Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiệp vụ thanh toán LKB tại KBNN Tỉnh Hà Giang

thu - chi của Nhà nước. Như vậy ta có thể kết luận chức năng của ngân sách
nhà nước theo các nhiệm vụ sau:
- Huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo kế
hoạch nhà nước.
- Thực hiện cân đối giữa các khoản thu - chi ( bằng tiền ) của Nhà
nước.
1.1.4 Cơ chế quản lý NSNN
Trong nền kinh tế thị trường cũng cần phải có những nhận thức mới.
Quản lý ngân sách nhà nước cũng phải đáp ứng được các yêu cầu phát triển
kinh tế xã hội, không tập trung quản lý mà phải có một cơ chế hoàn chỉnh
khuyến khích sự năng động, sáng tạo của các chủ thể sử dụn nguồn vốn ngân
sách nhà nước. Thúc đẩy nhanh quá trình cải cách kinh tế, hạn chế những biến
động trong nền kinh tế thị trường.
Quản lý nhà nước đặt ở tầm vĩ mô nhưng có sự phân công, phân cấp
quản lý trên cơ sở phân cấp quản lý hành chính. Đảm bảo nguyên tắc nguyên
tắc ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn thu có tính
chất Quốc gia và giải quyết các nhu cầu chi trọng điểm trong phạm vi cả
nước. Ngân sách địa phương giữ vai trò quan trọng, có một số khoản thu nhất
định đảm bảo nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền địa phương. Trên
tinh thần vừa khai thác, tạo và nuôi dưỡng nguồn thu cần phải bố trí các
khoản chi hợp lý. Chi tiêu dùng phải trọng tâm chi cho đầu tư con người,
nhằm phục vụ chiến lược con người, bơi con người là một trong những yếu tố
quan trong để phát triển nền kinh tế xã hội. Chi đầu tư xây dựng cơ bản tập
tring chủ yếu vào các công trình trọng điểm, các ngành kinh tế mũi nhọn tạo
ra môi trường kinhtế cho các ngành kinh tế khác. Xoá bỏ từng bước cho mọi
nhu cầu của nền kinh tế, sử dụng có hiệu quả và linh hoạt các công cụ của
ngân sách nhà nước như tăng hoặc giảm thu - chi.
Việc cân đối ngân sách phải dựa trên cơ sở tính năng động của nền kinh
tế mở đảm bảo nguyên tắc số chi phải nhỏ hơn số thu. Xử lý bội chi ngân sách
5
phải bằng biện pháp vay trong nước, nước ngoài, kiên quyết không phát hành
tiền mặt.
Quan hệ giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương phải
được giải quyết cho hợp lý, hài hoà thông qua cơ chế bổ sung từ ngân sách
cấp trên cho ngân sách cấp dưới theo tiêu thức nhất định như: Dân số, điều
kiện tự nhiên, tình hình phát triển Ngoài ra cần nghiên cứu kỹ về tỷ lệ điều
tiết nguồn thu, cơ chế vay đối với các địa phương nghèo.
Đi liền với các vấn đề trên đây cần phải thực hiện triệt để nguyên tắc
tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý và điều hành ngân sách. Xây dựng một cơ
chế phối hợp quản lý ngân sách nhà nước giữa ngành và lãnh thổ, phát huy
sức mạnh tổng hợp của bộ máy quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa
phương, đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính. Một vấn đề rất
phức tạp là ngân sách nhà nước thường gắn với các chủ thể tài chính cho nên
yêu cầu đặt ra phai phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
từng cơ quan trong bộ máy nhà nước. Chấm dứt tình trạng lập báo cáo và bảo
vệ dự toán ngân sách nhà nước qua nhiều cửa. Đặc biệt quan tâm, chú trọng,
bồi dưỡng và nâng cao năng lực cho bộ máy quản lý ngân sách nhà nước cấp
cơ sở.
Cần hiểu rằng khi sử dụng ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ
mô nền kinh tế thì không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà chỉ xuất phát từ
yêu cầu khách quan của các qui luật kinh tế nhất định. Cải cách ngân sách nhà
nước là rất cần thiết nhưng là một vấn đề rất phức tạp.
1.1.5 Vai trò của NSNN
Ngân sách nhà nước là một khâu then chốt trong hệ thống tài chính. Có
vị trí quan trong trong nền kinh tế thị trường. Vai trò của ngân sách nhà nước
được xác định trên cơ sở các chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong tưng
giai đoạn đảm bảo cho Nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và duy
trì quyền lực của nhà nước.
Trong giai đoạn hiện nay ngân sách nhà nước đong vai trò là công cụ
điều hành vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước đóng vai trò chủ thể thường xuyên,
6
chủ thể quyền lực trong quan hệ giữa Nhà nước ngân sách nhà nước. Điều đó
cho thấy Nhà nước tập trung ngân sách, coi ngân sách là công cụ kinh tế quan
trong để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội và thị trường. Ngân sách kích
thích sản xuất, kinh doanh, cạnh tranh hợp pháp, chống độc quyền ( qua các
công cụ về thuế và cho ra đời các Doanh nghiệp nhà nước ).
Ngân sách nhà nước cung cấp nguồn kinh phí để đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng, các ngành kinh tế then chốt, tạo môi trường cho các Doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển Như vậy vai trò của ngân sách nhà
nước trong nền kinh tế thị trường là rất quan trọng. Là trực tiếp hay gián tiếp
nhưng ngân sách nhà nước vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong điều hành kinh tế vĩ
mô nền kinh tế, khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường.
1.2 Các nghiệp vụ chủ yếu của KBNN
1.2.1 Tổng quan về các nghiệp vụ của KBNN
Theo Quyết định số 07/HĐBT ngày 01 tháng 04 năm 1990 của Hội
đồng Bộ trưởng ( Nay là Chính phủ ) về việc thành lập hệ thống KBNN trực
thuộc Bộ Tài chính. KBNN ra đời với các chức năng chủ yếu là:
- Quản lý thu - chi quỹ Ngân sách Nhà nước và tài sản Nhà nước.
- Tổng kế toán Quốc gia.
- Ngân Hàng Chính phủ.
Trên cở sở 3 chức năng chủ yếu như trên, hệ thống KBNN được Chính
Phủ giao cho các quyền hạn và nhiệm vụ cụ thể, có thể khái quát các nhiệm
vụ như sau:
1.2.1.1Nghiệp vụ Thu Ngân sách
Thu ngân sách là một nhiệm vụ rất quan trọng của KBNN. Tập trung
các nguồn thu, thu đúng, thu đủ, chính xác. Đồng thời thực hiện phân bổ và
điều tiết các nguồn thu cho các cấp ngân sách, đảm bảo phân cấp quản lý và
sử dụng NSNN đúng luật.
Thu ngân sách bao gồm:
- Thu trong Ngân sách: Các khoản thu từ thuế, thu phạt, thu từ phát
hành Trái phiếu KBNN
7
- Thu ngoài Ngân sách: Các khoản thu từ vay các quỹ dữ trữ, các quỹ
của các tổ chức tài chính tín dụng khác.
1.2.1.2Nghiệp vụ Chi Ngân sách
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối sử dụng quĩ ngân sách
nhà nước theo nguyên tắc không hoàn trả một cách trực tiếp, nhằm mục đích
thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ cụ
thể.
- Chi thường xuyên, bao gồm các khoản cho:
+ Hoạt động sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, xã hội, thông tin tuyên
truyền, thể dục, thể thao, sự nghiệp khoa học công nghệ và môi trường. Các
hoạt động sự nghiệp Kinh tế, Quốc phòng, An ninh và trật tự an toàn xã hội.
Các hoạt động sự nghiệp khác.
+ Hoạt động của các cơ quan nhà nước.
+ Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt nam.
+ Hoạt động của Uỷ Ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam, Liên đoàn lao động Việt
nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt nam,
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam, Hội Nông dân Việt nam.
+ Trợ giá theo chính sách của nhà nước, các chương trình Quốc gia hỗ trợ quỹ
Bảo hiểm xã hội theo qui định của Chính phủ, trợ cấp cho các đối tượng chính
sách xã hội.
+ Trả lãi tiền do Nhà nước vay.
+ Viện trợ cho các Chính phủ và Tổ chức nước ngoài.
+ Các khoản chi khác theo qui định của Pháp luật.
- Chi đầu tư phát triển:
+ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả
năng thu hồi vốn.
+ Đầu tư hỗ trợ cho các doanh nghiệp Nhà nước góp vốn cổ phần, liên doanh
và các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước
theo qui định của Pháp luật.
8
+ Chi hỗ trợ đầu tư Quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển đối với chương
trình, dự án phát triển kinh tế , dự trữ Nhà nước, cho vay của Chính phủ để
đầu tư và phát triển.
- Chi trả tiền gốc do Nhà nước vay ( Phát hành công trái, Trái phiếu )
- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
1.2.1.3Nghiệp vụ Huy động vốn ( Phát hành Trái phiếu, công trái )
Huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển, là một nhiệm vụ
quan trọng đã được Chính phủ, Bộ Tài chính giao cho hệ thống KBNN.
Nguồn vốn huy động nhằm để bù đắp một phần thiếu hụt NSNN và bổ sung
nguồn vốn cho đầu tư phát triển.
Hình thức huy động vốn chủ yếu là: Phát hành Công trái, Phát hành
Trái phiếu, Tín phiếu .
Việc thực hiện phát hành được triển khai qua nhiều kênh: Phát hành
trực tiếp qua KBNN, đấu thầu qua Trung tâm giao dịch Chứng khoán, Đấu
thầu qua Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, bảo lãnh phát hành.
1.2.1.4Nghiệp vụ Kho quỹ
Đây là một nghiệp vụ mang tính rất đặc thù của các ngành quản lý và
kinh doanh tiền tệ. Kho quỹ của KBNN chủ yếu thực hiện 2 nghiệp vụ là thu
và chi tiền mặt qua quỹ KBNN.
- Các khoản nhập vào quỹ KBNN được thực hiện thông qua các nghiệp
vụ như: Thu Ngân sách, thu từ bán Công trái, trái phiếu, tiếp quỹ từ cấp trên.
- Các khoản xuất quỹ KBNN chủ yếu thực hiện qua các nghiệp vụ chi
ngân sách: Chi thường xuyên, chi uỷ quyền, chi trả gốc, lại các khoản huy
động, Chi tiếp quỹ cấp dưới.
Bên cạnh đó nghiệp vụ kho quỹ còn có nhiệm vụ tiếp nhận và bảo quản
các loại ấn chỉ, giấy tờ có giá, vàng bạc, đá quí
9
1.2.1.5Nghiệp vụ Quản lý, cấp phát các chương trình mục tiêu, thanh toán đầu
tư xây dựng cơ bản
Trong những năm gần đây, do nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ
sản xuất, đời sống của cộng đồng trên khắp mọi miền. Đảng và Nhà nước đã
tập trung nhiều nguồn lực vào đầu tư XDCB, hàng loạt các chương trình cấp
Quốc gia về hỗ trợ các dân tộc thiểu số, các vùng, miền còn gặp nhiều khó
khăn, cơ sở vật chất còn qua nghèo nàn, hệ thống giáo dục, y tế lạc hậu.
Bên cạnh đó là sự sắp xếp và phân cấp lại bộ máy quản lý về Đầu tư
XDCB qua việc giải thể Hệ thống Đầu tư Phát triển nên một bộ phận của Hệ
thống Đầu tư cũ được xát nhập vào hệ thống KBNN hình thành nên nghiệp vụ
Thanh toán vốn đầu tư XDCB.
Các nghiệp vụ chủ yếu là:
- Quản lý và các phát các chương trình mục tiêu của Chính phủ: KBNN
tiếp nhận và phân bổ các nguồn vốn từ NSNN đầu tư cho việc phát triển cơ sở
hạ tầng, hệ thống giáo dục, y tế, nông nghiệp tại các vùng, các xã đặc biệt khó
khăn trên phạm vi Toàn quốc.
- Tiếp nhận các nguồn vốn cho đầu từ XDCB, thực hiện thanh toán cho
các công trình Đầu tư XDCB từ nguồn NSNN trên phạm vi toàn quốc.
1.2.2 Mối quan hệ giữa các nghiệp vụ đối với TTLKB
1.2.2.1Thanh toán Uỷ nhiệm chi giữa các KBNN
Thực hiện chi và phân bổ NSNN ở các cấp, khi có nhu cầu thanh toán
qua uỷ nhiệm chi giữa các KBNN chủ yếu thực hiện thông qua hệ thống
thanh toán LKB. Hình thức có thể thực hiện bằng thư, điện tử. Các giấy uỷ
nhiệm chi từ KBNN A được lập thành các Bảng kê LKB và được chuyển tới
KBNN B để hoàn tất việc thanh toán cho khách hàng.
1.2.2.2Thanh toán Uỷ nhiệm thu giữa các KBNN
Đây cũng là một hình thức nhằm thuận tiện cho việc đóng góp vào
NSNN của các đơn vị, cá nhân thông qua nộp thuế. Cũng tương tự như thanh
toán uỷ nhiệm chi, các uỷ nhiệm thu cũng được lập từ KBNN A được lập
10
thành các bảng kê LKB và được chuyển tới KBNN B để hoàn tất việc thanh
toán cho khách hàng.
1.2.2.3Thanh toán chuyển tiền bán Trái phiếu, Công trái
Thanh toán LKB góp phần rất lớn trong việc tập trung nhanh các khoản
tiền thu được từ phát hành công trái, trái phiếu về KBNN cấp trên.
Các bảng kê chuyển tiền được lập theo qui định của thanh toán LKB từ
KBNN A ( KBNN cấp dưới ) được lập thành các bảng kê LKB và được
chuyển tới KBNN B ( KBNN cấp trên ) để nhanh chóng tổng hợp được tình
hình phát hành trong các đợt và sớm bổ sung cho NSNN.
1.2.2.4Thanh toán chuyển nguồn giữa các quỹ
Thanh toán LKB góp phần chuyển nguồn nhanh cho các KBNN ( Chủ
yếu chuyển từ cấp trên xuống cấp dưới ). Các khoản thanh toán này chủ yếu
là các khoản trợ cấp cân đối ngân sách, chuyển nguồn hoạt động cho các đơn
vị cấp dưới
Hình thức thực hiện cũng theo qui trình lập bảng kê từ KBNN A được
chuyển tới KBNN B.
- Thanh toán chuyển nguồn Đầu tư, các chương trình mục tiêu
Các nguồn vốn cấp phát và thanh toán cho Đầu tư XDCB, các chương
trình mục tiêu được trích từ NSNN, hệ thống KBNN từ Trung ương tới địa
phương thực hiện chuyển các nguồn này cho các đơn vị KBNN trực tiếp
thanh toán, cấp phát.
Hình thức thực hiện cũng được thông qua thanh toán LKB. Các bảng
kê phản ánh nguồn vốn được lập tại KBNN A và chuyển tới KBNN B, nơi
tiếp nhận các nguồn đó.
1.3 Sự cần thiết của CNTT với hoạt động TTLKB
1.3.1 Sự cần thiết của việc thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời do sự đòi hỏi ngày càng cao của
nền kinh tế. Sản xuất hàng hoá phát triển qua nhiều giai đoạn từ thấp tới cao,
nhưng ở giai đoạn nào tiền tệ cũng đóng một vai trò là một công cụ thanh toán
quan trọng, có độ nhạy cảm cao.
11
Tiền tệ được xác định như là một tác nhân kinh tế quan trọng tác động
tới từng mắt xích, hoặc có khi tới cả quá trình kinh tế. Vấn đề đặt ra là sử
dụng công cụ tiền tệ như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao nhất.
Khi nền kinh tế phát triển, nhất là trong giai đoạn nền kinh tế nhiều
thành phần như nước ta hiện nay, các quan hệ kinh tế ngày càng trở nên đa
dạng, phức tạp vì số lượng và khối lượng thanh toán khong ngừng gia tăng.
Nếu chỉ thanh toán bằng tiền mặt sẽ không còn đáp ứng được nhu cầu thanh
toán trong nền kinh tế và ngày càng bộc lộ nhiều nhược điểm:
- Thanh toán bằng tiền mặt làm tăng chi phí in ấn, kiểm đếm, vận chuyển,
bảo quản tiền mặt.
- Thanh toán bằng tiền mặt dễ dẫn đến hiện tượng tham ô, biển thủ công
quĩ.
- Thanh toán bằng tiền mặt làm quá trình thanh toán chậm, dẫn đến tình
trạng đọng vốn, hiệu quả sử dụng vốn giảm làm kìm hãm sự phát triển của
nền kinh tế. Khi không dùng để thanh toán thì đồng tiền nằm im không vận
động, không sinh lời.
- Thanh toán bằng tiền mặt dẫn đến hiện tượng khan hiếm tiền mặt trong
lưu thông. Ngân hàng không quản lý được khối lượng tiền mặt trong lưu
thông, đây chính là một trong những nguyên nhân của lạm phát.
Khi nền kinh tế phát triển đến một giai đoạn nhất định , đòi hỏi phải có
một phương thức thanh toán nhanh chóng, chính xác, thuận tiện hơn mới đáp
ứng được nhu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Như vậy, chính sự
phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá đã cho ra đời một phương thức
thanh toán mới có tính ưu việt hơn, đó là phương thức thanh toán không dùng
tiền mặt.
Thanh toán không dùng tiền mặt là phương thức thanh toán giữa các tổ
chức kinh tế, cá nhân trong xã hội bằng cách trích chuyển vốn tiền tệ từ tài
khoản này sang tài khoản khác hoặc bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung
gian của Ngân hàng hay các tổ chức tài chính khác.
12
Thanh toán không dùng tiền mặt là sự phát triển tất yếu của nghiệp vụ
thanh toán trong nền kinh tế thị trường. Thanh toán không dùng tiền mặt đáp
ứng được yêu cầu của nền kinh tế hiện đại và là một chức năng trọng tâm -
Chức năng trung gian thanh toán cho nền kinh tế.
Ngày nay thanh toán không dùng tiền mặt trở thành một phương thức
thanh toán không thể thiếu đối với nền kinh tế thị trường, nó được mọi tổ
chức kinh tế, cá nhân trong xã hội sử dụng rộng rãi để phục vụ nhu cầu thanh
toán của mình.
1.3.2 Vai trò của việc thanh toán không dùng tiền mặt
Thực hiện tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt sẽ đem lại hiệu quả
thiết thực cho các đối tác tham gia thanh toán và cho nền kinh tế:
- Thanh toán không dùng tiền mặt làm giảm khối lượng tiền mặt trôi nổi
trên thị trường, tiết kiệm được chi phí xã hội gắn với việc in tiền, vận chuyển,
bảo quản, cất trữ, tiêu huỷ tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông Thông qua
thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho ngân hàng quản lý chặt chẽ lượng
tiền mặt trong lưu thông và quản lý tốt hoạt động của nền kinh tế qua chức
năng thanh toán của KBNN và Ngân hàng thương mại.
- Thanh toán không dùng tiền mặt phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá
phát triển. Bất kỳ một chu kỳ sản xuất nào đều bắt đầu từ khâu thanh toán và
kết thúc bằng khâu thanh toán. Do vậy, tổ chức thanh toán nhanh gọn, chính
xác sẽ rút ngắn được chu kỳ sản xuất tăng tốt độ luân chuyển vốn và đảm bảo
an toàn vốn.
Thanh toán nhanh hay chậm, tốt hay xấu ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả
sử dụng vốn, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thanh toán
không dùng tiền mặt diễn ra trôi chảy sẽ giúp lưu thông hàng hoá thông suất,
hoạt động kinh doanh của của từng doanh nghiệp và nền kinh tế sẽ thuận lợi.
- Thanh toán không dùng tiền mặt giúp các ngân hàng, tổ chức tín dụng tập
trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế vào các qui hoạt động kinh tế từ
đó mở rộng cho vay, đầu tư vốn cho các doanh nghiệp, cá nhân thiếu vốn
13
trong nền kinh tế. Góp phần thực hiện việc điều hoà vốn từ nơi thừa sang nơi
thiếu giúp cho nền kinh tế phát triển toàn diện, cân đối.
- Thông qua thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho các đơn vị Quản lý
và kinh doanh tiền tệ có phương thức thanh toán hữu hiệu để cạnh tranh có
hiệu quả nhằm phục vụ tốt hơn mọi nhu cầu về thanh toán của khách hàng
cũng như tăng tính chủ động và vận dụng có hiệu quả một khối lượng tiền lớn
vào các hoạt động kinh tế với hiệu quả mang lại cao hơn.
- Qua việc quản lý biến động về số dư trên tài khoản để thực hiện chức
năng kiểm tra và giám sát tình hình hoạt động, khả năng tài chính của các đơn
vị sử dụng ngân sách, các doanh nghiệp có các hoạt động tín dụng. Đây là cơ
sở rất quan trọng để các cơ quan quản lý và kinh doanh tiền tệ thể hiện tốt hơn
nghiệp vụ tư vấn, giám sát đầu tư có hiệu quả.
1.3.3 Công nghệ thông tin & tác động của nó dến hoạt động thanh toán
Với xu thế phát triển của xã hội hiện nay, nền kinh tế đang ngày càng
vươn tới nhưng đỉnh cao mới, sự liên kết các hoạt động kinh tế đã hoàn toàn
mạng tính toàn cầu. Vì vậy việc giải quyết bài toán về thanh toán là rất cần
thiết đối với các tổ chức tài chính, Ngân hàng, các tổ chức kinh tế sự linh
hoạt, nhanh chóng, chính xác trong thanh toán sẽ góp phần thúc đẩy nhanh
qui trình luân chuyển vốn, mang lại hiệu quả cao cho các hoạt động kinh
doanh, thúc đẩy các qui trình sản xuất
Thế kỷ 20 đã đánh dấu một bước nhảy vọt của ngành Công nghệ thông
tin, sự phát triển của công nghệ thông tin đã mở ra các hướng đi mới cho hầu
hết các ngành, các lĩnh vực trong xã hội. Một ví dụ điển hình là thu ngắn
khoản cách giữa các vùng miền xa xôi bằng công nghệ viễn thông. Nhờ nó
mọi công việc bị cản trở do địa lý đều được khắc phục.
Trong các giao dich kinh tế trước đây hầu hết đều cần có sự tác động
của tiền mặt, hoặc khi đã có sự tin tưởng và có trung gian là các tổ chức tài
chính thì việc đứng ra thanh toán hộ cũng mất rất nhiều thời gian. Như những
đánh giá ở vai trò thanh toán không dùng tiền mặt đã cho thấy vòng luân
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét