I. So sánh khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu chè
của Việt Nam với Srilanca, ấn Độ, Trung Quốc.
Năm
Tên nớc
Ước tính
năm 2000
Số lợng sơ bộ
năm 1999
1998 1997
Sản lợng
(tấn)
%
Sản lợng
(tấn)
%
Sản lợng
(tấn)
%
Sản lợng
(tấn)
%
ấn Độ
835.000 44,9 805.612 44,5 870.405 4,8 816.613 46,6
Srilanca 302.000 16,2 284.190 15,7 280.056 15,4 277.428 15,8
Trung Quốc 676.115 36,3 675.871 37,4 620.000 34,1 613.366 3,5
Việt Nam 48.000 2,6 42.500 2,4 46.000 2,5 45.000 2,6
Tổng số 1.861.115 100 1.808.173 100 1.816.461 100 1.752.407 100
Nguồn: Tổng công ty chè Việt Nam
Nhìn vào bảng ta thấy ấn Độ chiếm phần lớn (gần 50%) tiếp theo là Trung
Quốc, Srilanca cuối cùng là Việt Nam (2,5%). Nhìn chung sản lợng qua các năm ở
từng nớc biến đổi không nhiều, tuy nhiên qua việc xét từng nớc dới đây ta sẽ thấy
đợc những nét riêng biệt trong việc sản xuất và xuất khẩu chè ở những nớc khác
nhau là không giống nhau.
1. Srilanca
Ngành chè Srilanca không chỉ thành công trong việc nâng cao mức sản lợng,
thị trờng xuất khẩu mà giá chè của Srilanca lại có giá cao trong trung tâm đấu giá
Colombo. Sản lợng năm 2000 đạt 302.000 tấn tăng 17.810 tấn so với năm 1999 và
21.944 tấn so với năm 1998. Trong khi hầu hết các nớc trồng chè có mức sản lợng
dao động thì Srilanca lại có mức sản lợng tăng trong 8 năm liên tiếp (từ 1992-200).
Nguyên nhân chính là do thời tiết thuận lợi cộng với những cải tiến mới trong
nông nghiệp.
Doanh thu xuất khẩu trong 11 tháng năm 2000 đạt 47,88 tỷ RS tăng 18,57%
so với cùng kỳ năm 1999 (40,38 tỷ RS). Theo số liệu từ những nhà môi giới
Forbes & Walker: xuất khẩu từ tháng 1-11/2000 đạt 262.507 tấn tăng 5,59% so
với cùng kỳ năm 1999. Nhìn vào bảng ta có thể thấy Srilanca chủ yếu sản xuất chè
đen, tuy nhiên chủ yếu dùng cho xuất khẩu, lợng chè tiêu thụ trong nớc là rất nhỏ
(gần 8% năm 2001).
1
Sản lợng và số lợng tiêu dùng chè của Srilanca (tấn)
2001 (dự tính) 2000 (ớc tính) 1999
Sản lợng chè
Chè xanh 1.000 900 430
Chè đen 309.000 299.100 283.760
Tổng số 310.000 300.000 284.190
Sản lợng tiêu dùng
Chè xanh 25 25 20
Chè đen 24.600 24.600 24.500
Tổng số 24.625 24.625 245.020
Nguồn: Tổng công ty chè Việt Nam
Về thị tr ờng xuất khẩu : Các nớc trong khối cộng đồng chung là những nớc
nhập khẩu chè chính của Srilanca, tiếp theo là các nớc vơng quốc ả Rập thống
nhất với thị phần chiếm 15%, Srilanca cũng thành công trong việc xâm nhập vào
thị trờng Ai Cập (thị trờng trớc kia bị Kenya chiếm lĩnh với mức thuế suất hải
quan u đãi. Xuất khẩu chè của Srilanca tới Nhật và Iran cũng phát triển trong
những năm qua trong khi đó xuất khẩu tới Anh, Thổ Nhĩ Kỳ lại giảm xuống. Nga
cùng các nớc trong khối SNG và thị trờng Trung Đông là những thị trờng nhập
khẩu ổn định của Srilanca.
Những thuận lợi chính trong sản xuất và xuất khẩu chè của Srilanca: Thuận
lợi lớn nhất phải kể đến là việc chuyển đổi các công ty chuyên sản xuất nông sản
sang lĩnh vực t nhân cộng với uy tín trên thị trờng và việc loại bỏ những cơ cấu
máy móc cồng kềnh kém linh hoạt đã tạo ra sức mạnh cho ngành chè Srilanca và
là yếu tố tạo đà đi lên trong việc hoàn thiện về chất lợng và tìm thị trờng xuất
khẩu.
Bên cạnh đó Srilanca có thuận lợi hơn so với nhiều nớc xuất khẩu chè khác là
do sự sụt giảm tiếp tục của đồng RS khiến chè của Srilanca có giá rẻ hơn so với
những nớc cạnh tranh khác đặc biệt là ấn Độ.
Tuy nhiên Srilanca cũng phải đối mặt với những khó khăn nhất định nh
Chính phủ do phải tăng chi phí quân sự (880 triệu USD năm 2000) nên làm hạn
chế đầu t cho phát triển ngành chè. Một khó khăn nữa mà ngành chè srphải đối
mặt là cung đang tăng nhanh hơn cầu dẫn tới nguy cơ giảm giá trong ngành chè.
2
2. ấn Độ
Sản lợng và số lợng tiêu dùng chè của ấn Độ (tấn)
2001 (dự tính) 2000 (ớc tính) 1999
Sản lợng chè
Chè xanh 8.000 8.000
Chè đen 827.000 797.000
Tổng số 835.000 805.000
Sản lợng tiêu dùng
Chè xanh 5.000 5.000 5.000
Chè đen 654.000 642.000 633.000
Tổng số 659.000 647.000 638.000
Nguồn: Tổng công ty chè Việt Nam
ấn Độ đợc coi là thị trờng chè lớn nhất thế giới cho đến nay, sản lợng chè ấn
Độ năm 1999 đạt 805.000 tấn giảm 7,47% so với 1998 (870.405 tấn), năm 2000 là
835.000 tấn.
Xuất khẩu chè năm 1998 đạt 207.000 tấn so với 189.000 tấn năm 1999 và
200.000 tấn năm 2000. Hiệp hội chè ấn Độ gần đây lỡng lự trong việc bình luận
dự đoán về sản lợng chè năm 2001 vì theo họ còn phải dựa vào điều kiện thời tiết
và dự báo về mùa ma từ văn phòng khí tợng thuỷ văn.
Hiệp hội những nhà sản xuất nông sản và Uỷ ban cố vấn (CCPA) - Cơ quan
đầu não của ngành sản xuất nông sản ấn Độ đã khuyên những nhà sản xuất chè
Bắc ấn dừng sản xuất chè đặc biệt là vào cuối vụ chè có chất lợng thấp (từ
12/12/2000 tới tháng 3,4 năm 2001). Hiệp hội những nhà trồng chè Assam
(ATBA) đã yêu cầu những thành viên của mình ngừng sản xuất vào tháng 12 vì
chè mùa đông có chất lợng rất thấp. Tất cả đều nhất trí rằng cần phải chú ý tập
trung vào chất lợng. Một vài văn phòng đã thông báo về tình trạng sụt giảm giá
chè qua các bảng đấu giá tại các trung tâm đặc biệt là Nam ấn do chất lợng thấp.
Với những tham vọng về mức sản lợng trớc đây thì nay tất cả các quan chức trong
ngành chè đều xoay quanh vấn đề chất lợng. ATPA đã nhấn mạnh về tình trạng
khủng hoảng mà nhiều hộ sản xuất nhỏ đang phải đối mặt. ATPA cũng thông báo
về 80% số lợng chè đợc làm ra đã bán dới chi phí sản xuất. Tại nhiều trung tâm
đấu giá, trên thị trờng một số lợng chè lớn vẫn đang tồn kho, đặc biệt là các loại
chè chất lợng thấp. Một quan chức trong ngành chè cho biết công việc cấp bách là
phải có những biện pháp điều chỉnh phù hợp để tránh tình trạng này. Tuy nhiên,
3
những công ty chè lớn có vị trí trong việc hoàn thiện với những biện pháp nâng
cao chất lợng, nâng cấp các trang thiết bị sản xuất thì phần đông các nhà sản xuất
nhỏ lại không có nguồn tài chính cũng nh uy tín về mặt chính trị để đối mặt với
khủng hoảng. Hiệp hội chè Nhà nớc ấn Độ đã thông báo một kế hoạch trợ cấp cho
những ngời trồng chè nhỏ tại Nam ấn, nhng khác nào muối bỏ biển.
Mặc dù kế hoạch trợ cấp và hạn chế sản xuất chè có thể xem là biện pháp tr-
ớc mắt của ngành chè ấn Độ, biện pháp lâu dài là phải kích thích để tăng nhu cầu
trong nớc. Mặc dù ấn Độ có tỷ lệ tăng trởng GDP cao hơn so với thập kỷ trớc, điều
này cũng không làm tăng thêm nhu cầu trong nớc. Ngợc lại, Hiệp hội chè ấn Độ
phải có kế hoạch do nhu cầu trong nớc giảm. Theo thống kê năm 2000, Hiệp hội
thông báo những ớc tính ban đầu về tỷ lệ tăng nhu cầu về chè trong nớc là 2,5% là
một con số hơi phóng đại và đi đến kết luận tỷ lệ tăng nhu cầu trong nớc từ những
năm 1990 dao động trong con số 1,8%. Theo số liệu của ITA, nhu cầu trong nớc
khoảng 657.000 tấn năm 1999 đã gây tranh cãi và cuối cùng sửa đổi giảm xuống
còn 638.000 tấn. Theo dự đoán của Hiệp hội thì nhu cầu trong nớc sẽ tăng lên
647.000 tấn năm 2000. Mặc dù Hiệp hội đã cố gắng bớc đầu đa ra những chiến
dịch thúc đẩy về giống chè, bớc đầu thất bại do thiếu sự ủng hộ của ngành.
4
3. Trung Quốc
Sản lợng, mức tiêu dùng và số lợng xuất khẩu của Trung Quốc (tấn)
2000 (ớc tính) 1999
Sản lợng chè
Chè xanh 498.035 496.986
Chè đen 45.900 48.899
Ôlong 65.500 63.303
Các loại khác 66.680 66.683
Tổng số 676.115 675.871
Sản lợng tiêu dùng
Chè xanh 248.600 236.000
Chè đen 14.800 15.000
Chè nhài 105.000 100.000
Ôlong 25.000 23.000
Các loại khác 60.000 60.000
Tổng số 453.400 434.000
Sản lợng chè xuất khẩu
Chè tinh chế 4.073 1.242
Chè xanh 175.000 140.297
Chè đen 53.927 59.329
Tổng số 233.000 200.888
Nguồn: Tổng công ty chè Việt Nam
Với mức sản lợng xấp xỉ 700.000 tấn - Trung Quốc là nớc có mức sản lợng
lớn thứ 2 trên thế giới. Sản lợng chè tiếp tục tăng nhanh trong thập kỷ qua, vợt qua
mức 300.000 tấn năm 1980 trớc khi có mức sản lợng tăng vọt năm 1985 đạt
432.000 tấn và năm 1987 là 508.000 tấn. Nhng phải sang thập kỷ sau Trung Quốc
mới đạt đợc sản lợng chè ở mức 600.000 tấn năm 1997 và thật thú vị khi mà sản l-
ợng chè tăng nh vậy mà diện tích đất trồng thì hầu nh không có gì mở rộng cho
lắm. Theo thống kê cho biết diện tích đất trồng chè năm 1997 là 1048 triệu ha,
năm 1998 là 1057 triệu ha. Năm 1998, các nớc trồng và sản xuất chè chính đã tăng
sản lợng, nh sản lợng chè của Trung Quốc tăng 8,48% trong khi đó sản lợng năm
1999 và năm 2000 hầu nh không tăng nhiều. Theo những thông báo gần đây của
5
Hiệp hội nghiên cứu thị trờng chè Trung Quốc, sản lợng chè của Trung Quốc năm
2000 ớc tính đạt 676.115 tấn, chỉ tăng 0,04% so với sản lợng năm 1999 (675.871
tấn).
Tuy nhiên, có thể huy vọng một ngày gần đây sản lợng chè của Trung Quốc
sẽ tăng vọt. Nhng trớc hết ngành chè Trung Quốc phải xem xét lại vấn đề cơ cấu.
Chè Trung Quốc phần lớn do các hộ gia đình nhỏ sản xuất với những trang thiết bị
lạc hậu, lỗi thời, quản lý kém hiệu quả vì vậy hơn 50% sản lợng chè toàn quốc có
chất lợng trung bình và giá trị xuất khẩu thấp hơn so với các nớc khác. Theo sau
giá chè thấp thì phần lớn các công ty xuất khẩu chè rơi vào khủng hoảng và đây
cũng là một tiềm năng lớn để hoàn thiện về năng suất chè và hoàn thiện chất lợng.
Một điều quan trọng nữa về mức sản lợng tăng trong tơng lai là diện tích đất trồng
chè năm 1999 đã tăng 7% với 1.130 triệu ha.
Mặc dù nhu cầu trong nớc phát triển ổn định trong những năm qua, trên thị
trờng cung vẫn vợt quá cầu, do đó một số lợng chè lớn vẫn tồn trong các kho hàng.
Khi nhu cầu chè xanh trên thế giới tăng, xuất khẩu chè của Trung Quốc cũng tiếp
tục tăng. Xuất khẩu chè trong 10 tháng năm 2000 ớc tính đạt 196.832 tấn, tăng
20% so với cùng kỳ năm ngoái (165.530 tấn). Nếu tính số lợng chè xuất khẩu cả
năm 2000 có thể vợt quá 230.000 tấn - đây là con số cao nhất trong những năm
1990 - tạo cho Trung Quốc nắm vị trí xuất khẩu lớn thứ 2 trên thế giới vợt qua
Kenya.
4. Việt Nam
Sản lợng, số lợng tiêu dùng của Việt Nam (tấn)
2001 2000 1999
Sản lợng chè
Chè xanh 20.000 18.000 18.000
Chè đen 33.300 30.000 24.500
Tổng số 53.000 48.000 42.500
Sản lợng tiêu dùng
Chè xanh 3.000 3.000 3.000
Tổng số 3.000 3.000 3.000
Nguồn: Tổng công ty chè Việt Nam
Theo thống kế, sản lợng chè năm 2000 của Việt Nam đạt 66.000 tấn tăng
12% so với năm 1999 (59.000 tấn). Con số này là con số cao hơn rất nhiều so với -
6
ớc tính thơng mại với sản lợng năm 2000 là 48.000 tấn. Chính phủ đã ấn định đặt
mục tiêu xuất khẩu năm 2000 là 42.000 tấn tăng so với năm 1999 (37.000 tấn).
Theo ớc tính thơng mại, năm 2000 Việt Nam đã xuất khẩu 44.700 tấn với giá trị
đạt 53,4 triệu USD tăng từ 37.000 tấn với giá trị 46 triệu USD năm 1999. Theo
những tin tức liên quan, Bộ trởng Thơng mại cho biết xuất khẩu chè từ tháng
1-10/2000 tổng cộng là 41.000 tấn với trị giá 47 triệu USD, Bộ ớc tính xuất khẩu
chè trong toàn năm 2000 đạt tần 43.000 tấn trị giá 50 triệu USD. Bộ trởng cho biết
thêm thị trờng Trung Đông là thị trờng nhập khẩu chè của Việt Nam nhiều nhất,
sau đó là Đài Loan, Anh, Nhật, Nga.
II. Các giải pháp khắc phục tồn tại và đẩy mạnh xuất
khẩu chè ở Tổng công ty chè Việt Nam
Có 2 nhóm biện pháp là về phía công ty và về phía Nhà nớc.
A. Về phía công ty:
1. Nhóm các biện pháp duy trì và mở rộng thị trờng
Mở rộng thị trờng đồng nghĩa với việc bán đợc nhiều hàng, tăng doanh thu và
tạo đợc vị thế của mình trên thị trờng thế giới. Để duy trì và mở rộng thị trờng,
Tổng công ty cần làm tốt 3 việc sau:
1.1. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị tr ờng.
Mục tiêu của việc nghiên cứu thị trờng là nhằm xác định các bạn hàng ổn
định lâu dài cho từng mặt hàng xuất khẩu, xác định dung lợng thị trờng tính cho
mỗi loại mặt hàng, mỗi thị trờng khác nhau là bao nhiêu. Muốn thực hiện tốt các
mục tiêu trên thì Tổng công ty cần phải:
- Thành lập các bộ phận chuyên thu thập xử lý các thông tin về thị trờng chè.
Cần tổ chức tuyển chọn, bồi dỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công
tác Marketing.
- Tích cực tìm hiểu nắm bắt thông tin về bạn hàng, đối thủ cạnh tranh thông
qua các cuộc hội trợ, hội thảo, triển lãm trong nớc cũng nh quốc tế.
- Tạo dựng tốt mối quan hệ với khách hàng nớc ngoài thông qua các chi
nhánh đại diện ở đó.
7
1.2. Hoàn thiện công nghệ quảng cáo, chào hàng, hoạt động Marketing.
Mục tiêu là mang đến cho ngời tiêu dùng hình ảnh sản phẩm của công ty,
giúp cho sản phẩm chè có cơ hội xâm nhập sâu hơn vào các thị trờng. Muốn vậy
Tổng công ty cần phải:
- Tăng cờng giới thiệu sản phẩm ở các cửa hàng, quầy hàng, hội chợ triển
lãm.
- Đầu t để liên tục đổi mới bao bì, mẫu mã sản phẩm. Kết hợp với đa dạng
hoá sản phẩm với nhiều hình thức bán hàng linh hoạt.
- Xuất khẩu trực tiếp tới tay ngời tiêu dùng, tránh qua nhiều trung gian nh ở
thị trờng Nga hiện nay.
- Do giá của ta phụ thuộc giá chè thế giới nên cần xem xét kỹ lỡng trớc khi
xuất hàng.
- Cần có chính sách về giá cả và một số điều kiện u đãi với các bạn hàng
truyền thống.
- Tăng cờng quảng cáo.
1.3. Xây dựng chiến l ợc và kế hoạch kinh doanh trong xuất khẩu chè.
Mục tiêu là xây dựng kế hoạch và chiến lợc trong xuất khẩu chè một cách có
hiệu quả làm khung cho sự ổn định và phát triển của công ty. Muốn vậy cần phải:
- Đa dạng hoá mặt hàng, mẫu mã, kiểu dáng, hơng vị để đáp ứng nhu cầu
khác nhau của khách hàng.
- Cần phân tích rõ các mặt mạnh, mặt yếu và cơ hội có thể có của Tổng công
ty trong thời gian tới.
- Xây dựng chiến lợc kinh doanh trên cơ sở phối hợp các yếu tố của môi tr-
ờng bên trong và môi trờng bên ngoài, đáp ứng tối đa nhu cầu thị trờng sẽ mang
lại hiệu quả kinh doanh và định hớng cho các hoạt động của doanh nghiệp.
2. Nhóm các biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh.
2.1. Nâng cao chất l ợng sản phẩm
- Quản lý tốt chất lợng chè thu mua vào.
- Kiểm tra chặt chẽ chất lợng hàng xuất khẩu qua những thông số về chỉ tiêu
kỹ thuật.
- Làm tốt công tác lu kho, bảo quản chè.
8
- Về lâu dài muốn nâng cao chất lợng, Tổng công ty cần sử dụng những
giống tốt cho năng suất và chất lợng cao.
- Từng bớc cải tiến, sử dụng công nghệ chế biến thích hợp để nâng cao chất l-
ợng.
2.2. ứ ng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chế biến và thiết lập hệ
thống bảo quản.
- Hiện nay chè đen đang đợc chế biến theo hai phơng pháp công nghệ là
Orthodox và CTC, nhng công nghệ chế biến này đã cũ cần sửa đổi, bổ sung hoàn
thiện.
- Bổ xung dàn héo tự nhiên, trang bị hệ thống lên men liên tục, làm mát chè
kiểu Nhật.
- Hiện đại hoá khâu hút bụi để đảm bảo vệ sinh, thay lò nhiệt đốt than bằng
đốt dây để nâng cao chất lợng chè.
- Bố trí các nhà máy và các hệ thống chế biến chè gắn với vùng nguyên liệu.
- Đầu t hệ thống kho tàng cho việc cất trữ hàng hoá.
- Chè là hàng nông sản theo mùa vụ nên Tổng công ty cần lập kế hoạch dự
trữ và bảo quản chè ngay từ đầu vụ.
2.3. Tăng c ờng liên doanh với các đơn vị chân hàng để tăng c ờng tính ổn
định cho công tác tạo nguồn hàng xuất khẩu.
- Mở rộng hơn nữa quan hệ với các chân hàng ở các tỉnh để mở rộng nguồn
hàng. Lập kế hoạch thu mua cụ thể từ đầu vụ và liên hệ kí kết hợp đồng mua trực
tiếp với các chân hàng này.
- Phải đảm bảo lợi ích cho các chân hàng nh mua thờng xuyên, đầu t cơ sở
vật chất,
3. Nhóm biện pháp nâng cao nghiệp vụ kinh doanh cho cán bộ công nhân
viên.
Cán bộ của Tổng công ty là nhân tố không thể thiếu đợc trong việc thúc đẩy
xuất khẩu của Tổng công ty. Muốn nâng cao nghiệp vụ kinh doanh cho cán bộ,
công ty cần phải:
- Xây dựng một chiến lợc đào tạo cả cán bộ quản lý và nhân viên thờng
xuyên, có hệ thống về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ. Quy mô và loại
hình đào tạo cần đợc mở rộng để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của hoạt động xuất
khẩu.
9
- Có những khuyến khích về lợi ích thoả đáng cho ngời theo học để họ dốc
lòng, dốc sức vào công việc.
4. Giải pháp về hợp tác quốc tế.
Mục tiêu là để nâng cao nguồn vốn, sử dụng dây chuyền công nghệ hiện đại,
học hỏi kinh nghiệm quản lý, kinh doanh tiên tiến.
- Cần có kế hoạch gia nhập vào các hiệp hội chè thế giới.
- Tham gia các hoạt động quốc tế về hội thảo triển lãm, của ngành chè để mở
rộng uy tín của mình.
- Liên doanh, liên kết một cách có chọn lọc.
B. Về phía Nhà nớc
1. Quy hoạch và phát triển vùng chè.
Căn cứ vào đặc điểm sinh thái và địa hình có thể quy hoạch thành 3 vùng
chính sau:
- Vùng có độ cao dới 100m so với mặt biển, bao gồm: một số huyện thuộc
tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Tuyên Quang, Yên Bái, Hoà Bình, Bắc Thái, Phú Thọ,
Vĩnh Phúc, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Sản phẩm chủ yếu dùng làm chè đen
xuất khẩu sang Trung Đông, Nga và các nớc thuộc khối SNG.
- Vùng có độ cao từ 100-1000m so với mặt biển, bao gồm: Mộc Châu, Sơn
La và Cao nguyên Lâm Đồng. Đây là vùng nguyên liệu tập trung, có điều kiện
sinh thái để tròng các loại chè có chất lợng cao, sản phẩm chủ yếu là chè xanh và
chè đen có giá trị cao dùng để xuất sang thị trờng Tây Âu, có khả năng mở rộng từ
8.000-10.000ha.
- Vùng có độ cao trên 1.000m gồm: Một số huyệt vùng cao của các tỉnh miền
núi phía Bắc nh: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Lai Châu. Vùng này đặc biệt thích
hợp với các loại chè Tuyết. Vùng có khả năng mở rộng diện tích từ 6.000-8.000ha.
2. Chính sách về tổ chức quản lý xuất khẩu chè.
- Cần đa dạng hoá các hình thức thu mua, thu gom nhng tập trung xuất khẩu
trực tiếp vào những đầu mối lớn.
- Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cần phân công tổ
chức lại ngành chè nh sau:
Các tỉnh, các địa phơng chịu trách nhiệm về sản xuất nông nghiệp và chế
biến nhỏ phục vụ nội tiêu là chủ yếu, tổ chức khuyến nông, kiểm tra và hớng dẫn
quy trình canh tác.
10
Các doanh nghiệp trung ơng lo thị trờng xuất khẩu, chế biến các loại chè xuất
khẩu có quy mô lớn với các nhà máy lớn và hiện đại để sản phẩm xuất khẩu luôn
giữ vững và nâng cao chất lợng, số lợng.
Nhà nớc cần có chính sách để các đơn vị chè địa phơng, các công ty xuất
nhập khẩu tổng hợp và một số công ty trách nhiệm hữu hạn làm nhiệm vụ xuất
khẩu chè tự nguyện tham gia Hiệp hội xuất khẩu chè Việt Nam nhằm đảm bảo
thống nhất về thị trờng và giá cả.
Cần phối hợp giữa cơ quan quản lý ngành (nh Tổng công ty chè Việt Nam)
với các cơ quan chuyên môn (công ty giám định hàng xuất khẩu - Bộ Thơng mại)
để ngăn chặn tình trạng chè không đủ tiêu chuẩn vẫn lọt ra ngoài.
Cần thống nhất quản lý ngành về chất lợng sản phẩm chè xuất khẩu bao gồm:
Ban hành và thống nhất tiêu chuẩn một nhà máy chế biến chè xuất khẩu để
làm cơ sở cho các ngành, các cấp trong việc cấp giấy phép thành lập xí nghiệp.
Ban hành tiêu chuẩn hoá về giống, mỗi loại giống phù hợp với một vùng
nhất định.
3. Một số vấn đề về chế độ chính sách.
- Đề nghị miễn thuế sử dụng đất đối với ngời trồng chè, vì chè là cây lâu
năm, lại đợc trồng ở vùng Trung Du và miền Núi nơi tập chug dân tộc ít ngời,
trồng chè cũng phủ xanh đất trống đồi trọc nh các loại cây rừng khác.
- Đề nghị miễn thuế nhập khẩu vật t thiết bị dùng cho sản xuất chế biến chè
trong một số năm để ngành chè có thêm vốn đầu t phát triển chè, tạo điều kiện
hiện đại hoá ngành chè.
- Về chính sách với ngời lao động.
Bảo hiểm xã hội đề nghị đợc thực hiện là 8% và 2% đối với bảo hiểm y tế.
Kinh phí của các doanh nghiệp chè đầu t cho y tế, giáo dục, xã hội, phụ cấp
khu vực đề nghị đợc ngân sách cấp hoặc trừ vào các khoản phải nộp.
Cho lập quỹ bình ổn giá trong giá thành sản phẩm để có thể trợ cấp cho ngời
trồng chè khi giá xuống quá thấp.
- Về vốn đầu t và lãi suất ngân hàng.
Vốn vay thâm canh tăng năng suất chè đề nghị lãi suất 0,7%/tháng, sau 12
tháng mới phải trả, định suất vay 3 triệu đồng/ha/năm.
Vốn vay để phát triển trồng chè và cải tạo vờn chè xấu đề nghị lãi suất
0,5%/tháng, vay trong 15 năm, 5 năm gia hạn, định suất vay 20 triệu/ha.
11
Vốn vay xây dựng nhà xởng và thiết bị hiện đại đề nghị đợc vay với chế độ u
tiên, lãi suất 0,7%/tháng và đợc trả trong vòng 10 năm kể từ khi đi vào hoạt động.
III. Một số hoạt động tại các nớc sản xuất và xuất
khẩu chè Đông Nam á.
1. Indonesia
Ngành chè Indonesia một mặt nằm dới sự quản lý của Nhà nớc với sản lợng
hàng nghìn tấn chè/năm, mặt khác lại dới sự kiểm soát của các điền chủ nhỏ với
mức sản lợng khoảng 30-35.000 tấn/năm.
Sản lợng chè dới sự quản lý của Nhà nớc trong 11 tháng năm 2000 đạt
79.321 tấn tăng 3,5% so với cùng kỳ năm 1999, và trong cả nớc đạt 160.000 tấn.
Xuất khẩu chè của Indonesia có những dao động mạnh trong thập kỷ qua và
tăng đáng kể trong 2 năm gần đây. Trong những năm đầu 1990, xuất khẩu đạt tới
đỉnh cao nhất: 120.000 tấn. Trong năm 1998 giảm xuống 63.949 tấn và năm 1999
tăng vọt 53% đạt 97.913 tấn. Trong năm 2000 xuất khẩu chè của Indonesia là
162.000 tấn.
Giá chè của Indonesia năm 2001 tăng lên 2 USD/kg, tăng so với giá trung
bình của năm ngoái (1,17 USD). Xét về việc phân phối theo khu vực địa lý thì nhu
cầu về chè của Indonesia đã tăng tại Châu Âu, úc, Trung Đông và Malaysia trong
khi xuất khẩu tới Irắc, Iran, Afghanistan vẫn giữ vững nh năm 1999.
2. Thái Lan
Nếu Indonesia chủ yếu xuất khẩu chè đen thì Thái Lan xuất khẩu chè xanh
và chè Trung Quốc là chính. Trong năm 2000, Thái Lan xuất đợc 650 tấn chè
xanh và chè Trung Quốc trị giá là 60 triệu Bath, tiếp theo là chè đen và chè uống
liền với 289 tấn trị giá 25 triệu Bath.
Tại Thái Lan, văn phòng nông nghiệp đã yêu cầu những ngời trồng chè sử
dụng phơng pháp trồng Oganic với sự thay đổi này, những ngời trồng chè có thể
mở rộng tiềm năng trên thị trờng của họ. Trung tâm nghiên cứu làm vờn đã trồng
800 vai chè (1 vai = 0,16ha) theo phơng pháp trồng Oganic tại tỉnh Chiang Rai.
Trung tâm hy vọng sẽ khuyến khích những ngời trồng chè khác áp dụng theo
Chiang Rai là vùng trồng chè lớn nhất Thái Lan với diện tích ớc tính khoảng
34.000 vai. Theo báo cáo của trung tâm, chè Assam đợc trồng với diện tích là
31.500 vai và chè Trung Quốc là 2.500 vai. Trong đó giá 1 kg chè khô Trung
Quốc đợc xuất với giá 2000-2500 bath.
12
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét