Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ tài sản riêng của vợ, chồng

SVTH: Hoàng Thu Minh
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I.Một số vấn đề chung về nghĩa vụ tài sản của vợ chồng 2
1.Sự cần thiết của vai trò nghĩa vụ tài sản của v ợ chồng 2
2.Nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng 2
2.1.Khái niệm 2
2.2.Y nghĩa của quy định này 3
II.Căn cứ xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ, chồng về tài sản 4
1.Nghĩa vụ tài sản chung của vợ, chồng 4
2.Nghĩa vụ tài sản riêng 7
3.Căn cứ xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ chồng về tài sản 7
3. 1.Căn cứ vào mục đích của người thực hiện hành vi làm phát sinh nghĩa vụ
tài sản 8
3.2.Căn cứ vào sự thỏa thuận của vợ, chồng trong việc làm phát sinh nghĩa vụ
tài sản 10
III.NHỮNG BẤT CÂP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH
NGHĨA VỤ CHUNG, NGHĨA VỤ RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG VỀ TÀI SẢN VÀ
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT 11
1.Một số bất cập trong quy định pháp luật 11
2.Hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề này 12
KẾT THÚC VẤN ĐỀ 15
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế, các vấn đề xã hội luôn giành được sự quan
tâm hàng đầu, trong đó có vấn đề về quan hệ hôn nhân và gia đình. Khi nghiên cứu
về quá trình giải quyết một vụ án hôn nhân và gia đình, người ta nhận thấy rằng
vấn đề căn cứ xác định nghia vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng là
Page 1
SVTH: Hoàng Thu Minh
một trong những vấn đề khó khăn, phức tạp và không kém phần quan trọng.
Nghiên cứu về các quy định pháp luật xung quanh vấn đề này không những sẽ cho
chúng ta biết được căn cứ để xác định nghĩa vụ chung riêng về tài sản vợ chồng,
qua đó còn thấy được những bất cập, những thiếu sót mà pháp luật hiện nay vẫn
còn đang thiếu sót,đồng thời đưa ra những kiến nghị, đóng góp nhằm hoàn thiện
hơn nữa pháp luật về vấn đề :”Căn cứ xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về
tài sản vợ, chồng “
NỘI DUNG
I.Một số vấn đề chung về nghĩa vụ tài sản của vợ chồng
1.Sự cần thiết của vai trò nghĩa vụ tài sản của v ợ chồng
Trong điều kiện kinh tế, thị trường , việc duy trì và phát triển đời sống gia đình
đã thúc đẩy vợ, chồng tham gia rộng rãi vào các giao dịch dân sự hoặc kinh tế , từ
đó làm phát sinh nhiều nghĩa vụ về tài sản mà vợ chồng là người có nghĩa vụ như là
tất yếu khách quan.Vì vậy, bên cạnh việc xác định tài sản thuộc quyền sở hữu
không thể không xác định tài sản nợ thuộc nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng .Pháp
luật HN&GĐ của các nước trên thế giới đều quy định nghĩa vụ tài sản của vợ,c
hồng như là một yêu tố cấu thành của chế định tài sản vợ, chồng.Xuất phát từ thực
tế trên ,Luật HN & GĐ năm 2000 bên cạnh việc xác định tài sản của vợ, chồng
cũng quy định về nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng
2.Nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng
2.1.Khái niệm
Theo điều 285 Bộ Luật dân sự ,Nghĩa vụ tài sản vợ chồng có thể hiểu từ khái
niệm nghĩa vụ theo nghĩa rộng và hẹp
Page 2
SVTH: Hoàng Thu Minh
Theo nghĩa rộng , nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng là việc mà theo quy định của
pháp luật thì một bên hoặc cả hai bên vợ chồng (người có nghĩa vụ) phải làm công
việc hoặc không được làm công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể
khác(người có quyền)
Theo nghĩa hẹp , nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng là việc vợ, chồng hoặc cả hai vợ,
chồng là người có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho việc làm (hành vi ) cụ thể của
mình
Trên thực tế , vợ chồng vừa là chủ thể của quan hệ Hôn nhân và gia đình vừa là
chủ thể của các quan hệ pháp luật dân sự khác , họ có thể xác lập các quyền về tài
sản và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản bằng tài sản của mình
2.2.Y nghĩa của quy định này
Thứ nhất Chế định nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng giúp “thực tế hóa “quyền sở
hữu của vợ, chồng
Quyền sở hữu và nghĩa vụ tài sản là hai chế định có quan hệ chặt chẽ với
nhau.Qui định về quyền sở hữu thuộc trạng thái “tĩnh “của quan hệ tài sản giữa vợ
và chồng bao gồm phạm vi, nguồn gốc tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất và tài
sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng cũng như quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng
đối với những tài sản đó .Trong khi đó , chế định nghĩa vụ tài sản thuộc trạng thái
“động “, chế định này giải quyết các vấn đề tài sản trong gia đình được sử dụng,
quản lí, định đoạt như thế nào ?Vì mục đích gì?Trong trường hợp phát sinh nghĩa
vụ về tài sản thì nghĩa vụ nào là nghĩa vụ chung , nghĩa vụ nào thuộc nghĩa vụ riêng
của một bên vợ, chồng ?Tài sản nào đảm bảo cho việc thực hiện các nghĩa vụ tài
sản phát sinh ?Quy định trạng thái” động “ của quan hệ tài sản giữa vợ và chồng .
Có thể thấy rằng, chế định nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng giúp vợ, chồng thực
hiện quyền sở hữu của mình trong các quan hệ tài sản cụ thể
Page 3
SVTH: Hoàng Thu Minh
Thứ hai Chế định nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng còn tạo cơ sở pháp lí để vợ,
chồng chủ động tham gia vào cả các giao dịch dân sự và kinh tế , bảo đảm thỏa mãn
nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình cũng như của cá
nhân vợ, chồng.Bên cạnh đó, nó còn phân định rõ trách nhiệm của các bên vọ,
chồng trong quản lí, sử dụng , định đoạt tài sản.Qua đó giúp”minh bạch hóa” các
giao dịch dân sự mà một bên chủ thể là vợ, chồng , tạo căn cứ pháp lí trong giải
quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ, chồng , giúp người có quyền xác
định được nghĩa vụ mà vợ, chồng phải thực hiện được bảo đảm bằng tài sản chung
hay tài sản riêng , tức là bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người có quyền khi vợ,
chồng là người có nghĩa vụ , lợi ích của cộng đồng và của xã hội vì thế cũng được
đảm bảo
Thứ ba ,Chế đinh nghĩa vụ tài sản giữa vợ, chồng tạo cơ sở pháp lí trong giải
quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản vợ chồng
Chế định này giúp người có quyền xác định được nghĩa vụ mà vợ, chồng phải
thực hiện được đảm bảo bằng tài sản chung hay bằng tài sản riêng của một bên vợ
hoặc chồng .Tức là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền khi vợ,
chồng là người có nghĩa vụ
II.Căn cứ xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ, chồng về tài sản
1.Nghĩa vụ tài sản chung của vợ, chồng
Nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng( nợ chung) có thể được hiểu là nghĩa vụ phát
sinh khi một bên hoặc cả hai bên vợ, chồng thực hiện hành vi vì lợi ích gia đình
hoặc nghĩa vụ phát sinh theo thỏa thuận vợ, chồng
Theo quy định tại Điều 29 và khoản 3 điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 , vợ,
chồng có thể thỏa thuận về việc thanh toán các khoản nợ chung, nếu không thỏa
thuận được có thể yêu cầu tòa án giải quyết
Page 4
SVTH: Hoàng Thu Minh
Dựa trên lợi ích của gia đình và sự thỏa thuận của vợ, chồng được coi là nợ
chung đối với các khoản nợ phát sinh khi vợ, chồng thực hiện các giao dịch để đảm
bảo các nhu cầu của gia đình , bao gồm :
-Nợ phát sinh có liên quan đến việc duy trì và phát triển đời sống tinh thần và vật
chất của gia đình như nội trợ , chăm sóc sức khỏe , cung cấp những vật dụng thiết
yếu của đời sống gia đình
-Nợ phát sinh trong quá trình quản lí, sử dụng , định đoạt tài sản chung.Nghĩa vụ
chung này không bao gồm nợ phát sinh khi một bên vi phạm khoản 3 điều 28 Luật
HN&GĐ năm 2000 khi tự mình tiến hành giao dịch dân sự liên quan đến tài sản
chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình , việc dùng tài sản
chung để đầu tư kinh doanh mà không có sự thỏa thuận với vợ, chồng mình và cũng
không vì nhu cầu chung của gia đình
-Nợ phát sinh trong việc chăm sóc , nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ con chung
của hai vợ, chồng và giữa con riêng với cha dượng mẹ kế trong trường hợp họ
sống chung với nhau theo quy định tại điều 38 Luật HN&GĐ năm 2000
Cũng coi là nợ chung đối với các khoản nợ phát sinh trong quá trình tạo lập ,
quản lí , sử dụng và định đoạt tài sản chung, bao gồm:
-Nợ phát sinh khi vợ, chồng tạo ra tài sản cho gia đình
-Nợ phát sinh do một bên vợ, chồng lao động để tạo thu nhập hoặc tiến hành hoạt
động sản xuất , kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân (không bao gồm nợ phát sinh sau
khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân)
-Nợ phát sinh khi một bên vợ, chồng tiến hành khai thác hoa lợi, hoa tức từ tài sản
riêng của mình trong thời kỳ hôn nhân mà vợ, chồng không có thỏa thuận những
hoa lợi, lợi tức đó thuộc tài sản riêng
Có quan điểm cho rằng , những khoản nợ phát sinh trong hoạt động nghề nghiệp
và trong khai thác hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của một bên vợ, chồng mang tính
Page 5
SVTH: Hoàng Thu Minh
chất cá nhân .Do đó không thể xác định là nợ chung của vợ, chồng mà là nợ riêng
của người làm phát sinh khoản nợ đó .Về vấn đề này Điều 27 Luật HN&GĐ năm
2000 đã khẳng định :”Tài sản do vợ, chồng tạo ra , những thu nhập do lao động ,
hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác bao gồm cả hoa
lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của một bên vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân
là tài sản chung của vợ, chồng , như vậy thì điều đó không còn mang tính chất cá
nhân mà đã vì lợi ích chung của gia đình .Mặt khác khoản 5 Điều 33 Luật HN&GĐ
năm 2000 cũng quy định “trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã đưa
vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất
của cả gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của vợ
chồng”
Quy định này đã gắn kết trách nhiệm của gia đình đối với các khoản nợ phát sinh
trong quá trình khai thác hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của một bên , nên cần phải
xác định là nợ chung , có như vậy mới đảm bảo được lợi ích chính đáng của người
có tài sản riêng khuyến khích được họ tạo ra nhiều của cải, vật chất hơn nữa cho
gia đình đồng thời tăng cướng sự gắn bó trong quan hệ gia đình và để gia đình thực
sự là chỗ dựa vững chắc cho các thành viên của mình trong cuộc sống và nghề
nghiệp.
Ngoài ra nợ chung của vợ, chồng còn có thể là nợ phát sinh theo thỏa thuận của
vợ, chồng hoặc xuất phát từ trách nhiệm liên đới trong việc làm phát sinh các nghĩa
vụ tài sản, bao gồm các khoản nợ phát sinh có liên quan đến những công việc do
hai vợ, chồng cùng tiến hành , bao gồm cả các khoản nợ phát sinh trước khi kết hôn
; những khoản nợ phát sinh do một bên thực hiện công việc không vì lợi ích của gia
đình nhưng được bên kia đồng y sử dụng tài sản chung để thực hiện
Page 6
SVTH: Hoàng Thu Minh
2.Nghĩa vụ tài sản riêng
Nghĩa vụ tài sản riêng của vợ , chồng (nợ riêng) có thể được hiểu là các nghĩa vụ
phát sinh do hành vi không vì lợi ích gia đình (mang tính chất cá nhân hoặc hành
vi trái pháp luật ) của một bên vợ, chồng thực hiện trước khi kết hôn hoặc trong
thời kỳ hôn nhân
Dựa trên nguyên tắc loại trừ thì tài sản riêng phải được sử dụng để thực hiện các
khoản nợ không thuộc nhóm nghĩa vụ tài sản chung của vợ, chồng , cụ thể:
-Các khoản nợ không vì nhu cầu chung của gia đình phát sinh trước khi kết hôn
-Nợ phát sinh trong quá trình quản lí, sử dụng , định đoạt tài sản riêng, trừ trường
hợp nợ phát sinh khi một bên vợ, chồng tiến hành khai thác hoa lợi, lợi tức từ tài sản
riêng trong thời kỳ hôn nhân mà vợ , chồng không có thỏa thuận hoa lợi, lợi tức đó
là tài sản riêng của mỗi người
-Nợ phát sinh khi thực hiện một nghía vụ tài sản gắn liên với nhân thân của một
bên vợ, chồng như chi phí cho con riêng(trừ trường hợp được quy định tại Điều 38
Luật HN&GĐ) hoặc chi phí cho người mà vợ, chồng là người giám hộ của họ theo
quy định của pháp luật dân sự và pháp luật HN&GĐ, hoặc thực hiện các nghĩa vụ
được quy định tại các chương V và VI cuảt Luật HN&GĐ năm 2000
-Nợ phát sinh trên cơ sở vợ chồng vi phạm khoản 3 Điều 28 Luật HN&GĐ năm
2000 khi tự mình tiến hành giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc
là nguồn sống duy nhất của gia đình mà không có sự thỏa thuận của bên kia và cũng
không vì nhu cầu chung của gia đình
-Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi trái pháp luật của vợ,
chồng
3.Căn cứ xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ chồng về tài sản
Theo luật hôn nhân gia đình năm 2000 , tài sản của vợ chồng được phân định
thành tài sản chung hợp nhất và tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.Việc phân
Page 7
SVTH: Hoàng Thu Minh
định hai hình thức sở hữu tài sản trong gia đình tất yếu cũng làm phát sinh các
nghĩa vụ tài sản được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung hoặc tài sản riêng của
một bên vợ hoặc chồng
Thực tế cho thấy rằng , việc phân định nghĩa vụ tài sản riêng và nghĩa vụ tài sản
chung giữa vợ và chồng còn có nhiều quan điểm và y kiến khác nhau
Có quan điểm cho rằng :Các nghĩa vụ tài sản phát sinh từ tài sản thuộc hình thức
sở hữu nào thì được bảo đảm thực hiện bằng tài sản đó.Tuy nhiên, có thể thấy rằng
nếu quan niệm như vậy sẽ có mâu thuẫn với tính chất cộng đồng của hôn nhân,
trong đó ,trong đó đặc điểm nổi bật là trong gia đình thường có sự trộn lẫn về tài
sản và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng
Lại có quan điểm cho rằng việc phân định nghĩa vụ tài sản chung hay tài sản
riêng cần lấy yếu tố lỗi làm căn cứ cơ bản để xác định.Tuy nhiên quan điểm này
chỉ có y nghĩa trong việc xác định có hay không có trên thực tế nghĩa vụ tài sản của
vợ chồng còn nghĩa vụ tài sản đó là nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng của một bên
, ngoài yếu tố lỗi còn được phân định bằng những căn cứ khác .Xuất phát từ nội
dung chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000, có thể đưa ra những căn cứ sau:
3. 1. Căn cứ vào mục đích của người thực hiện hành vi làm phát sinh nghĩa vụ tài
sản
Theo điều 25 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định :”Vợ hoặc chồng
phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai
người thực hiện nhằm đáp ứng như cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình”
Như vậy, hành vi làm phát sinh nghĩa vụ tài sản được thực hiện trên cơ sở vì lợi
ích chung của gia đình hay lợi ích cá nhân của người thực hiện hành vi sẽ là căn cứ
để xác định nghĩa vụ tài sản là nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng của một bên vợ
hoặc chồng .
Page 8
SVTH: Hoàng Thu Minh
Theo điều luật thì những giao dịch hợp pháp do một trong hai bên vợ chồng thực
hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình thì đó là nghĩa vụ
chung của vợ và chồng, cả hai phải liên đới chịu trách nhiệm với giao dịch đó
Tuy nhiên sự liên đới trong trường hợp này lệ thuộc vào một số điều kiện như:
-Giao dịch phải hợp pháp :hợp pháp ở đây có nghĩa là không vi phạm điều cấm
của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội
-Giao dịch phải nhằm đáp ứng nhu cầu sinh họa thiết yếu của gia đình
Quy định này nhằm quy kết trách nhiệm (nghĩa vụ) chung của hai vợ, chồng đối
với các giao dịch dân sự hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện vì nhu cầu
thiết yếu của gia đình (nghĩa là tài sản chung của vợ chồng được bảo đảm cho các
giao dịch hợp pháp dù chỉ có một bên vợ(chồng) thực hiện vì lợi ích gia đình) đồng
thời cũng khẳng định quyền tự chủ của vợ, chồng trong việc thực hiện các giao
dịch dân sự nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu hằng ngày của gia đình.Đây cũng là
một trong những quy định mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, khi dự
liệu về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung)
Khẳng định này xuất phát từ tính chất cộng đồng của hôn nhân .Tính chất này
đã kiến tạo để vợ ,chồng thực hiện nghĩa vụ :”Vợ, chồng chung thủy thương yêu,
quy trọng , chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau ,cùng nhau xây dựng gia đình no ấm , bình
đẳng, tiến bộ ,hạnh phúc, bền vững”(Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000)
Trách nhiệm có tính đặc trưng này đã quy định đặc điểm cơ bản trong phương
pháp điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình là các chủ thể thực hiện quyền của
mình vì lợi ích của gia đình.Quyền sở hữu của vợ chồng cũng được nhà làm luật
Việt nam xây dựng trên cơ sở lợi ích gia đình .Và như vậy, đề phù hợp với đặc
điểm của quyền sở hữu trong Luật hôn nhân và gia đình , việc phân định nghĩa vụ
tài sản giữa vợ và chồng cũng cần lấy lợi ích từ gia đình là căn cứ xác định với
Page 9
SVTH: Hoàng Thu Minh
nguyên tắc hành vi do vợ hoặc chồng tiến hành vì lợi ích chung của gia đình thì tài
sản chung cũng phải được sử dụng để bảo đảm cho hành vi đó
Một điều cần lưu y ở đây đó là “lợi ích gia đình “ phải luôn được đặt trong lợi ích
của cộng đồng và xã hội .Điều đó có nghĩa là hành vi của vợ, chồng được xác định
vì lợi ích chung của gia đình , trước hết hành vi đó phải được thực hiện phù hợp với
pháp luật và đạo đức xã hội .Khi nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hành vi trái pháp luật
hoặc trái với đạo đức xã hội thì nghĩa vụ phát sinh được thực hiện bằng tài sản
chung hay tài sản riêng của một bên phải căn cứ vào yếu tố lỗi của người thực hiện
hành vi đó
3.2.Căn cứ vào sự thỏa thuận của vợ, chồng trong việc làm phát sinh nghĩa vụ tài
sản
Trong cuộc sống chung của gia đình .hành vi mang lợi ích cá nhân hoặc hành vi
trái pháp luật có thể được thực hiện bởi một bên vợ hoặc chồng .Trên thực tế có
những hành vi cá nhân như chồng hoặc vợ đầu tư kinh doanh riêng , thực hiện
nghĩa vụ dân sự riêng thì họ có thể thỏa thuận chia tài sản chung (Khoản 1 Điều 29
Luật HN&GĐ 2000) thì khi phát sinh nghĩa vụ về tài sản , đó là nghĩa vụ riêng do
một bên vợ hoặc chồng thực hiện.Hoặc khi một trong hai bên thực hiện những hạnh
vi trái pháp luật , xâm phạm đến lợi ích hợp pháp khác được pháp luật bảo vệ thì
đương nhiên nghĩa vụ về tài sản đó là nghĩa vụ t riêng,tuy nhiên hành vi đó cũng có
thể được thực hiện với sự thỏa thuận của (chồng(vợ) của người thực hiện hành vi
do xuất phát từ tình cảm vợ chồng, sự ổn đinh của gia đình mà đã tự nguyện chịu
trách nhiệm chung đối với nghĩa vụ tài sản đã phát sinh .Vì vậy, việc phân định
nghĩa vụ tài sản phát sinh trên cơ sở hành vi không vì lợi ích chung của gia đình
cần dựa trên nguyên tắc khi người thực hiện hành vi mang lợi ích cá nhân hoặc
hành vi trái pháp luật , người đó sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình ,
Page 10
SVTH: Hoàng Thu Minh
ngoại trừ trường hợp vợ (chồng) của họ thỏa thuận cùng thực hiện hoặc sử dụng tài
sản chung để bảo đảm thưc hiện nghĩa vụ
III.NHỮNG BẤT CÂP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH
NGHĨA VỤ CHUNG, NGHĨA VỤ RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG VỀ TÀI
SẢN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
1.Một số bất cập trong quy định pháp luật
Các văn bản pháp luật quy định về vấn đề này vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể như
sau:
Thứ nhất Theo các quy định tại Điều 25 , khoản 2 Điều 28 và khoản 3 điều 95
của Luật HN&GĐ năm 2000 , nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng chưa được
quy định cụ thể
Theo khoản 2 Điêu 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. tài sản chung của
vợ, chồng phải được đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ, chồng (Tài sản
chung của vợ, chồng chỉ được dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình và thực hiện
các nghĩa vụ chung của vợ- chồng nhà làm luật còn gọi là thành phần tiêu sản của
khối cộng đồng tài sản chung của vợ, chồng).Vấn đề đặt ra là cần xác định những
nghĩa vụ nào là nghĩa vụ chung của vợ chồng thì khối tài sản chung của vợ, chồng
mới phải “gánh chịu”(bảo đảm) cho các nghĩa vụ chung đó .Cho đến nay , các văn
bản quy định , hướng dẫn áp dụng luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn
“bỏ qua” vấn đề này
- Thứ hai, theo luật hiện hành, khi vợ, chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa
vụ tài sản đó được thực hiện bằng tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng
không sử dụng cho việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thoả
thuận (Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000). Vấn đề đặt ra là, rất có thể người có
nghĩa vụ tài sản không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ
Page 11
SVTH: Hoàng Thu Minh
và vợ chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn
tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản.
Trong trường hợp này, nếu không thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền
(chủ nợ) về chia tài sản chung của vợ chồng để lấy phần tài sản của người có nghĩa
vụ thanh toán nợ, thì quyền lợi của họ được đảm bảo như thế nào? Đây là một điểm
cần được xem xét lại để đảm bảo quyền lợi cho những người có quyền và lợi ích
liên quan .
Thứ ba, về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch dân sự hợp pháp
do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yêu của gia
đình (Điều 25);Tuy nhiên cần phải xác định, vợ, chồng vay nợ có nhằm mục đích
đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hay không và”nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình
“bao gồm những gì thì hiện nay Luật và những văn bản hướng dẫn áp dung của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa quy định và hướng dẫn cụ thể về vấn đề này
2.Hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
Các quy định về nghĩa vụ tài sản vợ chồng trong Luật hôn nhân gia đình năm
2000 về cơ bản đã đáp ứng được các yêu cầu của thực tế khách quan , tuy nhiên để
các quy định này thực sự đi vào thực tiễn đời sống xã hội, các cơ quan chức năng
cần có các văn bản quy định hoặc hướng dẫn cụ thể một số vấn đề sau
Pháp luật cần có các quy định cụ thể hơn về chế định nghĩa vụ tài sản vợ, chồng
Hiện nay, tại điều 25, các khoản 2 Điều 28, khoản 3 điều 33 , khoản 2 điều 95 của
Luật hôn nhân và gia đình đã có các quy định liên quan đến nghĩa vụ tài sản vợ,
chồng .Tuy nhiên , các quy định này mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc xác định trách
nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện (Điều 25),
hoặc nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng(khoản 2 Điều 28,
khoản 3 điều 33 , khoản 3 điều 95) mà chưa quy định cụ thể căn cứ xác định nghĩa
vụ tài sản chung và nghĩa vụ tài sản riêng .Để bảo vệ các quyền và lợi ích chính
đáng của vợ, chồng , của các chủ nợ , đồng thời tạo thêm căn cứ pháp lí khi xét xử
Page 12
SVTH: Hoàng Thu Minh
các tranh chấp liên quan , Luật cần dự liệu cụ thể về tài sản chung của vợ chồng
được bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng, bao gồm:
- Các khoản nợ phát sinh nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình;
- Các khoản nợ liên quan đến việc tạo lập, quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản
chung của vợ chồng;
- Các khoản nợ liên quan đến tài sản riêng của vợ, chồng đã được đưa vào sử
dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia
đình;
- Các khoản nợ phát sinh có liên quan đến công việc mà cả hai vợ chồng cùng
thực hiện;
- Các khoản nợ theo thỏa thuận của hai vợ chồng
Về nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi bên vợ, chồng được thanh toán từ tài sản
riêng của người có nghĩa vụ (khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000). Quy định này còn sơ sài chưa đầy đủ, chưa có căn cứ cụ thể để xác định loại
nghĩa vụ tài sản này. Luật cần dự liệu nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng bao
gồm các nghĩa vụ sau:
- Trả các khoản nợ mà vợ, chồng đã vay của người khác từ trước khi kết hôn
mà không vì nhu cầu đời sống chung của gia đình;
- Trả các khoản nợ mà vợ, chồng đã vay của người khác trong thời kỳ hôn
nhân sử dụng vào mục đích riêng, không đáp ứng các nhu cầu thiết yếu và lợi ích
chung của gia đình;
- Trả các khoản nợ phát sinh trong quá trình quản lý, sử dụng, định đoạt tài
sản riêng.
- Bồi thường thiệt hại khi vợ, chồng là người quản lý di sản thừa kế mà đã có
hành vi thực hiện các giao dịch nhằm tẩu tán, phá tán hoặc làm hư hỏng, mất mát di
sản (khoản 3 Điều 12 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP);
- Các khoản nợ phát sinh khi thực hiện nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân
thân vợ, chồng như các khoản chi phí cho con riêng của mình; các chi phí cho người
Page 13
SVTH: Hoàng Thu Minh
mà vợ, chồng là người giám hộ của người đó theo quy định của pháp luật dân sự và
Luật Hôn nhân và gia đình;
- Cấp dưỡng mà vợ, chồng phải thực hiện liên đới đối với các thành viên
trong gia đình theo quy định tại Chương V và Chương VII của Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000;
- Bồi thường khoản tiền cấp dưỡng mà vợ, chồng là người được giao quản lý
nhưng đã làm tiêu tán hoặc sử dụng không đúng mục đích;
- Phải trả các khoản nợ phát sinh dựa trên cơ sở vợ, chồng đã có hành vi tự
mình tiến hành các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của
vợ chồng là nguồn sống duy nhất của gia đình (vi phạm khoản 3 Điều 28 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000);
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi trái pháp luật của vợ,
chồng.
Về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một
trong hai người thực hiện nhằm đáp ưng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình
(Điều 25), Luật cần dự liệu “nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình “bao gồm các
nhu cầu về ăn, ở , mặc, học hành , khám chữa bệnh và các chi phí thông thườngcần
thiết khác để đảm bảo của các cuộc sống thành viên gia đình
“Nhu cầu của gia đình”phải được hiểu là sự tồn tại và phát triển của gia đình ;
tài sản chung phải được dùng vào việc “nuôi sống gia đình”, đáp ứng những nhu
cầu sinh hoạt thiết yếu hằng ngày của gia đình, thỏa mãn những nhu cầu vật chất và
tinh thần , nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau, giáo dưỡng các con …(theo khả năng từ tài
sản chung của vợ chồng).Trên cơ sở đó mà “quy kết” trách nhiệm, nghĩa vụ của vợ
chồng trong việc tạo lập tài sản chung và đóng góp “phí tổn” về nhu cầu đời sống
chung của gia đình
Page 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét