Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh Habubank Vạn Phúc

Chương 1.Những vấn đề chung về tín dụng và tín
dụng ngắn hạn trong ngân hàng thương mại
1. Ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng
1.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng thương mại
Tín dụng là hoạt động cơ bản nhất của ngân hàng thương mại tồn
tại qua các hình thức xã hội khác nhau, do đó, tùy theo những cách tiếp
cận khác nhau mà người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về tín
dụng.
Tín dụng ngân hàng là hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với
các chủ thể trong nền kinh tế. Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng, hoạt động
tín dụng của ngân hàng có thể bao gồm cả hoạt động ngân hàng với tư
cách người được cấp tín dụng và với tư cách người cấp tín dụng. Tuy
nhiên do tầm quan trọng của nó mà người ta thường nói về ngân hàng với
tư cách là người cấp tín dụng.
Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi
vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng
trong một thời hạn nhất định theo sự thỏa thuận của 2 bên, đồng thời bên
đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi vay cho bên
vay khi đến hạn thanh toán.
Như vậy có thể hiểu tín dụng với bản chất là một giao dịch về tài
sản trên cơ sở hoàn trả với những đặc trưng sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng có thể là tiền, động sản
hoặc bất động sản.
- Thời hạn hoàn trả phải được xác định một cách có cơ sở để đảm
bảo rằng bên đi vay sẽ hoàn trả tài sản cho bên cho vay đúng thời hạn đã
thỏa thuận.
5
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, tức
là bên đi vay phải trả lãi cho bên cho vay.
- Quan hệ tín dụng được chi phối bằng các lệnh phiếu như hợp
đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, Để thực thi trách nhiệm giữa các bên.
1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Với chức năng là trung gian tài chính đứng giữa người gửi tiền và
người đi vay, ngân hàng đã biến mọi nguồn tiền tệ phân tán trong xã hội
thành nguồn vốn tập trung, qua đó điều hoà quan hệ cung - cầu về tiền tệ
trong xã hội, thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng. Nguồn vốn nhàn rỗi
mà ngân hàng huy động bao gồm:
+ Vốn tạm thời nhàn rỗi của tổ chức kinh tế.
+ Vốn tạm thời nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư.
Thông qua công tác tín dụng, ngân hàng đã đáp ứng được hầu hết
các nhu cầu về vốn của các thành phần kinh tế trong xã hội, giúp cho quá
trình sản xuất được liên tục, đẩy mạnh quá trình tái sản xuất. Đồng thời
tập trung và phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hòa vốn trong nền
kinh tế quốc dân từ nơi thừa sang nơi thiếu. Ngoài ra khi sử dụng vốn vay
của ngân hàng, doanh nghiệp bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả vốn
gốc cộng lãi trong thời gian nhất định được ghi trong hợp đồng tín dụng.
Do đó, buộc các doanh nghiệp phải hết sức nổ lực, tận dụng tối đa khả
năng của mình để sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn vốn tín dụng
bằng cách động viên vật tư hàng hoá, thúc đẩy quá trình ứng dụng khoa
học kỹ thuật để đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội đem lại lợi nhuận
cho chính doanh nghiệp và đảm bảo nghĩa vụ với ngân hàng.
6
Đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đẩy mạnh đầu tư phát triển
Thực tế cho thấy bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động và
sản xuất kinh doanh cũng phải cần có một lượng vốn nhất định, trong
trường hợp muốn mở rộng sản xuất kinh doanh thì cần phải có một lượng
vốn lớn hơn. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt, đòi hỏi doanh nghiệp luôn luôn phải đổi mới và mở
rộng sản xuất. Vậy doanh nghiệp có thể lấy vốn ở đâu? Và tín dụng ngân
hàng là nguồn vốn cơ bản hình thành nên vốn cố định và vốn lưu động
của doanh nghiệp.
Cùng với việc mở rộng thông thương với nhiều nước trên thế giới,
nhu cầu về vốn ngày càng cao, các thành phần kinh tế đang rất cần vốn để
đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh phù hợp với sự phát
triển của xã hội, do đó ngân hàng là nơi tin cậy có thể đáp ứng nhu cầu về
vốn ngày càng lớn của các doanh nghiệp
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Thông qua việc đầu tư vốn để hiện đại hoá máy móc thiết bị, đổi
mới công nghệ của các doanh nghiệp hay qua đầu tư tín dụng vào các
ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, tín dụng ngân hàng đã góp phần
làm giảm giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.
1.3. Phân loại tín dụng ngân hàng
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế với xu hướng tự do hoá, các
ngân hàng thương mại hiện nay luôn luôn nghiên cứu và đưa ra các hình
thức tín dụng khác nhau, để có thể đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu vốn
cho quá trình sản xuất và tái sản xuất, từ đó đa dạng hoá các danh mục
7
đầu tư, mở rộng tín dụng, thu hút khách hàng, tăng lợi nhuận và phân tán
rủi ro. Tùy vào cách tiếp cận mà người ta chia tín dụng ngân hàng thành
nhiều loại khác nhau.
1.3.1. Phân loại tín dụng dựa vào mục đích cho vay
Căn cứ vào mục đích cho vay, tín dụng được phân thành những
loại sau:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm
và xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai, nhà xưởng, các bất động sản
khác trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để
bổ sung vốn lưu động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: là loại hình cho vay để trang trải các chi
phí sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng,
thức ăn gia súc, nhiên liệu, lao động,
- Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cho vay các ngân hàng,
các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ
tín dụng, và các định chế tài chính khác.
- Cho vay cá nhân: cấp tín dụng cho cá nhân có nhu cầu vay vốn
nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng hoặc trang trải các chi phí thông
thường của đời sống thông qua việc phát hành thẻ tín dụng.
- Cho thuê tài chính: bao gồm cho thuê vận hành và thuê tài chính.
Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản, trong đó chủ yếu là
máy móc thiết bị.
1.3.2. Phân loại tín dụng dựa trên thời hạn cho vay
Căn cứ vào thời hạn cho vay, tín dụng được phân thành những loại
sau:
8
- Cho vay ngắn hạn: loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và
được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp
và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân.
- Cho vay trung hạn: theo quy định hiện nay của nhnn Việt Nam,
loại cho vay này có thời hạn trên 12 tháng đến 05 năm.
Cho vay trung hạn chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố
định, đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng
các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông
nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn chủ yếu là để đầu tư vào máy cày, máy
bơm nước, xây dựng vườn công nghiệp,
Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, vay trung hạn còn là nguồn
hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là
những doanh nghiệp mới thành lập.
- Cho vay dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn vay trên 5 năm
và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm, một số trường hợp cá biệt có
thể lên đến 40 năm.
Cho vay dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để tài trợ các nhu
cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy
mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
1.3.3. Phân loại tín dụng dựa trên mức độ tín nhiệm đối với
khách hàng
Căn cứ trên mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, tín dụng ngân
hàng được phân thành những loại sau:
- Cho vay không đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố, hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ
dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Hình thức cho vay này chỉ áp
dụng cho các khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng
tài chính lành mạnh,
9
- Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay có tài sản đảm bảo nợ vay
thông qua các hợp đồng thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh. Tài sản đảm bảo
nợ vay có thể là tài sản đã có chủ quyền hợp pháp hình thành trước khi có
giao dịch tín dụng hoặc có thể hình thành từ vốn vay.
1.3.4. Phân loại tín dụng dựa trên phương pháp hoàn trả
Căn cứ vào phương pháp hoàn trả, tín dụng được phân thành những
loại sau:
∗ Cho vay có thời hạn:
- Tín dụng phi trả góp: là các khoản cho vay trong đó vốn
gốc và lãi được hoàn trả một lần khi đến hạn.
- Cho vay trả góp: là khoản vay trong đó nợ gốc và lãi được
hoàn trả nhiều lần trong một thời hạn vay gọi là kỳ hạn nợ
được xác định một cách cụ thể trong hợp đồng tín dụng.
∗ Cho vay không thời hạn: cho vay tuần hoàn là các khoản vay
trong đó nợ gốc và lãi được trả một cách tuần hoàn trong thời
hạn vay.
1.3.5. Phân loại tín dụng dựa trên xuất xứ của tín dụng
- Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu
cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
Sơ đồ cho vay trực tiếp:
10
- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua
việc mua lại các khế ước hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong
thời hạn thanh toán. Các ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo
các loại sau:
+ Chiết khấu thương mại
+ Mua các phiếu bán hàng
+ Nghiệp vụ thanh tín (factoring)
Sơ đồ cho vay gián tiếp:
Cấp tín dụng gián tiếp thông qua mua phiếu bán hàng:
(1) : DN thương mại bán chịu hàng hóa cho người mua
(2) : DN thương mại chuyển nhượng phiếu bán hàng trả góp
cho nh để được tài trợ vốn.
(3) : người mua thanh toán cho ngân hàng theo định kỳ.
11
Cho vay gián tiếp thông qua nghiệp vụ factoring:
(1): khách hàng bán các khoản phải thu (khoản phải thu theo
hóa đơn cho người mua nợ.
(2): người mua nợ thanh toán cho khách hàng (số tiền thanh
toán = mệnh giá hóa đơn – lãi và hoa hồng – phần dự phòng để
lại).
(3): khi đến hạn, con nợ thanh toán cho người mua nợ.
1.3.6. Phân loại tín dụng dựa vào hình thái cấp tín dụng
Căn cứ vào hình thái cấp tín dụng, tín dụng được chia thành những
loại sau:
- Tín dụng bằng tiền: là việc ngân hàng cho khách hàng sử dụng
tiền trong một thời hạn thỏa thuận.
- Tín dụng bằng tài sản: là việc ngân hàng cho khách hàng thuê tài
sản đế sử dụng.
- Tín dụng chữ ký: ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng bằng uy
tín của minh thông qua hình thức bảo lãnh. Đối với nghiệp vụ này, ngân
hàng không phải cung cấp tín dụng bằng tiền, nhưng khi người được bảo
lãnh không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng thì ngân hàng phải
thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho người được bảo lãnh.
12
1.4. Quy trình tín dụng
1.4.1. Khái niệm
Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân
hàng trong việc cấp tín dụng, nó thường được thể hiện tổng quát trong
chính sách tín dụng nhưng luôn được cụ thể hóa bằng các quy định riêng.
Quy trình tín dụng bao gồm nhiều giai đoạn mang tính chất liên
hoàn, theo một trật tự nhất định, đồng thời có quan hệ gắn bó chặt chẽ với
nhau. Quy trình tín dụng là một quá trình từ lúc lập hồ sơ vay đến khi thu
hồi hết nợ.
1.4.2. Các bước của quy trình tín dụng
1.4.2.1. Thu thập thông tin
a) Lập hồ sơ yêu cầu cấp tín dụng
Giai đoạn này chủ yếu do bên đi vay vốn thực hiện. Đây là mặt thủ
tục chuẩn bị cơ sở pháp lý cho một hợp đồng tín dụng, tuy nhiên đây
cũng là giai đoạn rất quan trọng vì thông qua đó, ngân hàng có thể nắm
được các thông tin về người vay: số tiền vay, số lần giải ngân, phương
thức thanh toán Nếu ngân hàng nắm được đầy đủ những thông tin này
thì sẽ giúp cho công việc ở những giai đoạn sau được đơn giản hơn.
Việc lập hồ sơ yêu cầu cấp tín dụng phụ thuộc vào:
- Loại khách hàng
- Loại và kỹ thuật cấp tín dụng
- Quy mô nhu cầu tín dụng
Chính vì thế, hồ sơ tín dụng được các ngân hàng quy định rất cụ
thể và chi tiết cho từng đối tượng khách hàng. Hồ sơ thường bao
gồm:
- Giấy yêu cầu vay vốn.
13
- Phương án sản xuất kinh doanh của bên đi vay, kế hoạch sử
dụng vốn vay, kế hoạch trả nợ vay cho ngân hàng.
- Những tài liệu chứng minh năng lực pháp lý của bên đi vay.
- Những tài liệu về tình hình tài chính của bên đi vay.
- Những giấy tờ liên quan đến đảm bảo tín dụng hoặc điều kiện
cấp tín dụng đặc thù.
- Các tài liệu khác có liên quan đến phương án vay vốn.
b) Thu thập thông tin
Sau khi nhận được hồ sơ xin cấp tín dụng, để có cơ sở phân tích tín
dụng, ngân hàng phải tiến hành điều tra tín dụng, thu thập thông tin liên
quan đến bên đi vay.
Phỏng vấn người xin vay
Xem xét hồ sơ lưu trữ ở ngân hàng
Thu thập thông tin từ các nguồn bên ngoài
Điều tra nơi sản xuất kinh doanh của bên đi vay
Thông qua các báo cáo tài chính của khách hàng
Như vậy, thông qua những bước tiếp cận trên, ngân hàng phải thu
thập được từ khách hàng những thông tin sau:
- Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách
hàng.
- Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng.
- Thông tin về đảm bảo tín dụng.
1.4.2.2. Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của
khách hàng về sử dụng vốn tín dụng, khả năng hoàn trả và khả năng thu
hồi vốn vay cả gốc và lãi.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét