Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Xã hội mở cải cách chủ nghĩa tư bản toàn cầu

Xã hội mở-Cải cách chủ nghĩa tư bản toàn cầu George Soros

Chúng ta sống trong một thế giới được đặc trưng bởi trao đổi tự do về hàng hoá và dịch vụ và thậm chí
còn hơn bởi sự di chuyển tự do của vốn. Kết quả là, lãi suất, tỉ giá hối đoái, và giá cổ phiếu ở nhiều
nước khác nhau gắn kết chặt chẽ với nhau, và các thị trường tài chính có ảnh hưởng ghê gớm đến tình
hình kinh tế ở mọi nơi. Vốn tài chính có được một vị trí đặc ân. Vốn dễ lưu động hơn các yếu tố sản
xuất khác, và vốn tài chính thậm chí còn lưu động hơn các dạng khác của vốn. Toàn cầu hoá các thị
trường tài chính đã làm giảm khả năng của các nước riêng biệt để đánh thuế và điều tiết vốn vì nó có
thể chuyển sang chỗ khác. Căn cứ vào vai trò quyết định mà vốn tài chính quốc tế đóng trong vận may
của các nước riêng biệt, nên không phải không thích hợp để nói về một hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn
cầu.

Chúng ta có thể nói về thắng lợi của chủ nghĩa tư bản trên thế giới, song chúng ta chưa thể nói về
thắng lợi của dân chủ. Có một sự không xứng đôi nghiêm trọng giữa tình hình chính trị và kinh tế
thịnh hành trên thế giới ngày nay. Chúng ta có một nền kinh tế toàn cầu, song những dàn xếp chính trị
vẫn dựa vững chắc vào chủ quyền quốc gia. Làm sao có thể dung hoà nhu cầu của một xã hội toàn cầu
với các quốc gia có chủ quyền? Đó là vấn đề cốt yếu đối mặt với chúng ta ngày nay.

Chủ nghĩa tư bản và dân chủ không nhất thiết gắn bó chặt chẽ với nhau. Có tương quan nào đó: Tăng
các tiêu chuẩn sống và sự hình thành một tầng lớp trung lưu có xu hướng tạo áp lực cho quyền tự do
và dân chủ; chúng cũng có xu hướng ủng hộ ổn định chính trị lớn hơn. Song mối liên hệ còn xa mới là
tự động. Các chế độ áp bức không nới lỏng sự kìm kẹp của chúng về quyền lực một cách tự nguyện,
và chúng thường được trợ giúp và tiếp tay bởi các giới kinh doanh, cả nước ngoài và nội địa. Chúng ta
có thể thấy điều này ở nhiều nước, đặc biệt ở những nơi dính đến tài nguyên thiên nhiên như dầu hay
kim cương. Có lẽ mối đe doạ lớn nhất đối với quyền tự do và dân chủ trên thế giới ngày nay là từ sự
hình thành các liên minh tội lỗi giữa chính phủ và giới kinh doanh.

Đây không phải là hiện tượng mới. Nó thường được gọi là chủ nghĩa phát xít, và nó đặc trưng cho
Italy của Mussolini và ở mức độ khác nhau cho nước Đức của Hitler, Tây Ban Nha của Franco, Bồ
Đào Nha của Salazar. Ngày nay nó có các hình thức khác nhau, nhưng nó có thể được phát hiện ra ở
Peru của Fujimori, Zimbabwe của Mugabe, Miến điện của SPDC, Malaysia của Mahathir, chỉ nhắc tới
vài trường hợp. Làm bối rối hơn, sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản cũng đã dẫn tới một liên minh tội
lỗi giữa giới kinh doanh lớn và chính phủ ở nhiều nước, gồm có Nga. Có thể thấy diện mạo bề ngoài
của quá trình dân chủ, song quyền lực nhà nước được hướng trệch làm lợi cho các giới tư nhân. Các
nước dân chủ không chú ý nhiều đến tình hình chính trị thịnh hành ở các nước khác: Các ưu tiên khác
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Xã hội mở-Cải cách chủ nghĩa tư bản toàn cầu George Soros
thường có địa vị cao hơn. Thế nhưng nhân dân sống trong các chế độ áp bức cần sự giúp đỡ từ bên
ngoài; nhiều khi đó là cứu tinh duy nhất của họ.

Chủ nghĩa tư bản rất thành công trong tạo ra của cải, song chúng ta không thể dựa vào nó để đảm bảo
tự do, dân chủ, và pháp trị. Kinh doanh có động cơ là lợi nhuận; nó không được thiết kế để bảo vệ các
nguyên lí phổ quát. Hầu hết những người kinh doanh là các công dân ngay thẳng; nhưng điều đó
không làm thay đổi sự thực là kinh doanh được tiến hành vì lợi lộc tư nhân chứ không vì lợi ích công
cộng. Trách nhiệm hàng đầu của ban quản lí là với các chủ doanh nghiệp, không phải với một thực thể
u mơ nào đó được gọi là lợi ích công cộng - mặc dù các doanh nghiệp thường cố gắng, hoặc ít nhất
làm ra vẻ, hoạt động theo cách có tinh thần vì cái chung vì điều đó là tốt cho doanh nghiệp. Nếu chúng
ta chăm nom cho các nguyên lí phổ quát như quyền tự do, dân chủ, pháp trị, chúng ta không thể để
chúng cho sự chăm sóc của các lực lượng thị trường; chúng ta phải thiết lập các định chế khác nào đó
để bảo vệ chúng.

Tất cả điều này là quá hiển nhiên để phát biểu, thế mà phải được nói ra vì có tín điều được tin một
cách rộng rãi là các thị trường sẽ lo liệu cho mọi nhu cầu của chúng ta. Nó thường được gọi là
“laissez-faire” ở thế kỉ thứ mười chín, song tôi đã tìm ra được một từ hay hơn: thuyết thị trường chính
thống. Những người theo thuyết thị trường chính thống cho rằng lợi ích công được phục vụ tốt nhất
khi người dân được phép theo đuổi tư lợi của riêng họ. Đây là một ý tưởng hấp dẫn, nhưng chỉ là một
nửa sự thật. Các thị trường là thích hợp tuyệt vời cho theo đuổi lợi ích tư nhân, nhưng chúng không
được thiết kế để chăm lo đến lợi ích chung. Duy trì bản thân cơ chế thị trường là một lợi ích chung
như vậy. Những người tham gia thị trường cạnh tranh không để duy trì cạnh tranh mà để thắng; nếu có
thể, chúng sẽ loại bỏ cạnh tranh.

Bảo vệ lợi ích chung thường là nhiệm vụ của nhà nước quốc gia. Nhưng quyền lực của quốc gia đã co
lại do các thị trường vốn toàn cầu được mở rộng. Khi vốn tự do di chuyển, nó có thể bị đánh thuế và
điều tiết chỉ với rủi ro xua đuổi nó đi. Vì vốn là thiết yếu cho tạo ra của cải, các chính phủ phải thoả
mãn các nhu cầu của nó, thường làm hại đến những cân nhắc khác. Xua đuổi vốn có thể gây hại hơn là
đánh thuế và điều tiết có thể gây ra. Điểm này mới đây đã được làm rõ bởi sự thất bại ngoạn mục của
Oscar Lafontaine, bộ trưởng tài chính Đức, khi ông thử tăng gánh nặng thuế lên kinh doanh.

Theo cách nào đấy đó là một sự phát triển đáng thú vị. Doanh nghiệp tư nhân tốt hơn nhà nước về tạo
ra của cải, và cạnh tranh tự do ở qui mô toàn cầu đã dẫn đến một sự gia tốc về năng suất. Hơn nữa, nhà
nước thường lạm dụng quyền lực của mình; toàn cầu hoá cho một mức độ tự do cá nhân mà không nhà
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Xã hội mở-Cải cách chủ nghĩa tư bản toàn cầu George Soros
nước nào có thể cung cấp.

Nhưng có mặt trái. Năng lực của nhà nước để thực hiện các chức năng mà công dân kì vọng ở nó bị
suy yếu. Đây sẽ không phải là một nguyên nhân lo lắng nếu có thể trông mong ở các thị trường tự do
để chăm lo mọi nhu cầu, nhưng rõ ràng không phải vậy. Một số nhu cầu tập thể của chúng ta hầu như
quá hiển hiên để phải nhắc đến: hoà bình và an ninh, luật và trật tự, quyền con người, bảo vệ môi
trường, và yếu tố nào đó về công bằng xã hội. Các giá trị thị trường chỉ bày tỏ cái một người tham gia
sẵn lòng trả cho người khác trong trao đổi tự do và không bày tỏ các lợi ích chung của họ. Kết quả là,
các giá trị xã hội chỉ được phục vụ bởi những dàn xếp xã hội và chính trị, cho dù chúng ít hiệu quả hơn
các thị trường.

Ngay cả để phục vụ các lợi ích cá nhân, cơ chế thị trường có những hạn chế và khuyết tật nhất định mà
những người theo thuyết thị trường chính thống bỏ qua. Một là, các thị trường tài chính là bất ổn định
một cách cố hữu. Lí thuyết cạnh tranh hoàn hảo coi các đường cung và cầu là cho trước một cách độc
lập. Nơi hai đường gặp nhau, ta có cân bằng. Nhưng các giả thiết theo đó khái niệm cân bằng được xây
dựng hiếm khi được thoả mãn trong thế giới thực tế. Trong lĩnh vực tài chính chúng là không thể đạt
được. Các thị trường tài chính tìm cách chiết khấu tương lai mà tương lai lại tuỳ thuộc vào hiện tại nó
được chiết khấu ra sao. Căn cứ vào sự hiểu biết không hoàn hảo của những người tham gia, kết quả là
không xác định một cách cố hữu. Như thế, ngược với ý tưởng về một cơ chế tự cân bằng, tính ổn định
của các thị trường tài chính cần được bảo vệ bằng chính sách công.

Đáng tiếc, chính sách công cũng không hoàn hảo, và vì thế lịch sử các thị trường tài chính bị ngắt
quãng bởi những khủng hoảng. Tuy nhiên, bằng một quá trình thử và sai, các nước công nghiệp tiên
tiến đã tạo ra các ngân hàng trung ương và những khung khổ điều tiết rất thành công để giữ sự bất ổn
định trong những giới hạn có thể chịu đựng được. Sự sụp đổ lớn lần cuối ở các nước công nghiệp tiên
tiến xảy ra vào các năm 1930. Các nước ở ngoại vi của hệ thống tư bản toàn cầu ở vào vị trí không tốt
bằng: Khủng hoảng tài chính 1997-1999 gây ra tàn phá ở một số thị trường mới nổi cũng nhiều như
Đại Suy thoái của các năm 1930 đã gây ra ở Hoa Kì.

Hệ thống tài chính quốc tế không còn có thể được điều tiết trên cơ sở quốc gia. Một tập các định chế
quốc tế được thiết lập vào cuối Chiến tranh Thế giới II ở Bretton Woods năm 1945, nhưng chúng được
thiết kế cho một thế giới không có luân chuyển vốn tự do. Các định chế này đã dũng cảm cố thích nghi
với hoàn cảnh thay đổi, thế nhưng chúng đã không có khả năng giữ nhịp với sự phát triển nhanh chóng
mới đây của các thị trường tài chính quốc tế. Chúng đã không ngăn được sự lây nhiễm trong khủng
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Xã hội mở-Cải cách chủ nghĩa tư bản toàn cầu George Soros
hoảng tài chính quốc tế 1997-1999. May thay, các nước ở trung tâm của hệ thống tư bản toàn cầu đã
không bị ảnh hưởng (thực ra, họ thậm chí còn được lợi từ tai hoạ ở ngoại vi), và nền kinh tế thế giới đã
phục hồi nhanh hơn so với có thể dự kiến ở cao điểm của khủng hoảng. Khả năng mau phục hồi xuất
sắc này đã củng cố niềm tin vào năng lực tự hiệu chỉnh của các thị trường tài chính, và thay cho tăng
cường Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), quyền lực và ảnh hưởng của nó lại bị để cho suy dần. Điều này sẽ
để nền kinh tế thế giới dễ bị tổn thương hơn trong khủng hoảng tiếp theo, nếu và khi nó xuất hiện.
Nghĩ rằng chúng ta sẽ không có một khủng hoảng khác là đi coi thường lịch sử.

Yếu điểm trong cấu trúc chính trị quốc tế vượt quá khuyết điểm trong cấu trúc tài chính quốc tế. Thảm
kịch của Chiến tranh Thế giới II đã dẫn đến việc thiết lập Liên Hiệp Quốc, được thiết kế để duy trì hoà
bình và an ninh trên thế giới. Đáng tiếc, thiết kế không ngang với mục đích cao thượng. Ngay khi Liên
Hiệp Quốc ra đời, thế giới vỡ thành hai khối đối chọi nhau; một do Hoa Kì, một do Liên Xô lãnh đạo.
Hai bên đã kẹt vào cuộc chiến chí tử, cả về quân sự và ý thức hệ; thế nhưng mỗi bên đều nhận ra rằng
nó phải tôn trọng các lợi ích sống còn của bên kia, vì cả hai đều có khả năng phá huỷ bên kia bằng vũ
khí hạt nhân. Điều này biến Chiến tranh Lạnh thành một công cụ ổn định dựa vào quan niệm dữ tợn
song hùng mạnh về sự đảm bảo huỷ diệt lẫn nhau (MAD).

Sự cân bằng MAD giữa Đông và Tây chấm dứt với sự sụp đổ nội bộ của đế chế Soviet. Đã có một
giây phút lịch sử khi Liên Hiệp Quốc có thể bắt đầu hoạt động như nó được thiết kế ban đầu, thế mà
cơ hội đó đã tuột mất khi các nền dân chủ phương Tây đã không thống nhất được với nhau về xử trí
khủng hoảng Bosnia ra sao. Hệ thống trở nên bất ổn định.

Kinh nghiệm của hai cuộc chiến tranh thế giới đã chứng tỏ rằng một hệ thống dựa vào các quốc gia có
chủ quyền không đảm bảo hoà bình và ổn định. Vì các nhà nước chủ quyền thường lạm dụng quyền
lực của họ, một sự giảm sút về những quyền lực đó phải là một diễn tiến đáng hoan nghênh. Đến điểm
này tình cảm ủng hộ thị trường, chống nhà nước là hoàn toàn được biện minh. Nhưng sự yếu đi của
nhà nước chủ quyền phải đối ứng với sự tăng cường của các định chế quốc tế. Đây là chỗ mà thuyết
thị trường chính thống, phản đối nhà chức trách quốc tế cũng nhiều như nhà chức trách quốc gia, đứng
cản đường. Không thể phủ nhận, thuyết thị trường chính thống không phải là thủ phạm duy nhất; niềm
tin lâu dài vào chủ quyền quốc gia là thủ phạm khác. Hoa Kì thậm chí gắn bó với chủ quyền của nó
mạnh hơn hầu hết các quốc gia khác. Do là siêu cường quân sự duy nhất còn lại và là cường quốc kinh
tế mạnh nhất, nó sẵn lòng tham dự vào các dàn xếp, như Tổ chức Thương mại Thế giới, mở cửa các thị
trường trong khi lại cung cấp sự bảo hộ nào đó cho các giới thế lực, nhưng nó hết sức chống bất kể vi
phạm nào đến chủ quyền của riêng nó trong các lĩnh vực khác. Nó sẵn lòng can thiệp vào công việc
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Xã hội mở-Cải cách chủ nghĩa tư bản toàn cầu George Soros
nội bộ của các nước khác song lại không sẵn sàng phục tùng các qui tắc mà nó tìm cách áp đặt lên
người khác.

Trong khi Hoa Kì coi mình như người giữ vững các nguyên lí cao thượng, những người khác chỉ thấy
sự ngạo mạn quyền lực. Có thể gây sốc khi nói, nhưng tôi tin rằng chính thái độ đơn phương của Hoa
Kì tạo thành một mối đe doạ nghiêm trọng cho hoà bình và thịnh vượng của thế giới. Thế mà Hoa Kì
có thể dễ dàng trở thành một lực lượng hùng hậu cho điều thiện, đơn giản bằng chuyển từ cách tiếp
cận đơn phương sang đa phương. Thế giới cần một số qui tắc và tiêu chuẩn ứng xử. Nếu Hoa Kì sẵn
sàng tôn trọng các qui tắc, nó có thể dẫn đầu trong việc tạo ra chúng.

Đáng tiếc, sự không ưa chủ nghĩa đa phương của Hoa Kì không phải không có biện minh. Hầu hết các
định chế quốc tế không hoạt động tốt. Đó là vì chúng là các hiệp hội các quốc gia, mà như Hồng y
Richelieu đã nói, các quốc gia không có các nguyên lí, chỉ có những lợi ích. Điều này được biểu lộ
trong ứng xử của họ trong phạm vi các tổ chức quốc tế. Mọi thiếu sót của một bộ máy quan liêu quốc
gia, đều được nhân lên trong bộ máy quan liêu quốc tế. Các định chế quốc tế như Liên Hiệp Quốc là
không phù hợp để bảo vệ các nguyên lí phổ quát. Điều này có thể thấy trong thành tích bảo vệ nhân
quyền của Liên Hiệp Quốc.

Tôi tin rằng có thể khiến các định chế quốc tế hoạt động tốt hơn chỉ với sự giúp đỡ của xã hội dân sự.
Có thể đúng là các quốc gia không có các nguyên lí, nhưng các quốc gia dân chủ đáp ứng lại mong
muốn của công dân của mình. Nếu các công dân có các nguyên lí, họ có thể áp đặt chúng lên chính
phủ của họ. Đó là vì sao tôi chủ trương một liên minh các quốc gia dân chủ: Nó có thể có sự tham gia
tích cực của xã hội dân sự để đảm bảo là các chính phủ vẫn trung thành với các nguyên lí của liên
minh. Đó là nơi khó khăn lớn nhất ẩn náu. Như các cuộc biểu tình gần đây ở Seattle và Washington đã
chứng tỏ, có thể huy động xã hội dân sự để phản đối các định chế quốc tế; phải tìm được cách để huy
động nó ủng hộ chúng.

Liên minh sẽ có hai mục tiêu: thứ nhất, tăng cường luật quốc tế và các định chế quốc tế; thứ hai, củng
cố dân chủ trong phạm vi riêng từng nước. Hai mục tiêu, tất nhiên, gắn với nhau: Sự thúc đẩy dân chủ
phải được thực hiện bởi các định chế quốc tế. Không một quốc gia đơn nhất có thể được uỷ thác cho
việc bảo vệ các nguyên lí phổ quát. Mỗi khi có xung đột giữa các nguyên lí phổ quát và tư lợi, tư lợi
chắc thắng thế. Điểm này đã được những người sáng lập hiểu rõ khi họ nghĩ ra Hiến pháp Hoa Kì.

Thế mà cổ vũ phát triển dân chủ trên khắp thế giới chính là lợi ích của tất cả các nền dân chủ. Trong xã
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Xã hội mở-Cải cách chủ nghĩa tư bản toàn cầu George Soros
hội toàn cầu lệ thuộc lẫn nhau ngày nay hầu hết xung đột không xảy ra giữa các quốc gia mà trong nội
bộ các quốc gia. Các nền dân chủ không thể dung thứ sự vi phạm nhân quyền qui mô lớn, và sớm hay
muộn chúng có thể bị kéo vào các xung đột như vậy, như xảy ra ở Nam Tư. Ngay cả nếu họ từ chối bị
kéo vào, họ phải đối mặt với dòng người tị nạn và các hệ quả có hại khác.

Có sự mâu thuẫn nào đó về áp đặt dân chủ từ bên ngoài. Sự mâu thuẫn có thể được tránh chỉ nếu sự
can thiệp mang lại lợi ích và vì vậy được chấp nhận một cách tự nguyện. Ở mức độ lớn nhất có thể, sự
can thiệp phải ở dạng những khuyến khích và cam kết xây dựng.

Một khi một xung đột đã nổ ra, sẽ rất khó giải quyết. Phòng ngừa khủng hoảng không thể bắt đầu đủ
sớm. Nhưng trong các giai đoạn đầu khó nhận diện cái gì sẽ dẫn đến khủng hoảng. Đó là vì sao cách
tốt nhất để phòng ngừa khủng hoảng là cổ vũ sự phát triển của cái mà tôi gọi là các xã hội mở. Đó là
cái mạng lưới các Quỹ Xã hội Mở của tôi cố gắng làm. Bằng tạo ra các xã hội mở, khả năng về khủng
hoảng cần can thiệp từ bên ngoài có thể giảm đi rất nhiều. Và nếu can thiệp trừng phạt là không thể
tránh khỏi nó được biện minh dễ dàng hơn khi trước đó đã có cam kết mang tính xây dựng.

Hiện nay chúng ta dựa quá nhiều vào các biện pháp trừng phạt. Liên minh hiệu quả duy nhất của các
quốc gia dân chủ là một liên minh quân sự - Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Chúng ta
phải bổ sung cho NATO bằng một liên minh chính trị. Vì sự phát triển của xã hội mở liên hệ chặt chẽ
với sự thịnh vượng kinh tế, liên minh phải hướng tới hành động khẳng định.

Các ý nghĩ này đặc biệt thích đáng hiện nay, sau can thiệp của NATO ở Kosovo. Tôi tin can thiệp là
cần thiết, nhưng nó phải được biện minh bằng đảm bảo một tương lai tốt hơn cho khu vực. Điều này
chỉ có thể đạt được nếu Liên hiệp châu Âu có thể đưa các nước trong khu vực đến gần nhau hơn và
đưa chúng đến gần châu Âu hơn. Ý tưởng này hiện nay được chấp nhận rộng rãi, và nó được biểu lộ ở
Hiệp ước Ổn định cho Đông Nam Âu. Làm cho nó có kết quả phải là ưu tiên cao nhất của Liên hiệp
châu Âu. Nó chắc chắn là ưu tiên cao nhất của tôi.

Đi từ cái cá biệt sang cái chung, tôi chủ trương một nỗ lực có phối hợp bởi các nền dân chủ đã phát
triển để cổ vũ cho phát triển dân chủ ở những phần kém phát triển của thế giới. Nó phải có dạng trợ
giúp kĩ thuật và khuyến khích kinh tế. Kinh tế học và hoạt động chính trị không thể tách rời nhau.
Amartya Sen đã đưa ra lí lẽ thuyết phục rằng phát triển phải được định nghĩa bằng quyền tự do, chứ
không bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
[2]

Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Xã hội mở-Cải cách chủ nghĩa tư bản toàn cầu George Soros
Thành viên của liên minh sẽ bao gồm Hoa Kì và Liên hiệp châu Âu, và một số lượng tới hạn các nước
dân chủ từ ngoại vi của hệ thống tư bản – khác đi thì liên minh có thể hoá ra là một công cụ thống trị
và bóc lột. Thành viên có vấn đề nhất sẽ là Hoa Kì, vì hiện tại nó không sẵn lòng tuân thủ các qui tắc
mà nó tìm cách áp đặt lên người khác. Nó chẳng có gì để sợ loại liên minh mà tôi quan tâm, vì một liên
minh như vậy không thể hoạt động mà không có Hoa Kì tham gia; tuy nhiên, nó sẽ đòi hỏi sự định
hướng lại triệt để về chính sách của Hoa Kì từ chủ nghĩa đơn phương sang chủ nghĩa đa phương.

Tôi nhận ra là đề xuất của mình trái với thuyết thị trường chính thống. Viện trợ nước ngoài đã thất bại
tệ hại ở châu Phi và gần đây ở Liên Xô và các quốc gia kế vị, và nó cũng đe doạ gây thất bại cho Hiệp
ước Ổn định. Sự thực rằng chúng không có kết quả không có nghĩa là chúng ta phải từ bỏ ý tưởng.
Đúng hơn, chúng ta phải xem xét các lí do thất bại và nghĩ ra những cách hay hơn. Viện trợ nước
ngoài, như nó được quản lí hiện nay, quá thường xuyên được hướng tới thoả mãn nhu cầu của các nhà
tài trợ, không phải nhu cầu của những người nhận. Tôi có thể khẳng định, dựa trên những kinh nghiệm
của riêng tôi ở các nước như Nga, rằng viện trợ bên ngoài có thể có hiệu quả.

Hệ thống tư bản toàn cầu đã tạo ra một sân chơi rất không đều. Lỗ hổng giữa giàu và nghèo ngày càng
rộng hơn. Điều này là nguy hiểm, vì một hệ thống không đưa ra hi vọng và lợi ích nào đó cho những
người thua nhất định bị phá vỡ bởi các hành động tuyệt vọng. Ngược lại, nếu chúng ta đưa ra những
khuyến khích kinh tế cho các nước hăng hái tận dụng chúng, chúng ta tạo ra một công cụ hùng hậu để
ngăn ngừa khủng hoảng. Các khuyến khích nuôi dưỡng sự phát triển kinh tế và chính trị; sự thực rằng
chúng có thể được rút lại tạo đòn bẩy cái có thể được dùng chống các chính phủ ngoan cố.

Đáng tiếc, cấu trúc tài chính toàn cầu thịnh hành ngày nay hầu như không tạo sự hỗ trợ nào cho những
người kém may mắn. Các xu hướng hiện thời đi theo hướng ngược lại. Sau khủng hoảng tài chính vừa
qua, ý định là áp đặt kỉ luật thị trường lớn hơn. Nhưng nếu các thị trường là bất ổn định một cách cố
hữu, áp đặt kỉ luật thị trường có nghĩa là áp đặt sự bất ổn định – và xã hội có thể chịu sự bất ổn định
đến bao nhiêu?

Bây giờ chúng ta có các thị trường tài chính toàn cầu, chúng ta cũng cần một ngân hàng trung ương
toàn cầu và các định chế tài chính quốc tế khác mà sứ mệnh rõ ràng của chúng là giữ cho các thị
trường tài chính vững vàng, không tròng trành. Nhưng bất kể hoạt động của người cho vay cuối cùng
nào cũng gây ra hiểm hoạ đạo đức nào đó, và cuộc chiến hiện thời của những người theo thuyết thị
trường chính thống là loại trừ hiểm hoạ đạo đức. Kết quả là giảm qui mô IMF. Không nghi ngờ gì,
điều đó sẽ giảm nguy cơ cho vay thái quá đối với các thị trường mới nổi, nhưng theo tôi khủng hoảng
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Xã hội mở-Cải cách chủ nghĩa tư bản toàn cầu George Soros
tiếp theo có khả năng đến từ hướng ngược lại: từ dòng vốn chảy tới các nước chậm phát triển không
thoả đáng.

Uỷ ban Meltzer do Quốc hội Hoa Kì lập ra kiến nghị biến Ngân hàng Thế giới từ một tổ chức cho vay
thành một cơ quan cấp trợ cấp cho các nước nghèo nhất thế giới. Đó là một ý tưởng tuyệt vời, nhưng
cách mà Uỷ ban Meltzer cố gắng là giảm qui mô Ngân hàng Thế giới và trả lại vốn chưa dùng cho các
cổ đông trong một sự chuyển giao lớn nguồn lực từ người nghèo sang người giàu. Tôi tin là vốn chưa
được dùng phải được sử dụng có ích hơn bằng cách tăng các hoạt động cho trợ cấp và cấp bảo lãnh
của Ngân hàng. Nhưng đó không phải là cái Uỷ ban Meltzer nghĩ tới.

Tôi bày tỏ lí lẽ tương tự liên quan đến Tổ chức Thương mại Thế giới. Có nhu cầu khẩn thiết về các
tiêu chuẩn lao động và bảo vệ môi trường. Song các nước nghèo không thể đủ sức làm các việc này.
Thay cho các biện pháp trừng phạt, phải có khuyến khích để cho các nước nghèo có khả năng tuân
theo.
Một liên minh của các nền dân chủ có thể có nhiều hình thức khác nhau. Nó có thể thử cải cách các
định chế hiện hành như Ngân hàng Thế giới hay thậm chí Liên Hiệp Quốc, hoặc nó có thể hoạt động
một cách phi chính thức hơn và đề cập các lĩnh vực vấn đề hay các nước đặc thù. Nó có thể có cơ hội
tốt hơn để cải tổ Liên Hiệp Quốc so với bất kể nỗ lực trước đây nào, chính xác vì nó có thể hoạt động
hoặc trong phạm vi Liên Hiệp Quốc hoặc ngoài Liên Hiệp Quốc nếu các quốc gia thành viên khác từ
chối đi cùng. Nhưng liên minh có thể thành công chỉ nếu các thành viên của nó có thể thống nhất giữa
họ với nhau. Và điều đó có nghĩa là thiết lập một số qui tắc cơ sở cho một xã hội mở toàn cầu.

Thuật ngữ "xã hội mở-open society" do Henri Bergson đưa ra năm 1932, khi ông xuất bản cuốn sách
The Two Sources of Morality and Religion [Hai Nguồn của Đạo đức và Tôn giáo] của ông. Theo
Bergson, một nguồn của đạo đức là bộ lạc, nguồn kia là phổ quát. Loại trước tạo ra xã hội đóng, loại
sau tạo ra xã hội mở. Khái niệm được Karl Popper phát triển thêm, người đã lí lẽ trong cuốn sách The
Open Society and Its Enemies [Xã hội Mở và Những Kẻ thù của Nó] của mình rằng xã hội mở bị đe
doạ bởi các ý thức hệ tư tưởng phổ quát cho là mình có chân lí cuối cùng. Ông cho khái niệm xã hội
mở một nền tảng nhận thức luận- cụ thể là, sự hiểu hiết không hoàn hảo cố hữu của chúng ta. Các ý
thức hệ tư tưởng phổ quát, cho là mình có chân lí cuối cùng, là mối đe doạ xã hội mở vì đòi hỏi của họ
có thể được áp đặt chỉ bằng cưỡng bức.

Cách diễn đạt của Bergson có ích để hiểu các xung đột sắc tộc như ở Nam Tư; cách diễn đạt của
Popper có ích để làm sáng tỏ các mối đe doạ do các chế độ toàn trị gây ra, như ở nước Đức Nazi và
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Xã hội mở-Cải cách chủ nghĩa tư bản toàn cầu George Soros
Liên Xô. Trong và sau Chiến tranh Thế giới II, khái niệm xã hội mở có thể được hiểu dễ dàng nhất
bằng đối sánh nó với các xã hội đóng dựa trên cơ sở các hệ tư tưởng toàn trị như chủ nghĩa phát xít và
cộng sản. Điều này đã đúng cho đến sự sụp đổ của đế chế Soviet năm 1989.

Kể từ đó, tình hình đã thay đổi. Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản không tự động dẫn đến sự thiết lập
xã hội mở. Sự phân đôi đơn giản giữa xã hội mở và đóng không còn áp dụng được nữa. Xã hội mở bị
đe doạ từ một hướng không ngờ: sự theo đuổi tư lợi không kiềm chế. Chúng ta đã quen nghĩ về quyền
lực - ở dạng một chính phủ áp bức hay một ý thức hệ đòi chân lí cuối cùng và tìm cách áp đặt bằng các
biện pháp cưỡng bức – như cản trở chủ yếu cho một xã hội mở. Bây giờ hoá ra là thiếu quyền lực và
thiếu sự cố kết xã hội có thể cũng làm suy yếu ngang vậy. Sự tan rã của Liên Xô đã chứng tỏ rằng một
nhà nước yếu cũng có thể là một mối đe doạ đối với tự do.
[3]

Với tư cách một sinh viên sau Chiến tranh Thế giới II, tôi sốt sắng chấp nhận khái niệm xã hội mở của
Popper. Như một người Do thái Hungary đầu tiên thoát khỏi sự tiêu diệt của Nazi bằng chấp nhận một
nhận dạng giả và sau đó trốn khỏi chủ nghĩa cộng sản bằng di cư, tôi đã học được khi còn trẻ loại tổ
chức xã hội nào thịnh hành là quan trọng đến thế nào. Cách phân đôi giữa xã hội mở và đóng của
Popper tỏ ra hết sức quan trọng đối với tôi. Nó đã không chỉ làm sáng tỏ thiếu sót căn bản của các hệ
tư tưởng toàn trị mà nó cũng soi sáng một số vấn đề triết học cơ bản. Chính triết học của ông đã chỉ
dẫn tôi thiết lập mạng lưới các Quỹ Xã hội Mở của tôi.

Tôi đã là một người tham gia tích cực trong cách mạng quét sạch hệ thống Soviet, và kinh nghiệm đã
buộc tôi tiến hành xem xét lại kĩ lưỡng khái niệm xã hội mở. Điều đó dẫn tôi đến các khía cạnh triết
học của cuốn sách này.

Tôi bắt đầu cuốn sách với việc khảo sát quan hệ giữa tư duy và thực tại. Tôi không lên án chủ nghĩa
hiện thực hay chủ nghĩa lí tưởng; đúng hơn, tôi tìm sự cân đối giữa hai thứ. Đúng là có một thực tại,
song nó không hoàn toàn có thể tiếp cận được cho trí tuệ chúng ta. Quan niệm của chúng ta về thế giới
có thể xấp xỉ thế giới như nó là, nhưng chẳng bao giờ có thể hoàn toàn tương ứng với nó. Thay vì bàn
cãi bản chất của thực tại hay chân lí cuối cùng, tôi coi như điểm xuất phát của mình là sự hiểu biết của
chúng ta về thế giới trong đó chúng ta sống là không hoàn hảo một cách cố hữu. Chúng ta là một phần
của thế giới chúng ta tìm cách hiểu, và sự hiểu biết không hoàn hảo của chúng ta đóng một vai trò tích
cực trong hình thành các sự kiện trong đó chúng ta tham gia vào. Có một tương tác hai chiều giữa sự
hiểu biết của chúng ta và các sự kiện này, đưa một yếu tố bất định vào cả hai. Nó bảo đảm rằng chúng
ta không thể đặt cơ sở cho các quyết định của mình lên tri thức và rằng các hành động của chúng ta có
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Xã hội mở-Cải cách chủ nghĩa tư bản toàn cầu George Soros
thể có các hệ quả không dự tính. Hai tác động nuôi dưỡng lẫn nhau. Tôi gọi cơ chế phản hồi hai chiều
này là tính phản thân và nó là hòn đá tảng của khung khổ quan niệm của tôi.

Khái niệm phản thân hầu như hiển nhiên, thế mà nó có các hệ luỵ không được chấp nhận một cách phổ
biến. Nó tạo ra một sự chia tách giữa các khoa học tự nhiên và xã hội và nó làm xói mòn các giả thiết
mà lí thuyết kinh tế đã dựa vào: ứng xử duy lí nói chung, và các kì vọng duy lí nói riêng. Nó đưa ra
một diễn giải về các thị trường tài chính hoạt động ra sao khác hoàn toàn cách lí thuyết kinh tế đề xuất.
Đó là một trường hợp nơi khung khổ quan niệm của tôi có các hệ luỵ thực tiễn.

Trong cuốn sách này, tôi đi quá sự phê phán các ý tưởng được chấp nhận nói chung. Tôi sử dụng các
khái niệm về tính có thể sai (fallibility) và tính phản thân để trình bày một lí thuyết về lịch sử. Tôi diễn
giải các thị trường tài chính như một quá trình lịch sử và tôi dùng chúng như một phòng thí nghiệm để
kiểm tra lí thuyết của tôi. Thí nghiệm của tôi không tạo ra các kết quả tất định so sánh được với các
phương trình xác định cân bằng trong lí thuyết kinh tế. Điều này làm cho diễn giải của tôi là không thể
chấp nhận được đối với các nhà kinh tế học, song tôi dám chắc, chấp nhận rằng các thị trường tài
chính là không thể tiên đoán được một cách cố hữu, tốt hơn là tôn trọng một lí thuyết sai.

Tôi diễn giải lịch sử như một quá trình phản thân trong đó các quyết định có thiên kiến của những
người tham gia tương tác với một thực tại vượt quá sự lĩnh hội của họ. Tương tác có thể là tự-tăng
cường hay tự-hiệu chỉnh. Một quá trình tự-tăng cường không thể đi mãi mà không gặp các giới hạn do
thực tại đặt ra, nhưng nó có thể đi đủ lâu và đủ xa để gây ra những thay đổi quan trọng trong thế giới
thực. Nếu và khi nó trở nên không thể duy trì được, thì nó có thể khởi động một quá trình tự tăng
cường theo chiều ngược lại. Các chuỗi boom-bust (hưng thịnh bột phát- lụn bại) như vậy quan sát
được một cách rõ ràng trong các thị trường tài chính, nhưng phạm vi, trường độ, và diễn tiến thực sự
của chúng vẫn không chắc chắn.

Khi tôi thử áp dụng mô hình boom-bust vào lịch sử nói chung, diễn giải của tôi trở thành mang phong
cách riêng và gượng gạo hơn. Tuy nhiên, nó có thể làm sáng tỏ, miễn là nó không được coi là quá
nghiêm túc. Đáng tiếc, tôi đã không luôn theo lời khuyên của chính mình, như độc giả sẽ thấy. Nghiêm
trọng hơn, tôi cố trình bày một số ý tưởng về xã hội nên được tổ chức ra sao. Tôi phát triển khái niệm
về xã hội mở, một hiệp hội của các cá nhân tự do tôn trọng các quyền của nhau trong phạm vi một
khung khổ luật pháp.
[4]

Thuyết thị trường chính thống không hoàn toàn chống xã hội mở theo cách các ý thức hệ toàn trị như
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét