Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Địa vị pháp lý của doanh nghiệp theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

CH s 11 - B1 - H KTQD Chuyờn Photocopy - ỏnh mỏy - In Lun vn, Tiu lun

: 6.280.688
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chơng I
Lý luận chung về doanh nghiệp liên doanh theo
luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam
I. Khái niệm về doanh nghiệp liên doanh theo luật đầu t n-
ớc ngoài tại Việt Nam.
1. Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp liên doanh.
Sau khi thống nhất đất nớc, Đảng và Nhà nớc ta đã đa ra nhiều chính sách để
phát triển nền kinh tế của đất nớc. Tuy nhiên do nền kinh tế của đất nớc trong giai
đoạn này là nền kinh tế thời hậu chiến, nói chung là suy sụp, yếu kém. Chính sách
của Nhà nớc ta là tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả ba lĩnh vực kinh tế,
chính trị, t tởng. Nhà nớc vận hành theo cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp và can
thiệp sâu vào các hoạt động kinh tế đã kìm hãm sự phát triển khách quan của nó.
Trong khi đó Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú,
nguồn nhân lực dồi dào nhng lại thiếu vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, kể cả đội
ngũ cán bộ công nhân lành nghề để khai thác có hiệu quả tiềm năng của đất nớc.
Chính vì vậy, để phát triển nền kinh tế của đất nớc với cơ sở kinh tế nh vậy
thì đi đôi với việc thu hút các nguồn vốn trong nớc, cần phải thu hút các nguồn vốn
và kỹ thuật từ bên ngoài để góp phần khôi phục và phát triển nền kinh tế của đất nớc
là một việc làm rất cần thiết và cấp bách. Vì vậy, ngày 18 - 4 - 1977 Hội đồng
Chính phủ ta đã ra Nghị định số 115 - CP ban hành: Điều lệ về đầu t của nớc ngoài
ở nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với việc ban hành điều lệ này, Việt
Nam đã tỏ rõ thái độ của mình cho phép đầu t nớc ngoài ở Việt Nam, sẵn sàng tham
gia quan hệ hợp tác quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế với các nớc trên thế giới.
Điều 5 Nghị định 115 - CP quy định : Bên nớc ngoài có thể đầu t ở Việt Nam
theo các hình thức sau đây:
1. Hợp tác sản xuất chia sản phẩm;
2. Xí nghiệp hoặc Công ty hỗn hợp;
3. Xí nghiệp t doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu.
Quy định trên đây là tiền đề đầu tiên cho sự ra đời của các hình thức đầu t đợc
quy định trong Luật Đầu t nớc ngoài. Tuy nhiên, trên thực tế bản thân Điều lệ về đầu
t nớc ngoài năm 1977 chỉ là một văn bản dới luật nên giá trị pháp lý của nó cha cao,
đã làm cho các nhà đầu t nớc ngoài thiếu tin tởng khi tiến hành đầu t tại Việt Nam.
Họ không tin tởng vào tính bền vững của Điều lệ này vì đây là một khung pháp lý
5
CH s 11 - B1 - H KTQD Chuyờn Photocopy - ỏnh mỏy - In Lun vn, Tiu lun

: 6.280.688
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thiếu chặt chẽ, không đầy đủ. Hơn thế nữa, những vấn đề mà các nhà đầu t nớc
ngoài quan tâm nh thời hạn đầu t thì ngắn, chỉ từ 10 - 15 năm; phạm vi đầu t thì
không quy định cụ thể, gây khó khăn cho các nhà đầu t trong việc tìm kiếm lĩnh vực
đầu t; về phần vốn góp của Bên nớc ngoài ít nhất phải bằng 30% và nhiều nhất
không quá 49% tổng số vốn là một vấn đề rất phi thực tế. Không những thế, nếu do
yêu cầu của nền kinh tế quốc dân, phải quốc hữu hoá xí nghiệp thì phần vốn này có
thể bị quốc hữu hoá. Đây là những vấn đề mà các nhà đầu t nớc ngoài đặc biệt quan
tâm, việc quy định nh vậy làm cho các nhà đầu t nớc ngoài không thể yên tâm bỏ
vốn đầu t vào Việt Nam. Những vấn đề khác thì điều lệ cũng cha quy định cụ thể, rõ
ràng nh trờng hợp u đãi về thuế, miễn giảm thuế; tỷ giá hối đoái; chuyển lợi nhuận;
quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu t nớc ngoài khi tham gia vào quản lý, điều hành
xí nghiệp.
Do vậy trong suốt 10 năm khi Nhà nớc ta ban hành Điều lệ về đầu t nớc
ngoài, kèm theo nghị định của Hội đồng Chính phủ số 115 - CP ngày 18 - 4 -1977
đến năm 1987 không có một dự án đầu t trực tiếp nào đợc thực hiện tại Việt Nam.
Ngoài những hạn chế của Điều lệ không đáp ứng đợc yêu cầu của các nhà đầu t nớc
ngoài còn do những điều kiện trong nớc và quốc tế nh đất nớc có những khó khăn về
kinh tế - xã hội lại bị bao vây, cấm vận từ bên ngoài.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI ( năm1986) đã đề ra đờng lối đổi mới, với
chính sách đổi mới t duy nói chung và t duy kinh tế nói riêng. Đờng lối đổi mới
kinh tế với nội dung là xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chế
thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Chính sách về
đầu t nớc ngoài cũng đứng trớc đòi hỏi phải thay đổi, phải thể hiện đợc t duy kinh tế
mới và góp phần vào việc mở rộng và đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đôí ngoại.
Do vậy ngày 29 - 12 - 1987 Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa VIII, tại kỳ họp thứ II đã thông qua Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam
Có thể nói, sự ra đời của Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam năm 1987 xuất
phát từ những yêu cầu khách quan của sự vận động xã hôị, đã tạo ra đợc một khung
pháp lý khá hoàn chỉnh, hấp dẫn và nhìn chung là phù hợp với tập quán quốc tế.
Đây là một bớc tiến đáng kể của Việt Nam trong việc kêu gọi đầu t nớc ngoài, là cơ
sở pháp lý vững chắc cho các nhà đầu t nớc ngoài có thể yên tâm khi tiến hành đầu
t tại Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 4 Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam năm 1987: Các tổ
chức, cá nhân nớc ngoài đợc đầu t vào Việt Nam dới các hình thức sau đây:
1. Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh;
2. Xí nghiệp hoặc Công ty liên doanh, gọi chung là xí nghiệp liên doanh;
3. Xí nghiệp 100% vốn nớc ngoài.
Nh vậy, hình thức Xí nghiệp hoặc Công ty hỗn hợp theo quy định tại Nghị
định 115 - 4 - 1977 đã đợc Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam năm1987 cụ thể hoá
6
CH s 11 - B1 - H KTQD Chuyờn Photocopy - ỏnh mỏy - In Lun vn, Tiu lun

: 6.280.688
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thành hình thức đầu t Xí nghiệp hoặc Công ty liên doanh, gọi chung là xí nghiệp
liên doanh. Xí nghiệp liên doanh có t cách pháp nhân, theo pháp luật Việt Nam. Do
vậy, xí nghiệp liên doanh hoạt động theo nguyên tắc hạch toán độc lập, phù hợp với
hợp đồng liên doanh, Điều lệ của xí nghiệp và quy định trong Giấy phép đầu t.
Qua thực tiễn áp dụng, do tình hình quốc tế trên thế giới có nhiều thay đổi,
cho nên để phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế và thực tiễn tình hình kinh tế -
xã hội của đất nớc, Luật đầu t nớc ngoài năm 1987 đã đợc sửa đổi bổ sung lần thứ
nhất vào ngày 30 - 6 - 1990 và sửa đổi bổ sung lần thứ 2 vào ngày 3 - 12 - 1992.
Tuy nhiên đứng trớc bối cảnh đất nớc và quốc tế có nhiều thay đổi. Đất nớc
bớc vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiên đại hoá, hội nhập vào nền kinh
tế của khu vực và trên thế giới. Để thực hiện chơng trình công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nớc từ nay đến năm 2000, việc tiếp tục thu hút nguồn vốn bằng con đờng
đầu t trực tiếp nớc ngoài đứng trớc thách thức mới nh vấn đề khả năng gia tăng vốn
nớc ngoài. Bởi vì những năm gần đây, cuộc cạnh tranh thu hút vốn đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài ngày càng trở nên gay gắt hơn. Các nớc kêu gọi đầu t trong khu vực và trên
thế giới đã tiến hành những cải cách theo hớng thông thoáng hơn.
Chính vì vậy, ngày 12 - 11 - 1996 Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam khoá
IX, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam năm 1996<gọi
tắt là Luật đầu t> thay thế Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam năm 1987 và hai Luật
sửa đổi bổ sung vào năm 1990 và 1992. Việc ban hành Luật đầu t nớc ngoài năm
1996 là nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, khuyến khích mạnh mẽ và phát huy vai
trò của việc thu hút nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài với số lợng và chất lợng cao
hơn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, đổi mới công nghệ,
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nớc, góp phần thúc đẩy tiến trình hội
nhập kinh tế của nớc ta với các nớc trong khu vực và trên thế giới.
Điều 4 Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam năm 1996 quy định: Các nhà đầu
t nớc ngoài đầu t vào Việt Nam dới các hình thức sau đây:
1. Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh;
2. Doanh nghiệp liên doanh;
3. Doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài.
Nh vậy, Luật đầu t vẫn quy định những hình thức cơ bản nh: Hợp đồng hợp
tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc
ngoài. Tuy nhiên, Luật đầu t còn quy định các phơng thức tổ chức đầu t nh đầu t vào
khu chế xuất, khu công nghiệp, đầu t theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh
doanh - chuyển giao < viết tắt tên tiếng Anh là BOT >, hợp đồng xây dựng - chuyển
giao - kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao < BT >.
2. Khái niệm doanh nghiệp liên doanh.
Theo quy định tại Điều 2 khoản 7 Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam năm
1996: Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác
7
CH s 11 - B1 - H KTQD Chuyờn Photocopy - ỏnh mỏy - In Lun vn, Tiu lun

: 6.280.688
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính
phủ nớc CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nớc ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh
nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu t nớc ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Quy định đó đã đợc cụ thể hoá trong điều 12, Nghị định số 12 - CP của
Chính phủ ngày 18 - 2 - 1997 quy định chi tiết thi hành Luật đầu t nớc ngoài tại Việt
Nam:
1. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp đợc thành lập tại Việt Nam trên
cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa Bên hoặc các Bên Việt Nam với Bên hoặc các
Bên nớc ngoài để đầu t, kinh doanh tại Việt Nam.
2. Doanh nghiệp liên doanh mới là doanh nghiệp đợc thành lập giữa doanh
nghiệp liên doanh đã đợc phép hoạt động tại Việt Nam với nhà đầu t nớc ngoài hoặc
với doanh nghiệp Việt Nam hoặc với doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100%
vốn nớc ngoài đã đợc phép hoạt động tại Việt Nam.
Trong trờng hợp đặc biệt, doanh nghiệp liên doanh có thể đợc thành lập trên
cơ sở hiệp định ký kết giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam với Chính phủ nớc
ngoài.
Theo Điều 4 luật đầu t năm 1996 thì các nhà đầu t nớc ngoài vào Việt Nam
dới các hình thức sau đây:
1.Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh;
2. Doanh nghiệp liên doanh;
3. Doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài.
So với doanh nghiệp liên doanh, hình thức đầu t dới dạng hợp tác kinh doanh
trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài
có những đặc điểm sau:
a. Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh. Đây là
một hình thức đầu t mà: Hai Bên hoặc nhiều Bên đợc hợp tác kinh doanh trên cơ sở
hợp đồng hợp tác kinh doanh nh hợp tác sản xuất phân chi lợi nhuận, phân chia sản
phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác.
Đối tợng, nội dung, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm
của mỗi bên, quan hệ giữa các bên do các Bên thoả thuận và ghi trong hợp đồng hợp
tác kinh doanh. < Điều 5, Luật đầu t >.
Theo quy định tại điều 7 Nghị định 12 - CP: Hợp đồng hợp tác kinh doanh
là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên < sau đây gọi các bên hợp doanh>
quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu
t kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân.
8
CH s 11 - B1 - H KTQD Chuyờn Photocopy - ỏnh mỏy - In Lun vn, Tiu lun

: 6.280.688
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Đặc trng của hình thức đầu t này là, các bên hợp doanh tuỳ ý thoả thuận
quyền và nghĩa vụ liên quan trong hoạt động kinh doanh chung: từ góp vốn, quản lý
kinh doanh, đại diện cho các bên trớc Toà án và cơ quan Nhà nớc Việt Nam; trách
nhiệm của các bên đối với nhau; phân chia tiêu thụ sản phẩm, lợi nhuận và rủi ro
đến kết thúc hợp đồng đều do các bên thoả thuận trong khuôn khổ pháp luật và đợc
ghi trong hợp đồng. Các bên hợp tác kinh doanh mà không cần thành lập một doanh
nghiệp mới có t cách pháp nhân nh trong trờng hợp hợp tác kinh doanh thông qua
doanh nghiệp liên doanh. Tài sản đa vào kinh doanh chung sẽ là sở hữu chung theo
phần vì nó khác với tài sản của doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân.
Nh vậy, theo quy định của pháp luật về đầu t nớc ngoài thì chế độ pháp lý của
loại hình hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp tác kinh doanh đợc thể hiện qua các
điểm cơ bản sau:
+ Nội dung của hợp đồng hợp tác kinh doanh do các bên hợp doanh thoả
thuận trên cơ sở tuân theo những nội dung chủ yếu đợc quy định tại điều 8 Nghị
định 12 - CP.
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bên hợp
doanh ký và nó chỉ có hiệu lực pháp lý sau khi đợc cơ quan cấp Giấy phép đầu t chấp
thuận thông qua việc cấp Giấy phép đầu t trên cơ sở đề nghị của các bên hợp doanh.
+ Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh
do các bên thoả thuận và phải đợc ghi trong hợp đồng hợp tác kinh doanh.
+ Ngoài thực hiện các nghĩa vụ ghi trong hợp đồng, các bên hợp doanh đều
phải thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nớc Việt Nam. Bên nớc ngoài thực hiện các
nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo Luật đầu t nớc ngoài tại Việt
Nam; Bên Việt Nam thực hiện các nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ tài chính khác theo các
quy định của pháp luật áp dụng đối với doanh nghiệp trong nớc.
b. Doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài: Hình thức doanh nghiệp 100%
vốn nớc ngoài và doanh nghiệp liên doanh đều là hình thức Doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài, nhng chúng cũng có đặc điểm riêng.
Điều 2 khoản 8 Luật đầu t quy định: Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài là
doanh nghiệp do nhà đầu t nớc ngoài đầu t 100% vốn tại Việt Nam.
Nh vậy, doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài là một đơn vị kinh doanh do
cá nhân hoặc tổ chức nớc ngoài thành lập nhằm mục đích kinh doanh theo pháp luật
Việt Nam mà không có sự góp vốn tham gia của bất kỳ Bên Việt Nam nào. Do vậy,
doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu
t nớc ngoài, do nhà đầu t nớc ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu
trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài đợc thành lập tại Việt Nam dới hình thức
Công ty trách nhiệm hữu hạn, có t cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam và chịu
9
CH s 11 - B1 - H KTQD Chuyờn Photocopy - ỏnh mỏy - In Lun vn, Tiu lun

: 6.280.688
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn bảo đảm
cho các nhà đầu t nớc ngoài yên tâm bỏ vốn đầu t tại Việt Nam.
Cơ sở pháp lý để doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài đợc thành lập tại Việt
Nam là khi đợc cơ quan cấp Giấy phép đầu t cấp Giấy phép đầu t và điều lệ của
doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài đợc cơ quan cấp Giấy phép đầu t chuẩn y.
II. Đặc điểm của doanh nghiệp liên doanh.
Đầu t dới hình thức doanh nghiệp liên doanh là một hình thức đầu t mà các
bên tham gia doanh nghiệp cùng bỏ vốn thành lập tại Việt Nam, cùng quản lý nhằm
mục đích kinh doanh chung trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký kết
giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam với Chính phủ nớc ngoài. Doanh nghiệp liên
doanh là một pháp nhân dới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn theo pháp luật
Việt Nam. Pháp nhân mới này là chủ thể thực hiện các hoạt động kinh doanh tại
Việt Nam, hoạt động độc lập với các bên liên doanh. Với tính chất là hình thức đầu
t có từ hai chủ thể trở lên và một trong các chủ thể đó phải là Bên Việt Nam và Bên
nớc ngoài. Do vậy doanh nghiệp liên doanh có những đặc điểm sau:
1. Doanh nghiệp liên doanh đợc thành lập tại Việt Nam nhng có yếu tố n-
ớc ngoài. Yếu tố này thể hiện:
a. Về chủ thể: Đây là hình thức doanh nghiệp liên doanh nên luôn phải có
hai loại chủ thể là Bên Việt Nam và Bên nớc ngoài. Bên Việt Nam là một bên gồm
một hoặc nhiều doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế. Bên nớc ngoài
là một bên gồm một hoặc nhiều nhà đầu t nớc ngoài. Nhà đầu t nớc ngoài là tổ chức
kinh tế hoặc cá nhân nớc ngoài, trực tiếp đa vốn đầu t vào Việt Nam.
b. Về vốn: Trong cơ cấu vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh phải có
hai loại vốn góp vào doanh nghiệp là vốn của Bên Việt Nam và vốn của Bên nớc
ngoài. Tuy nhiên phần vốn góp của Bên nớc ngoài hoặc các Bên nớc ngoài vào vốn
pháp định của doanh nghiệp liên doanh thì không bị hạn chế về mức cao nhất theo
sự thoả thuận của các bên nhng không dới 30% vốn pháp định, trừ những trờng hợp
do Chính phủ quy định. < Điều 8 luật đầu t >.
2. Doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân Việt Nam.
Tuy là doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài nhng doanh nghiệp liên doanh là
một pháp nhân Việt Nam và thuộc đối tợng điều chỉnh của Luật Đầu t nớc ngoài tại
Việt Nam. Thông qua việc liên doanh các bên thành lập ra một pháp nhân mới và
ràng buộc nhau bởi sự tồn tại và hoạt động của pháp nhân mới này. Khi doanh
nghiệp liên doanh đợc thành lập, nó hoạt động độc lập với các bên liên doanh và tự
chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình.
10
CH s 11 - B1 - H KTQD Chuyờn Photocopy - ỏnh mỏy - In Lun vn, Tiu lun

: 6.280.688
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Theo quy định của pháp luật Việt Nam (Điều 94 Bộ Luật Dân sự) một pháp
nhân đợc thành lập theo pháp luật Việt Nam thì đợc công nhận một cách đơng nhiên
là pháp nhân Việt Nam, không phụ thuộc vào địa bàn hoạt động cuả nó ở đâu. Là
một pháp nhân Việt Nam, doanh nghiệp liên doanh phải đáp ứng đủ các điều kiện
sau:
+ Đợc thành lập một cách hợp pháp. Việc thành lập doanh nghiệp liên doanh
phải theo một thủ tục do pháp luật quy định. Doanh nghiệp liên doanh đợc thành lập
và có t cách pháp nhân kể từ khi đợc cơ quan cấp Giấy phép đầu t cấp Giấy phép đầu
t.
+ Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ.
+ Có tài sản riêng, tự chịu trách nhiệm bằng chính tài sản đó. Tài sản của
doanh nghiệp liên doanh do các Bên tham gia doanh nghiệp đóng góp. Trong hoạt
động kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh độc lập chịu trách nhiệm bằng chính tài
sản của doanh nghiệp.
+ Có thể nhân danh doanh nghiệp liên doanh tham gia vào các quan hệ pháp
luật trong đó có quan hệ tố tụng trớc cơ quan toà án với t cách là nguyên đơn hoặc
bị đơn.
3. Doanh nghiệp liên doanh đợc thành lập dới hình thức Công ty trách
nhiệm hữu hạn theo pháp luật Việt Nam.
Là doanh nghiệp đợc tổ chức và hoạt động dới dạng Công ty trách nhiệm hữu
hạn có nghĩa là doanh nghiệp liên doanh chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi phần vốn nó đầu t. Mỗi bên liên doanh chỉ
chịu trách nhiệm đối với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi phần
vốn góp của mình vào vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh.
Nh vậy, doanh nghiệp liên doanh cũng là một Công ty trách nhiệm hữu hạn
theo Luật Công ty của Việt Nam, song do có yếu tố nớc ngoài nên địa vị pháp lý của
nó có những đặc điểm riêng biệt so với các công ty trách nhiệm hữu hạn thuần tuý
trong nớc. Nói một cách khác, các quy định về doanh nghiệp liên doanh là Luật
riêng, theo Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam.
Việc quy định của pháp luật Việt Nam nh vậy đã tạo cho các nhà đầu t nớc
ngoài yên tâm đầu t vào Việt Nam, khi mà hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
gặp thua lỗ. Bản thân các nhà đầu t cũng u tiên chọn loại hình Công ty trách nhiệm
hữu hạn do hình thức này có nhiều điểm hấp dẫn nhất là trách nhiệm hữu hạn của
nhà đầu t trong phạm vi phần vốn mà nó đầu t.
4. Là doanh nghiệp liên doanh nên nó mang tính chất mở.
- Doanh nghiệp liên doanh là do các bên tham gia góp vốn để thành lập nên
doanh nghiệp liên doanh. Do vậy trong doanh nghiệp liên doanh có sự tham gia
11
CH s 11 - B1 - H KTQD Chuyờn Photocopy - ỏnh mỏy - In Lun vn, Tiu lun

: 6.280.688
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
quản lý của nớc chủ nhà, bên đối tác Việt Nam trong doanh nghiệp liên doanh có
quyền tham gia vào quản lý doanh nghiệp liên doanh và có quyền ra quyết định theo
tỷ lệ góp vốn vào vốn pháp định tức là quyền lực của bên đối tác nớc ngoài bị chia
sẻ cho bên đối tác Việt Nam trong doanh nghiệp liên doanh.
- Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp nhiều chủ, doanh nghiệp liên
doanh có thể đợc thành lập từ hai Bên hoặc nhiều Bên. Doanh nghiệp liên doanh đợc
thành lập dới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn do vậy mỗi bên chịu trách
nhiệm đối với quyền và nghĩa vụ của mình trong doanh nghiệp liên doanh theo tỷ lệ
góp vốn vào doanh nghiệp liên doanh là trách nhiệm hữu hạn. Khác với doanh
nghiệp một chủ (doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài) là do nhà đầu t nớc ngoài sở
hữu, quản lý và điều hành doanh nghiệp. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp
nhiều chủ, Bên Việt Nam là bên nớc chủ nhà theo pháp luật có quyền tham gia vào
doanh nghiệp liên doanh.
- Thông qua liên doanh nớc chủ nhà có thể học hỏi đợc các kinh nghiệm quản
lý, tiếp thu đợc trình độ khoa học, công nghệ trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Việc tiếp thu đợc các công nghệ tiên tiến so với trình độ của mình đã tạo điều kiện
cho nớc sở tại mở những bớc đột phá sâu vào các ngành nghề sản xuất kinh doanh
còn mới mẻ nh: chế tạo lắp ráp mặt hàng điện tử, ô tô; công nghệ hoá chất Từ đó
có thể vơn tới tự chủ để xây dựng các doanh nghiệp mới của Việt Nam và tạo ra các
ngành mới có sức cạnh tranh trên thị trờng góp phần chủ động xây dựng đất nớc.
Ngoài ra còn học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nớc ngoài do các cán bộ
công nhân viên của nớc chủ nhà trong doanh nghiệp liên doanh, có cơ hội tiếp xúc
với một phong cách quản lý tiên tiến của nớc ngoài. Qua đó từng bớc học tập đợc
các hình thức quản lý và khả năng thích nghi với cạnh tranh , đặc biệt là kỹ năng
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà đầu t nớc ngoài trong doanh
nghiệp liên doanh.
Qua phân tích ở trên cho thấy doanh nghiệp liên doanh luôn hoàn toàn đối lập
với doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài. Đối với doanh nghiệp 100% vốn nớc
ngoài và doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nớc ngoài do tổ
chức, cá nhân nớc ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về
kết quả kinh doanh. Do vậy có thể thấy doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài là doanh
nghiệp mang tính chất khép kín. Nớc chủ nhà không có cơ hội để tiếp cận, học hỏi
những kinh nghiệm của nhà đầu t nớc ngoài. Do vậy lợi ích của nớc chủ nhà đối với
doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài chỉ là thông qua các nghĩa vụ mà doanh nghiệp
100% vốn đầu t ở Việt Nam phải có nghĩa vụ đóng góp nh nghĩa vụ về tài chính đối
với Nhà nớc Việt Nam, cụ thể là thông qua thu thuế
12
CH s 11 - B1 - H KTQD Chuyờn Photocopy - ỏnh mỏy - In Lun vn, Tiu lun

: 6.280.688
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
III - Vị trí, vai trò của doanh nghiệp liên doanh
Một vị trí không kém phần quan trọng, Doanh nghiệp liên doanh là một pháp
nhân Việt Nam hoạt động dới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn theo pháp luật
Việt Nam, doanh nghiệp liên doanh có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo pháp luật
Việt Nam, bình đẳng với các doanh nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tế của
Việt Nam.
Các doanh nghiệp liên doanh đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế Việt
Nam nói chung và đầu t nớc ngoài nói riêng. Thực tế qua quá trình thực hiện Luật
đầu t nớc ngoài tại Việt Nam cho thấy, với số lợng và tỷ lệ tăng trởng hàng năm của
các doanh nghiệp liên doanh, hình thức này thờng chiếm gần 2/3 tổng số dự án đầu
t trực tiếp của nớc ngoài. Do vậy, có thể nói các doanh nghiệp liên doanh đã chiếm
một vị trí quan trọng trong đầu t nớc ngoài nói riêng và trong nền kinh tế Việt Nam
nói chung .
Theo quy định của pháp luật về đầu t trực tiếp nớc ngoài thì doanh nghiệp
liên doanh đợc triển khai thực hiện đầu t tại Việt Nam trong các lĩnh vực của nền
kinh tế quốc dân (Điều 3 Luật đầu t). Do vậy mà các doanh nghiệp liên doanh đã đ-
ợc thành lập và hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tác động
tích cực đến cân đối chung của nền kinh tế.
Doanh nghiệp liên doanh đã góp phần thu hút nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc
ngoài, bổ sung nguồn vốn quan trọng cho tăng trởng kinh tế. Đối với những nớc nh
Việt Nam, trong những năm bắt đầu công cuộc đổi mới do tích luỹ từ nội Bộ nền
kinh tế còn thấp, rất thiếu vốn thì hình thức doanh nghiệp liên doanh là hình thức
thu hút nguồn vốn đầu t có hiệu quả.
Doanh nghiệp liên doanh đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền
kinh tế. Hình thức liên doanh là con đờng đã thực hiện việc chuyển giao công nghệ
vào Việt Nam. Thông qua hình thức liên doanh đã có nhiều công nghệ mới đợc nhập
vào nớc ta nh: thiết kế, chế tạo máy biến thế; dây chuyền tự động lắp ráp hàng điện
tử Nh vậy có thể nói việc du nhập công nghệ từ nớc ngoài vào thông qua việc
thành lập doanh nghiệp liên doanh không những giúp nớc ta đổi mới công nghệ, gia
tăng năng lực sản xuất và năng suất lao động mà còn giúp tạo ra các ngành mới, ảnh
hởng tích cực đến nền kinh tế.
13
CH s 11 - B1 - H KTQD Chuyờn Photocopy - ỏnh mỏy - In Lun vn, Tiu lun

: 6.280.688
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thông qua hợp tác đầu t và hoạt động của các doanh nghiệp liên doanh, Việt
Nam đã tiếp thu đợc kinh nghiệm và phơng pháp quản lý tiên tiến của nớc ngoài. Có
thể nói doanh nghiệp liên doanh là môi trờng để chúng ta học tập kinh nghiệm quản
lý từ đối tác nớc ngoài, đào tạo kiến thức quản lý cho đội ngũ cán bộ , nhân viên của
Việt Nam. Ngoài ra liên doanh còn là nơi để đội ngũ công nhân đợc đào tạo nâng
cao tay nghề, có kỹ thuật cao, rèn luyện đợc tác phong lao động công nghiệp, có ý
thức tổ chức, kỷ luật lao động
Doanh nghiệp liên doanh cũng đã góp phần vào việc khai thác có hiệu quả
các nguồn lực của đất nớc. Do không đủ khả năng về vốn, công nghệ để khai thác có
hiệu quả nguồn lực của đất nớc thì hình thức doanh nghiệp liên doanh đợc thành lập
để khai thác lợi thế về tự nhiên này. Ngoài ra còn góp phần vào việc giải quyết việc
làm cho ngời lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực.
Nhìn chung, thực tiễn trong 10 năm qua đã cho thấy doanh nghiệp liên doanh
nói riêng và đầu t nớc ngoài nói chung có một vai trò quan trọng, đã góp phần vào
việc giải quyết những mục tiêu kinh tế - xã hội, vào thắng lợi của đờng lối đổi mới,
đa đất nớc thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, củng cố và tạo chỗ đứng vững chắc cho
Việt Nam trong khu vực và trên thị trờng thế giới.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét