Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Tình hình triển khai áp dụng gia tăng đối với hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn Hà Nội

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thuế là khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
Khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn
trả đúng bằng số lợng và khoản thu mà nhà nớc thu từ công dân đó nh là khoản
vay mợn. Nó sẽ đợc hoàn trả lại cho ngời nộp thuế thông qua cơ chế đầu t của
NSNN choviệc sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng.
Tóm lại, thuế là một biện pháp kinh tế của mọi nhà nớc, song biện pháp đó
chỉ xuất hiện và đợc thực thi khi hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng
nguồn thu nhập đợc tạo ra. Thuế là công cụ để các chính phủ dùng để can thiệp
vào kinh tế và là công cụ đắc lực để thực hiện chức năng quản lí kinh tế xã hội.
Thuế không chỉ tạo ra nguồn thu cho chính phủ hoạt động mà còn đóng vai trò
quan trọng trong hệ thống các biện pháp kinh tế vĩ mô của chính phủ.
3. Vai trò của thuế.
Nhà nớc có vai trò quản lí rất quan trọng nhằm tạo lập các cân đối vĩ mô,
điều tiết thi trờng, tạo môi trờng và điều kiện cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm
cho sự thống nhất giữa tăng trởng kinh tế với công bằng xã hội. Nhà nớc quản lí
nền kinh tế bằng chiến lợc và kế hoạch định hớng, chính sách và công cụ kinh tế
nh giá cả, tín dụng, lãi suất, thuế là chủ yếu chứ không thể là sự can thiệp tuỳ
tiện bằng mệnh lệnh hành chính nh trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trớc đây.
Trong những công cụ kinh tế đợc nhà nớc sử dụng để điều chỉnh vĩ mô nền kinh
tế, thuế là phơng tiện có tầm quan trọng đặc biệt. Một chính sách thuế đợc ban
hành hợp lí, phù hợp với khả năng của nền kinh tế, đáp ứng yêu cấu của thực tiễn
thì nó sẽ góp phần khắc phục sự trì trệ và lạc hậu, thúc đẩy nền kinh tế tăng trởng
nhanh chóng, ổn định lâu dài. Ngợc lại, một chính sách không phù hợp sẽ trở
thành một vật cản gây trở ngại cho sự lớn mạnh của nền kinh tế, làm cho nền kinh
tế hoạt động kém hiệu quả, thậm chí có thể gây khủng hoảng về kinh tế, chính trị.
Vai trò của thuế đợc thể hiện:
3.1 Thuế là khoản thu chủ yếu của NSNN.
Xã hội càng phát triển thì chức năng của nhà nớc càng nặng nề. Vì vậy, cần
phải có nguồn thu để thực hiện chức năng đó. Nhà nớc có thể tạo ra nguồn thu
bằng nhiều cách nh vay, bán tài nguyên, in tiền nhng một nền tài chính quốc gia
lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.
Trong hệ thống đòn bẩy của cơ chế mới, thuế là công cụ quan trọng nhất để
phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân, theo đờng lối
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, nguồn thu
từ nớc ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại trở thành mối quan hệ có vay có
trả . Trớc mắt, hệ thống thuế phải là một công cụ quan trọng để góp phần tích cực
vào yêu cầu giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bớc góp phần ổn định
trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển lâu dài. Vì vậy, thuế
phải trở thành nguồn thu chủ yếu, bộ phận cơ bản của một nền tài chính quốc gia
lành mạnh.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Mặt khác, với cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế mới đợc
áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế. Do đó, thuế phải bao quát đợc
hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng
trong xã hội.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN vì nguồn thu từ thuế mang tính ổn
định, không phụ thuộc vào các yếu tố khác, thu thuế đơn giản hơn, ít có điều kiện
ràng buộc với nhà nớc, qua thu thuế nhà nớc biết đợc những tín hiệu của nền kinh
tế để từ đó hoạch định chính sách phát triển nền kinh tế.
3.2 Thuế là công cụ quan trọng trong quản lí vĩ mô nền kinh tế.
- Thuế góp phần ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát.
Giá cả trong nền kinh tế thị trờng đợc qui định bởi cung - cầu hàng hoá. Vì
vậy, trong trờng hợp lạm phát do cầu quá lớn, nhà nớc dùng thuế tác động vào
hàng hoá nh đánh thuế cao lên làm nhu cầu tiêu thụ về hàng hoá giảm, để bán đợc
hàng, ngời bán phải tìm cách giảm giá bán, làm cho giá cả giảm, lạm phát giảm.
Trờng hợp lạm phát do yếu tố đầu vào quá lớn (lạm phát do chi phí đẩy),
nhà nớc sẽ đánh thuế với thuế suất thấp các yếu tố đầu vào làm chi phí thấp hơn,
do đó các nhà sản xuất sẽ bán với giá thấp hơn, lạm phát giảm.
- Thuế là công cụ quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế tạo ra
công ăn việc làm cho ngời lao động.
Thông qua việc xây dựng đúng đắn chính sách thuế, cơ cấu và mối quan hệ
giữa các loại thuế, qua việc xác định hợp lí đối tợng chịu thuế, đối tợng nộp thuế,
thuế suất, chế độ miễn giảm thuế góp phần khuyến khích phát triển các hoạt
động sản xuất cần thiết đồng thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt hàng
cần hạn chế sản xuất và tiêu dùng theo hớng tiết kiệm
Trong điều kiện hiện nay, hệ thống thuế khuyến khích việc bỏ vốn đầu t
phát triển sản xuất bằng cách giảm thuế, nh thông qua việc giảm thuế thu nhập
công ty, giảm thuế tài sản góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật t
trong nớc, tranh thủ vốn đầu t nớc ngoài tạo thêm nhiều công ăn, việc làm cho
ngời lao động.
- Thuế là công cụ góp phần bảo hộ sản xuất trong nớc, tận dụng mọi nguồn
nhân lực, vật lực sẵn có vào phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát
triển một cách lành mạnh theo định hớng của Nhà nớc, góp phần thúc đẩy mối
quan hệ hợp tác giữa các khu vực trên thế giới.
Thông qua việc sử dụng các biện pháp thuế xuất nhập khẩu, hạn ngạch xuất
nhập khẩu, quản lí ngoại hối, trợ giá hàng sản xuất trong nớc, u đãi hoạt động tín
dụng thuế góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện và bảo hộ nền sản xuất trong nớc
phát triển. Đồng thời, thuế đợc xây dựng trên quan điểm mở rộng thị trờng một
cách lành mạnh, nên khuyến khích hợp tác, giao lu hàng hoá giữa các nớc trên thế
giới.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
3.3 Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và
công bằng xã hội.
Sự bình đẳng và công bằng đợc thể hiện thông qua chính sách động viên
giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi hành phần kinh tế có những điều
kiện hoạt động giống nhau và thu nhập giống nhau. Đảm bảo sự bình đẳng và
công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi công dân, không có đặc quyền,
đặc lợi bất hợp lí cho đối tợng nào.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trờng việc phân phối của cải xã hội thờng
dựa trên cơ sở chuẩn mực các yếu tố đầu vào. Mà không phải mọi thành viên trong
xã hội đều có năng lực các yếu tố đấu vào nh nhau nên đòi hỏi phải có sự phân
phối khác nhau. Của cải tập trung phần lớn vào nhóm ngời có năng lực yếu tố đầu
vào lớn nên tạo ra sự phân hoá giầu - nghèo, vì vậy làm giảm cầu của xã hội,
không kích thích nền kinh tế phát triển. Do đó, phải tiến hành phân phối lại thu
nhập trong nền kinh tế thị trờng, đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
và công bằng xã hội.
Nh vậy, thuế có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Để bao
quát hết các nguồn thu cho NSNN, ngời ta chia ra nhiều loại thuế khác nhau.
Trong đó, thuế GTGT là một loại thuế mới, mang tính u việt hơn thay cho thuế
doanh thu.
II. Thuế GTGT và sự cần thiết áp dụng thuế GTGT
trong điều kiện hiện nay ở nớc ta.
1. Lịch sử hình thành thuế GTGT.
Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và ngời đầu tiên nghĩ ra loại
thuế này là một ngời Đức (1918) tên là CARL FRIEDRICH VON SIEMENS. Mặc
dù vậy, ông không thuyết phục đợc chính phủ áp dụng loại thuế mới. Pháp là nớc
đầu tiên ứng dụng triển khai thí điểm thuế GTGT trong thực tiễn thay thế cho thuế
doanh thu không khấu trừ.
Trên thực tế, thuế GTGT ra đời đầu tiên ở Pháp là do kết quả một quá trình
lâu dài nhằm vào việc hoàn thiện hệ thống thuế khoá ở nớc này mà trọng tâm của
nó là để tăng cờng các loại thuế gián thu. Sau chiến tranh thế giới lần thứ I, tại
Pháp đã hình thành một cách thức tiếp cận mang tính chất tổng thể và khoa học
hơn về thuế khoá. Vào năm 1917, Pháp đã bắt đầu áp dụng thuế doanh thu. Thời kì
sơ khai ngời ta chỉ đánh thuế vào giai đoạn cuối cùng của quá trình lu thông hàng
hoá (khâu bán lẻ với thuế suất rất thấp 0,2%). Sau đó, tới năm 1920 ngời ta đa ra
loại thuế doanh thu đánh vào từng khâu của quá trình sản xuất. Trong thực tế, cách
đánh thuế này đã phát sinh ra điều bất lợi là nó có tính chất dồn thuế, tức là quá
trình sản xuất ra sản phẩm càng qua nhiều khâu thì càng phải chịu thuế cao vì thuế
choòng lên thuế. Để khắc phục nhợc điểm trên, năm 1936 Pháp đã cải tổ và quyết
định hình thức thuế doanh thu theo hình thức thuế đánh một lần vào công đoạn
cuối cùng của qua trình sản xuất (tức là khi sản phẩm đợc lu thông lần đầu). Nh
vậy, việc đánh thuế độc lập với độ dài của quá trình sản xuất, khắc phục đợc hiện
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tợng đánh trùng thuế trớc đó. Nhng lúc này nảy sinh hiện tợng bất lợi mới là việc
thu thuế của Nhà nớc bị chậm trễ so với trớc vì chỉ khi sản phẩm đợc đa vào lu
thông lần đầu thì Nhà nớc mới thu đợc thuế. Năm 1948 thuế doanh thu lại tiếp tục
đợc hoàn thiện trên cơ sở đánh thuế vào từng công đoạn của quá trình sản xuất và
tính thuế phải nộp ở giai đoạn sau đợc trừ thuế phải nộp ở giai đoạn trớc. Nhằm
khắc phục tính chất dồn thuế, lúc đầu thuế này chỉ áp dụng đối với hoạt động sản
xuất công nghiệp với thuế suất đồng loạt là 20% và chỉ cho khấu trừ thuế ở khâu
trớc đối với nguyên vật liệu. Sau nhiều lần cải tổ, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện,
thuế GTGT đợc áp dụng đầu tiên vào ngày 1 tháng 7 năm 1954 trong một số
ngành cá biệt và đến ngày 1 tháng 1 năm 1968 nó đợc áp dụng chính thức và có
hiệu lc cả trong lĩnh vực bán lẻ hàng hoá và cung ứng dịch vụ.
Theo một số nhà nghiên cứu kinh tế, thuê GTGT là một trong những đặc
điểm riêng có của một nền kinh tế phát triển nhng ở Pháp ngay từ buổi sơ khai
thuế GTGT ra đời nhằm đáp ứng hai mục tiêu quan trọng: đó là đảm bảo số thu
kịp thời, thờng xuyên cho NSNN và khắc phục tình trạng thuế đánh trùng lắp qua
các khâu sản xuất kinh doanh của thuế doanh thu. Năm 1986 thuế GTGT ở Pháp
đợc áp dụng rộng rãi đối với các ngành nghề sản xuất, lu thông hàng hoá, dịch vụ
với 4 mức thuế suất khác nhau.
Khai sinh ở Pháp, thuế GTGT đã nhanh chóng đợc áp dụng rộng rãi trên thế
giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nớc. Đến nay đã có trên 100 nớc áp
dụng thuế GTGT. Nhìn chung các nớc áp dụng thuế GTGT vì thấy rõ nhợc điểm
của hệ thống thuế đang tồn tại ở nớc họ trên các mặt:
- Thuế doanh thu tính chồng chéo, không đáp ứng đợc yêu cầu của
chính sách động viên hợp lí về thuế.
- Thuế quan đối với hàng nhập có trờng hợp phải miễn giảm để phục
vụ các quan hệ hợp tác trong khu vực hoặc trên thế giới, vừa gây thất thu cho
NSNN, vừa không bảo vệ sản xuất nội địa.
- Có nhiều sắc thuế làm cho hệ thống thuế trở nên nặng nề, cần đợc
thay thế bằng thuế GTGT để có thể bao quát đợc các đối tợng đánh thuế,
nhằm động viên đóng góp của ngời tiêu dùng.
- Sự phát triển của hệ thống thuế không theo kịp sự phát triển của nền
kinh tế.
- Khắc phục một phần tình trạng thất thu thuế cho NSNN.
Tại Việt Nam, thực ra ngay từ trớc giải phóng 1975, chính quyền Sài Gòn
cũng đã ban hành sắc luật số 035 - TT/SLU ngày 21 tháng 12 năm 1972 thiết lập
thuế GTGT đánh trên các hàng hoá, dịch vụ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm
1973, thay thế các sắc thuế sản xuất, thuế tiêu thụ nớc đá, thuế xay lúa Nhng đến
ngày 1 tháng 1 năm 1999 luật thuế GTGT chính thức đợc đa vào áp dụng ở nớc ta.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2. GTGT và thuế GTGT.
2.1 Khái niệm về GTGT.
Nhìn chung mỗi sản phẩm hàng hoá trớc khi đợc phân phối đến tay ngời
tiêu dùng thờng phải trải qua nhiều công đoạn nh sản xuất, bán buôn, bán lẻ. Giá
trị của hàng hoá đó ngày càng tăng lên qua mỗi công đoạn. Thông thờng, ở giai
đoạn đầu tiên, cơ sở sản xuất phải dùng nguyên - nhiên - vật liệu là chủ yếu, còn
đối với các giai đoạn sau, giá trị tăng thêm chủ yếu do công sức lao động và lợi
nhuận tạo nên. Do đó, GTGT là giá trị tăng thêm của sản phẩm hàng hoá hoặc
hoạt động dịch vụ (đợc gọi chung là sản phẩm hàng hoá) do cơ sở sản xuất,chế
biến, gia công dịch vụ, tác động vào nguyên nhiên vật liệu thô, bán thành phẩm
hoặc sản phẩm hàng hoá mua vào làm cho giá trị của chúng tăng thêm. Nói cách
khác, GTGT là khoản chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào của một sản
phẩm hàng hoá.
GTGTđợc tính theo hai phơng pháp: phơng pháp cộng và phơng pháp trừ.
Theo phơng pháp cộng, GTGT đợc hiểu là giá trị các yếu tố cấu thành nên giá trị
tăng thêm bao gồm giá trị lao động (thờng đợc tính bằng chi phí lao động) và lợi
nhuận thu đợc từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Nh vậy,
GTGT = tiền công lao động + lợi nhuận
Theo phơng pháp trừ, GTGT đợc hiểu là khoản chênh lệch giữa giá trị đầu
ra với giá trị của nguyên- nhiên - vật liệu, bán thành phẩm đợc sử dụng ở đầu vào
để tạo ra sản phẩm hàng hoá. Ta có thể biểu diễn qua đẳng thức sau:
GTGT = giá đầu ra - giá đầu vào.
(Giá tính trên là giá cha có thuế GTGT)
2.2 Khái niệm, đặc điểm thuế GTGT.
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, đánh vào việc sử dụng thu nhập, tức
là đánh vào sự chi tiêu, tiêu dùng hàng hoá dịch vụ. Thuế này đợc thu trong tất cả
các khâu của quá trình sản xuất, lu thông và đợc nộp cho nhà nớc trên cơ sở trị giá
tăng thêm trong mỗi khâu, thuế do các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch
vụ nộp nhng ngời tiêu dùng là đối tợng chịu thuế thông qua giá cả hàng hoá dịch
vụ.
Theo điều I, chơng I, luật thuế GTGT của nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam: Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá,
dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lu thông tới tiêu dùng.
Thuế GTGT là loại thuế mới ra đời nhằm khắc phục việc đành thuế trùng
lặp của thuế doanh thu. Thuế GTGT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của các sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ tại mỗi công đoạn sản xuất và lu thông, làm sao để tới
cuối chu kì sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ thì tổng số thuế thu đợc ở
các công đoạn sẽ bằng số thuế tính theo giá bán cho ngời tiêu dùng cuối cùng.
Để hiểu về thuế GTGT, chúng ta xét ví dụ về thuế GTGT đánh vào sản
phẩm A. Giả thiết với thuế suất 10 %, thuế tính trên giá bán cha có thuế và sản
phẩm trải qua 4 công đoạn sản xuất kinh doanh.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
*3 Ngời khai thác bán với giá: 100
*4 Ngời sản xuất bán với giá: 200
*5 Ngời bán buôn bán với giá: 250
*6 Ngời bán lẻ bán với giá: 300
Ta có thuế GTGT phát sinh, cách tính thuế, khấu trừ thuế và số thuế phải
nộp đợc khái quát trong bảng sau:
Bảng 1: Cơ chế vận hành của thuế GTGT
Các khâu
SXKD
Giá
mua ch-
a VAT
GTGT Giá bán
cha
VAT
VAT
đầu ra
VAT
đầu vào
VAT
phải
nộp
1- Khai thác - - 100 10 - 10
2- Sản xuất 100 100 200 20 10 10
3- Bán buôn 200 50 250 25 20 5
4- Bán lẻ 250 50 300 30 25 5
VAT phải nộp 30
Nh vậy, thuế GTGT ngời tiêu dùng phải nộp là 30.
Qua bảng tính thuế trên đây, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của
thuế GTGT nh sau:
- Trong mỗi khâu tiêu thụ hàng hoá, thuế GTGT đều đợc tính trên giá bán
hàng hoá (giá bán cha có thuế GTGT).
- Tính thuế GTGT phải nộp ở giai đoạn sau đều đợc khấu trừ thuế GTGT đã
nộp ở giai đoạn trớc nên không gây ra hiện tợng trùng lắp. Cũng vì đặc trng
này, ngời ta gọi thuế GTGT là thuế doanh thu có khấu trừ. Kết quả thu đợc
ở mỗi khâu đều kiểm tra đợc việc tính thuế và thu thuế ở khâu trớc
- Hiệu quả của thuế GTGT không phụ thuộc vào việc tổ chức và sự phân
chia các chu trình kinh tế, cho dù sản phẩm trải qua nhiều hay ít công đoạn,
tổng số thuế phải nộp cũng chỉ bằng giá mua cha có thuế của ngời tiêu dùng
cuối cùng nhân với thuế suất. Đó chính là nguyên tắc cơ bản của thuế
GTGT, vì vậy, thuế GTGT không làm giá đột biến khi phải trải qua nhiều
công đoạn sản xuất, lu thông hàng hoá và do đó có ảnh hởng tích cực tới
hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Theo ví dụ nêu trên, tổng số thuế GTGT do ngời tiêu dùng ở khâu cuối
cùng phải chịu là 30, nhng đợc thu qua từng công đoạn: khai thác : 10, sản
xuất : 10, bán buôn : 5, bán lẻ : 5. Số thuế này đợc ngời bán ghi vào hoá đơn
để thu toàn bộ qua từng khâu cho nên thuế này đợc chuyển toàn bộ cho ng-
ời mua hàng và tiêu dùng cuối cùng.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nếu sản phẩm trên không tiêu thụ ở thị trờng trong nớc mà đợc xuất khẩu
thì ngời xuất khẩu đợc hoàn lại số thuế đã nộp ở khâu bán hàng của ngời sản xuất,
tức là 30.
Tại từng công đoạn, ngời bán hàng phải:
+ Đa hoá đơn cho khách hàng trong đó ghi rõ giá bán cha có thuế, thuế
GTGT phải nộp và toàn bộ số tiền mà khách hàng phải thanh toán.
+ Tính số thuế GTGT đã nộp ở khâu trớc để đợc khấu trừ ở khâu này theo
đúng qui định của luật thuế GTGT.
+ Chỉ nộp vào kho bạc Nhà nớc số chênh lệch giữa số thuế GTGT phải nộp
và số thuế GTGT đợc khấu trừ.
Nh vậy, một trong những nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT là sản phẩm
hàng hoá qua nhiều hay ít khâu trung gian từ sản xuất đến tiêu dùng đều chịu thuế
nh nhau. Sau khi chuyển nhợng lần đầu, những lần mua bán tiếp theo sản phẩm
hàng hoá sẽ chỉ chịu thuế GTGT tính trên phần doanh thu tăng thêm.
3. Nội dung cơ bản của thuế GTGT hiện hành ở Việt Nam
3.1 Đối tợng chịu thuế và đối tợng nộp thuế.
Đối tợng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ở Việt Nam (tiêu
dùng cho sản xuất và sinh hoạt) không kể là hàng hoá dịch vụ đợc sản xuất cung
ứng từ trong nớc hay nhập khẩu, trừ 26 nhóm mặt hàng đợc qui định tại điều IV
luật thuế GTGT và mục I - thông t 175.
Đối tợng nộp thuế GTGT là tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản
xuất, kinh doanh hoặc nhập khẩu hàng hoá dịch vụ (gọi chung là cơ sở kinh
doanh) thuộc diện chịu thuế GTGT là đối tợng nộp thuế GTGT. Cụ thể:
Các tổ chức kinh doanh không phân biệt thành phần kinh tế, doanh nghiệp
trong nớc hoặc doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, là doanh nghiệp nhà nớc
hoặc doanh nghiệp ngoài quốc doanh, là hợp tác xã hay bất kì một đơn vị kinh tế
trực thuộc nào có hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá, cung cấp
dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT.
Các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ thuộc diện chịu thuế GTGT.
3.2 Căn cứ tính thuế GTGT.
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất.
Giá tính thuế GTGT:
- Đối với hàng hoá dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra hoặc cung
ứng cho đối tợng khác là giá bán cha có thuế GTGT.
- Đối với hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu (thờng
là giá CIF) cộng với thuế nhập khẩu. Trờng hợp hàng hoá nhập khẩu đợc
miễn hoặc giảm thuế thì giá tính thuế GTGT là giá hàng hoá nhập khẩu
cộng với thuế nhập khẩu đợc xác định theo mức đã đợc miễn giảm.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Đối với dịch vụ do phía nớc ngoài cung ứng cho các đối tợng tiêu dùng ở
Việt Nam, là giá cha có thuế GTGT ghi trong hợp đồng.
- Đối với hàng hoá, dịch vụ sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu tặng,
là giá bán cha có thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tơng đ-
ơng tại thời điểm phát sinh các hoạt động trao đổi, sử dụng nội bộ hoặc biếu
tặng.
- Đối với hoạt động cho thuê tài sản, là số tiền thuê thu từng kì.
- Đối với hàng hoá bán theo phơng thức trả góp là giá bán của hàng hoá tính
theo giá bán trả một lần, không tính theo số tiền trả từng kì, không bao gồm
lãi trả góp.
- Đối với gia công hàng hoá là giá gia công cha có thuế GTGT, bao gồm:
tiền công, tiền nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và các chi phí khác để gia
công.
- Đối với hàng hoá, dịch vụ khác là giá do chính phủ qui định.
Giá tính thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ qui định ở trên bao gồm cả
khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh đợc hởng.
Trờng hợp đối tợng nộp thuế có doanh số mua bán bằng ngoại tệ thì phải
qui đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỉ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nớc
Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh số để xác định giá tính thuế.
*7 Thuế suất thuế GTGT.
Theo qui định tại điều 8 luật thuế GTGT và điều 7 NĐ 28/1998/ NĐ- CP và
điều 5 mục 2 TT 175/1998/ TT- BTC, thuế GTGT có 4 mức thuế suất: 0%, 5%,
10%, 20%.
Nhóm thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu.
Nhóm thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hoá dịch vụ thiết yếu dùng
cho sản xuất và tiêu dùng.
Nhóm thuế suất 10% là thuế suất phổ thông.
Nhóm thuế suất 20% áp dụng đối với các hàng hoá dịch vụ không thiết
yếu cần điều tiết.
Nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh nhiều loại hàng hoá dịch vụ khác nhau thì
phải tổ chức hạch toán kế toán riêng doanh thu từng loại hàng hoá theo từng mức
thuế suất qui định đối với hàng hoá dịch vụ. Nếu không hạch toán đợc nh vậy thì
doanh nghiệp phải tính thuế GTGT theo mức thuế suất cao nhất của hàng hoá dịch
vụ mà cơ sở có sản xuất, kinh doanh trên tổng doanh thu của tất cả các hàng hoá,
dịch vụ bán ra trong kì.
3.3 Phơng pháp tính thuế GTGT:
Có 2 phơng pháp tính thuế GTGT: Phơng pháp khấu trừ thuế và phơng pháp
tính trực tiếp trên GTGT.
Phơng pháp khấu trừ thuế:
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Phơng pháp khấu trừ thuế đợc áp dụng cho tất cả các CSSXKD đã thực hiện
đầy đủ các yêu cầu về mở và ghi sổ kế toán, chấp hành đầy đủ các qui định của
chế độ hoá đơn, chứng từ.
CSKD đăng kí nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ phải sử dụng hoá
đơn GTGT - mẫu số 01/GTGT (trừ tròng hợp đợc dùng chứng từ ghi giá thanh toán
đã có thuế GTGT). Trên hoá đơn phải ghi rõ: giá bán cha có thuế GTGT, các
khoản phụ thu, thuế GTGT và tổng số tiền phải thanh toán.
Thuế GTGT phải nộp là số chênh lệch giữa thuế GTGT đầu ra và thuế
GTGT đầu vào. Có thể biểu diễn qua công thức:
Thuế GTGT phải nộp = thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra
- thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào.
Trong đó:
Thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra là số thuế tính trên tổng giá bán
(cha bao gồm thuế GTGT) của hàng hoá, dịch vụ bán ra trong kì. Thuế GTGT đầu
ra đợc tính theo công thức:
Thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra = Giá tính thuế hàng hoá dịch vụ
chịu thuế bán ra ì thuế suất tơng ứng của từng loại hàng hoá dịch vụ.
Thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào là số thuế GTGT đợc ghi trên
hoá đơn GTGT khi mua hàng hoá, dịch vụ hoặc trên chứng từ nộp thuế GTGT của
hàng hoá dịch vụ nhập khẩu.
Phơng pháp trực tiếp trên GTGT.
Theo phơng pháp này thuế GTGT đợc tính trực tiếp trên giá tri gia tăng của
hàng hoá, dịch vụ chịu thuế do cơ sở kinh doanh bán ra.
Đối tợng áp dụng phơng pháp tính trực tiếp trên GTGT là các cá nhân, tổ
chức kinh doanh cha thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ
để làm căn cứ tính thuế theo phơng pháp khấu trừ thuế; các cơ sở sản xuất kinh
doanh, mua bán vàng, bạc, đá quí, ngoại tệ.
Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phơng pháp này sử dụng hoá đơn thông th-
ờng - mẫu số 02/GTGT, trong đó giá tính thuế là giá đã có thuế GTGT.
Thuế GTGT phải nộp = GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế ì thuế
suất thuế GTGT tơng ứng.
Hoặc:
Thuế GTGT phải nộp =[giá thanh toán của hàng hoá dịch vụ bán ra -
giá thanh toán của hàng hoá dịch vụ mua vào tơng ứng] ì thuế suất thuế
GTGT tơng ứng.
Trong đó:
GTGT là chênh lệch giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra và giá
thanh toán hàng hoá, dịch vụ mua vào tơng ứng.
Giá thanh toán hàng hoá, dịch vụ bán ra là số tiền bên mua phải thanh toán
cho bên bán gồm cả thuế GTGT và phụ thu, phí thu thêm mà bên mua phải trả.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Giá thanh toán hàng hoá dịch vụ mua vào đợc xác định bằng giá trị hàng
hoá dịch vụ mua vào tơng ứng với giá của hàng hoá dịch vụ bán ra đợc xác định
bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào (bao gồm cả thuế GTGT) mà cơ sở kinh
doanh đã dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra.
Thuế suất thuế GTGT tơng ứng là mức qui định đối với từng loại hàng hoá,
dịch vụ tơng ứng với hàng hoá, dịch vụ bán ra.
3.4 Miễn giảm thuế, hoàn thuế GTGT.
- Về nguyên tắc không qui định miễn giảm thuế GTGT vì thuế GTGT là
thuế gián thu do ngời tiêu dùng chịu, nhng do trong thời gian chuyển từ thuế
doanh thu với 11 mức thuế suất sang thuế GTGT chỉ còn 4 mức thuế suất nên có
một số doanh nghiệp gặp phải khó khăn. Do vậy, điều 28 luật thuế GTGT qui
định:
Cơ sở sản xuất kinh doanh, xây dựng, vận tải hoạt động kinh doanh trong ba
năm đầu (1999, 2000, 2001) nếu áp dụng thuế GTGT mà bị lỗ do số thuế GTGT
phải nộp của các hoạt động này lớn hơn số thuế phải nộp tính theo mức thuế doanh
thu trớc đây thì đợc xét giảm thuế GTGT. Thuế đợc xét giảm theo từng năm (tính
theo năm dơng lịch).
Các cơ sở kinh doanh dịch vụ khác nếu phát sinh lỗ thì không đợc xét giảm
thuế GTGT.
Mức thuế đợc xét giảm tơng ứng với số lỗ của năm xét giảm nhng tối đa
không quá 50% số thuế GTGT phải nộp.
Ngoài ra, còn một số trờng hợp khác đợc xét giảm thuế theo TT 102 /TT-
BTC.
Hoàn thuế GTGT là việc NSNN trả lại cho cơ sở kinh doanh số tiền thuế
GTGT đầu vào đã trả khi mua hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh còn đợc
khấu trừ trong kì tính thuế. Việc hoàn thuế GTGT chỉ thực hiện trong các trờng
hợp:
- Cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ thuế
đợc xét hoàn thuế hàng quí nếu số thuế đầu vào đợc khấu trừ của các tháng
trong quí lớn hơn số thuế đầu ra hoặc đợc hoàn thuế đầu vào của tài sản cố
định theo điểm c khoản I điều 10 của luật thuế GTGT.
- Quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản có số
thuế nộp thừa;
- Quyết định xử lí hoàn thuế của cơ quan có thẩm quyền theo qui định của
pháp luật.
4. Những u điểm, thách thức đặt ra và điều kiện áp dụng thuế GTGT.
4.1 Ưu điểm.
Là một loại thuế gián thu, thuế GTGT cũng nh thuế doanh thu đảm bảo cho
mọi ngời có thể tự do lựa chọn hàng hoá, quyết định tiêu dùng để chịu thuế cao
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét