa ở nông thôn, mặt khác đây cũng là nơi tập chung
nhiều trường Đại học, Cao đẳng, trung cấp và các khu công nghiệp…các em
sống xa nhà thiếu tình cảm và sự quan tâm của gia đình nên dễ xa vào quan
hệ bạn bè, yêu đương và để lại những hậu quả không mong muốn Chỉ tính
riêng 6 tháng đầu năm 2008 cả nước đã có 432 ngàn ca nạo phá thai ở tuổi
vị thanh niên trong đó, bệnh viện Từ Dũ – thành phố Hồ Chí Minh có
19.752 ca nạo phá thai , Hà Nội 11.634 ca ( Nguồn thống kê của cơ quan y
tế, điều tra về sức khoe sinh sản năm 2008). Đó là chưa kể tới rất nhiều ca
nạo phá thai tại những cơ sở y tế tư nhân nhưng không thể kiểm soát và
thống kê được.
Trong thực tế, những gương mặt non trẻ xuất hiện ở các cơ sở nạo phá thai
dường như ngày một nhiều. Cũng bởi quá non nớt, chưa kịp trang bị kiến
thức nên khi cần đến sự can thiệp thì “hậu quả” đã quá lớn, có khi cái thai đã
ở tháng thứ 5-6. Có những em được cha mẹ, gia đình “áp tải” đến các cơ sở
y tế lớn với đầy đủ chuyên gia, thuốc men và trang thiết bị. Song có một số
lượng lớn hơn hẳn thì âm thầm tới các phòng khám tư, lủi thủi “giải quyết”
một mình. Có những em phải dùng đến những biện pháp đặc biệt như đẻ cô-
vắc hoặc kích thích sinh non. Không hiếm trường hợp sản phụ trẻ phá thai
chui trong điều kiện vô trùng kém, lại thiếu phương tiện cấp cứu, đã bị thủng
tử cung, rách bàng quang, thậm chí thủng ruột, sót rau, nhiễm trùng máu và
có thể tử vong.
SV thực hiện: Nguyễn Thị Bích Lớp D3_CT4
8
CĐề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản GVHD: Th.s Đặng Thị Phương Lan
BS. Lâm Thị Thu - Trung tâm Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em và Kế hoạch
hóa gia đình An Giang, cho biết: “Trong số các trường hợp đến trung tâm
trút bỏ “hậu quả” thì có từ 10-16% là dưới 19 tuổi và chưa lập gia đình.
Nhiều trường hợp, không chỉ phá thai một lần mà nhiều lần, nhiều nhất là
thai khoảng 2 tháng tuổi”. Các bác sĩ sản khoa luôn tâm niệm rằng nạo phá
thai thông thường chỉ dùng cho những trường hợp bất khả kháng. Bởi lẽ
những tai biến trước mắt do nạo phá thai dễ xảy ra như: băng huyết, nhiễm
khuẩn, sót nhau, thủng tử cung, tắc ống dẫn trứng, rách bàng quang, nhiễm
trùng máu và có thể gây tử vong nhất là những trường hợp các em mang thai
ở độ tuổi từ 13-15 tuổi. Hậu quả về sau nữa là các em sẽ có nguy cơ: nhiễm
độc thai nghén, sảy thai, đẻ non, bị sản giật, chuyển dạ kéo dài, sang chấn
thương nặng đường sinh dục, có khi phải tiến hành mổ hoặc cắt nới âm hộ
để lấy thai. Còn nếu giữ thai thì dễ gặp phải nguy cơ về nhiễm độc thai, tăng
huyết áp, thiếu máu, sinh non và nhau tiền đạo.
Hình ảnh nạo phá thai
SV thực hiện: Nguyễn Thị Bích Lớp D3_CT4
9
CĐề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản GVHD: Th.s Đặng Thị Phương Lan
* Sau khi nhìn những hình ảnh trên mong các bạn hãy suy nghĩ kỹ việc mình
làm đừng để xảy ra những chuyện như thế này…
2. Nguyên nhân nạo phá thai tuổi vị thành niên ở nước ta.
Căn nguyên của việc gia tăng số vụ nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên,
giới trẻ hiện nay chính là do lứa tuổi này đang ở vào giai đoạn biến đổi tâm
sinh lý, các cơ quan chức năng sinh học, sinh lý của cơ thể dần biến đổi.
Nhu cầu muốn được tiếp xúc với người khác giới luôn cao, trong khi kinh
nghiệm về vấn đề giải quyết nhu cầu sinh lý, sinh sản còn hạn chế, người lớn
thiếu sự quan tâm sát sao. Thế nên các em rất dễ có suy nghĩ lệch lạc, tự tìm
tòi, khám phá, giải quyết nhu cầu sinh lý của mình, quan hệ tình dục bừa bãi
theo đó luôn tiềm ẩn. Qua tìm hiểu trước khi làm thủ thuật, các bác sĩ tại
Khoa kế hoạch hoá gia đình Bệnh viện Từ Dũ nhận thấy tỷ lệ hiểu biết về
giới tính ở những trẻ vị thành niên không cao. Còn quá nhiều em hiểu biết
rất mù mờ về giới tính, không có kiến thức gì về việc mang thai và các biện
pháp phòng tránh thai khi quan hệ tình dục. Vẫn còn rất nhiều em cho rằng,
việc quan hệ tình dục một lần sẽ không để lại hậu quả gì. Đây là nguyên
nhân làm cho tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cử tăng dần theo từng
năm.
Hầu hết các bậc phụ huynh, đặc biệt là phụ huynh khu vực nông thôn vẫn
còn e ngại khi con cái có thắc mắc hoặc khi chia sẻ những vẫn đề về giới
tính với con cái. Thậm chí, nhiều người cho rằng đây là vấn đề “tế nhị” cần
phải “giữ ý” với con cái, có người lại lảng tránh hoặc giáo dục một cách
không đầy đủ, không có phương pháp. Nhiều bậc phụ huynh còn sai lầm khi
nghĩ rằng: Nói những chuyện ấy cho con cái thì khác gì “vẽ đường cho hươu
chạy”, chỉ làm cho chúng dễ hư hỏng. Đây chính là nguyên nhân khiến trẻ vị
thành niên thiếu kiến thức, hiểu biết mù mờ, tự tìm tòi và tìm tòi ở những tài
liệu không lành mạnh như: trang web đen, băng đĩa… dẫn đến hiểu biết sai
lệch, quan niệm sai lầm trong tình yêu và tình dục, không biết cách bảo vệ
và chăm sóc bản thân. Trong khi đó, độ tuổi mà các em dễ vướng vào
chuyện tình cảm nhất cũng chính ở lứa tuổi học sinh, sinh viên, nhiều em
SV thực hiện: Nguyễn Thị Bích Lớp D3_CT4
10
CĐề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản GVHD: Th.s Đặng Thị Phương Lan
mới là học sinh cấp II, cấp III nhưng đã có người yêu, bạn trai. Nhưng để
đến khi các em đã “sống thử”, đã “xảy ra chuyện” rồi mới cuống cuồng tìm
cách “giáo dục” các em thì đã muộn, khác nào “mất bò mới lo làm chuồng”,
không những dễ gây tổn thương cho các em mà còn để lại những hậu quả
khôn lường. Bắt đầu cuộc sống “người lớn” khi chưa đủ trưởng thành lại
còn đang đi học không chỉ làm ảnh hưởng đến việc học hành của các em mà
còn là nguyên nhân chính dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai
bừa bãi.
3. Hậu quả của việc nạo phá thai ở tuổi vị thành niên.
Có nhiều người nghĩ rằng với trình độ y học hiện nay thì việc nạo phá thai
không ảnh hưởng gì. Đúng là y học hiện đã có những phương cách thực hiện
khá an toàn. Tuy nhiên như chúng ta đã biết, dù trong điều kiện tốt nhất, việc
phá thai cũng có một nguy cơ tai biến và biến chứng nhất định, mà điều này
thì có nhiều yếu tố chi phối, trong đó có thể kể tới là tuổi thai và tuổi mẹ.
Tuổi thai càng lớn thì tỷ lệ tai biến càng cao. Nếu mới trễ kinh dưới 2 tuần
thì chỉ cần thủ thuật hút thai và tỷ lệ biến chứng thấp; Nhưng nếu trễ kinh
lâu hơn, từ 2 tuần đến 2 tháng thì phải thực hiện thủ thuật nạo thai; Và nếu
trễ kinh trên 2 tháng thì phải cho sinh non, với tỷ lệ tai biến rất cao. Những
biến chứng có thể gặp trong nạo phá thai đó là băng huyết, thủng tử cung và
nhiễm trùng kéo dài có thể cắt bỏ tử cung. Ngoài ra, trong tất cả các cách
giải quyết thai, nếu được thực hiện an toàn không có những tai biến cấp thời,
thì vẫn có thể có những hậu quả lâu dài về sau, trong đó có thể kể là những
trường hợp sinh khó do nhau bám thấp, nhau tiền đạo … kể cả khả năng bị
vô sinh nếu bạn lạm dụng việc nạo hút thai.
Một điều cần phải nói thêm, là nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên tiềm
ẩn rất nhiều nguy cơ. Thứ nhất, ở lứa tuổi các em, cơ quan sinh dục chưa
phát triển đầy đủ nên thường có biến chứng nhiều hơn. Thêm vào đó là các
em thường lo sợ người lớn biết nên tìm đến những cơ sở tư nhân, thậm chí là
cơ sở bất hợp pháp không có chức năng và không đủ điều kiện để thực hiện
thủ thuật một cách an toàn. Kết quả là tỷ lệ tai biến cao, thậm chí có nhiều
SV thực hiện: Nguyễn Thị Bích Lớp D3_CT4
11
CĐề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản GVHD: Th.s Đặng Thị Phương Lan
trường hợp tử vong. Có nhiều em, do quá lo sợ nên sau khi nạo phá thai tại
những nơi này và có biến chứng cũng không dám trình báo, cho đến khi quá
nặng vào bệnh viện thì phải cắt bỏ tử cung. Cũng cần nói thêm ở lứa tuổi vị
thành niên nếu các em nữ mang thai và sinh con thì các nguy cơ như sinh
non, biến chứng lúc sinh và con chậm phát triển tâm thần cao hơn gấp nhiều
lần so với phụ nữ trưởng thành. Một nghiên cứu ở Matlab, Bangladesh cho
thấy tỷ lệ tử vong ở mẹ khi sinh nở ở độ tuổi 10 – 14 cao gấp 10 lần so với
độ tuổi 20 – 24, và tỉ lệ tử vong mẹ ở độ tuổi 15 – 19 thì cao gấp 2 lần so với
độ tuổi 20 – 24. Còn ở Việt Nam, thống kê trên phạm vi cả nước cho thấy,
nguy cơ chết mẹ của bà mẹ dưới 20 tuổi cao gấp 5 lần so với bà mẹ sinh con
ở tuổi 24 – 25. Trẻ em sinh ra từ các bà mẹ tuổi vị thành niên cũng tử vong
trong năm đầu đời nhiều hơn 40% so với trẻ sinh từ các bà mẹ lứa tuổi hai
mươi. Số trẻ em dưới 15 tuổi mắc bệnh lây qua đường tình dục chiếm 1,16%
( đối với bệnh lậu) và 1,5% đối với các bệnh khoa liễu khác.
Những em được chỉ định sinh con, ngoài các nguy cơ nhiễm độc thai nghén,
sảy thai, đẻ non, ngôi bất thường, còn có nguy cơ bị sản giật, chuyển dạ kéo
dài, sang chấn nặng đường sinh dục, thường phải mổ hoặc cắt nới âm hộ để
lấy thai ra. Có trường hợp do thai lớn, cơ thể người mang thai lại chưa phát
triển đầy đủ nên việc lấy thai ra đã vĩnh viễn cướp đi khả năng làm mẹ của
họ sau này. Còn việc giữ thai lại có thể dẫn tới nguy cơ nhiễm độc thai, cao
huyết áp, thiếu máu, sinh non và nhau tiền đạo. Những bà mẹ vị thành niên
thường không hoàn tất việc học, đứa trẻ ra đời thường nhẹ cân, lại có
khuynh hướng ít được học hành và dễ bị bỏ rơi hay bị lạm dụng. Có đến
13% con trai của các bà mẹ vị thành niên dễ có khuynh hướng vào tù và
22% con gái của họ có khuynh hướng trở thành những bà mẹ trẻ giống như
mẹ của mình.
Kết quả nghiên cứu giữa Bộ Y tế Việt Nam và Tổ chức Y tế thế giới
(WHO) cho thấy, thực trạng nạo hút thai tại Việt Nam có khuynh hướng
ngày một gia tăng, tai biến do phá thai dẫn đến tử vong mẹ chiếm 5% trong
tổng số bà mẹ tử vong, các tai biến đó là: xuất huyết (chiếm 40%), nhiễm
SV thực hiện: Nguyễn Thị Bích Lớp D3_CT4
12
CĐề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản GVHD: Th.s Đặng Thị Phương Lan
trùng (20%), số còn lại là thủng tử cung, nhiễm độc Bộ Y tế nhận định
rằng, tai biến xảy ra do kỹ năng lâm sàng không cao, thiết bị dụng cụ cũ kỹ,
nguyên tắc tiệt trùng dụng cụ không đảm bảo việc phải dùng dụng cụ nong
bằng kim loại để nong rộng cổ tử cung; dùng que kim loại để dò hướng
khoang tử cung và đo độ dài khoang tử cung; dùng ống hút bằng kim loại để
hút phôi thai và đế cuống rốn; cuối cùng còn phải dùng nuôi nạo bằng kim
loại để nạo sạch khoang tử cung. Từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc, đều phải
dùng dụng cụ bằng kim loại đưa vào đưa ra, tất nhiên có khả năng làm xước
tử cung, thậm chí tạo thành lỗ rách ở tử cung. Ngoài ra, khi tổ chức đế cuống
rốn nằm ở vách tử cung, bị ống hút phụ áp hút ra khỏi vách tử cung, sẽ để lại
trên bề mặt đó bao nhiêu là mạch máu bị vỡ ra. Nếu như đế cuống rốn không
lấy ra được nhanh, sẽ ảnh hưởng đến sự co bóp của tử cung, do đó có thể
làm cho các mạch máu không liền lại, trong quá trình thủ thuật đó sẽ bị mất
nhiều máu. Vả lại, nếu trước đó, đã có viêm bộ phận sinh dục như viêm âm
đạo, viêm cổ tử cung chưa được chữa khỏi, hoặc trong quá trình thủ thuật
không nghiêm chỉnh thực hiện vô trùng đúng với quy định, thì những dụng
cụ đưa vào đưa ra rất có thể đưa vi khuẩn vào khoang tử cung gây nhiễm
trùng.
Ngoài ra, việc nạo hút thai còn có khả năng để lại di chứng, nhất là đối với
các trường hợp đã qua nạo hút nhiều lần, nguy hại sẽ không nhỏ, có thể xuất
hiện các tình huống sau:
Dính khoang tử cung: Nếu nạo hút quá mức, lớp gốc ở màng trong tử cung
bị tổn thương, mặt màng có thể dính vào nhau sẽ làm ảnh hưởng đến sự vận
hành của tinh trùng và làm cho trứng đã thụ thai khó cắm vào, do đó hậu quả
thường thấy nhất là không thụ thai được, có khi có thai cũng dễ sẩy thai.Còn
sự thay đổi về kinh nguyệt thì do mức độ tổn thương của niêm mạc tử cung.
Nếu tổn thương không nhiều, chỉ có một bộ phận nào đó ở khoang tử cung
bị dính, thường chỉ làm giảm lượng kinh nguyệt hoặc gây ra xuất huyết
không theo một quy tắc nào. Nếu tổn thương nghiêm trọng, mặt dính ở
khoang tử cung rộng, sẽ gây bế kinh lâu dài. Nếu cổ tử cung bị dính, máu
SV thực hiện: Nguyễn Thị Bích Lớp D3_CT4
13
CĐề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản GVHD: Th.s Đặng Thị Phương Lan
hành kinh không ra ngoài được mà chảy ngược vào bụng sẽ gây ra bế kinh
lâu dài và đau bụng có tính chất chu kỳ.
Hiện tượng không thụ thai: Sau khi nạo phá thai, không thụ thai lại được
nữa, ngoài nguyên nhân dính khoang tử cung đã nói trên, còn có khả năng
do ống dẫn trứng bị viêm. Khi thủ thuật bị viêm nhiễm, chứng viêm có thể
từ nội mạc tử cung lan sang ống dẫn trứng, làm cho khoang ống dẫn trứng bị
dính, gây ra tắc; cũng có khả năng do ống limpha và mạch máu ở vách tử
cung khuyếch tán ra tới tổ chức liên kết cạnh tử cung, làm cho xung quanh
ống dẫn trứng viêm, miệng ống dẫn trứng dính vào nhau và kẹt lại.
Dù cho nguyên nhân ống dẫn trứng tắc lại do miệng ống dẫn trứng bịt lại,
đều cản trở tinh trùng và trứng gặp nhau, tất nhiên dẫn đến không còn thụ
thai được.
Sẩy thai hoặc đẻ non: Khi nạo phá thai, nhất là khi nạo, phải dùng đến kìm
để lấy thai ra, nếu miệng cổ tử cung bị dụng cụ nới rộng làm rách, thì sau đó,
hễ có thai là sau 12 tuần sẽ kết thúc bằng sẩy thai. Vì sao lại sẩy thai muộn
mà không sẩy thai sớm? Then chốt của vấn đề là ở chỗ, miệng cổ tử cung
sau khi bị rách sẽ lỏng ra, mất công năng “cơ vòng”, đồng thời không giữ
được trạng thái “đóng khóa” trong điều kiện áp lực cao. Khi có thai, ở thời
kỳ đầu do thai chứa trong tử cung chưa lớn, áp lực trong tử cung thấp thì còn
ứng phó được, nhưng thai dần dần phát triển, nước ối nhiều lên, thai nhi lớn
hơn, áp lực trong khoang tử cung ngày càng tăng, miệng trong cổ tử cung bị
lỏng không chống đỡ được, bọc bào thai trồi vào ống cổ tử cung, làm cho
ống cổ tử cung dần dần trương rộng ra và co ngắn lại, đến mức nào đó, màng
bào thai vỡ ra và không tránh được tình trạng sẩy thai. Vì vậy, thai sẽ không
thể phát triển cho đến lúc đủ tháng.
Đế cuống rốn bị dính hoặc cắm sâu vào: Khi tử cung bị nạo quá sâu hoặc bị
nạo hút nhiều lần, nội mạc tử cung bị tổn thương và teo lại. Đến khi có thai
tiếp sau đó, nội mạc tử cung do đã bị tổn thương và teo lại nên thường không
SV thực hiện: Nguyễn Thị Bích Lớp D3_CT4
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét