Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nguyn Thuý Hng Ngõn hng K15B
1.1.2 Chức năng của NHTM trong nền kinh tế:
Có thể nói, đặc trng hoạt động của NHTM đợc thể hiện rõ nhất thông
qua các chức năng của NHTM:
* Chức năng làm thủ quĩ cho xã hội
Đây là chức năng đầu tiên có từ thời kì sơ khai của hoạt động ngân
hàng, xuất phát từ nhu cầu đảm bảo tài sản và mong muốn tích luỹ giá trị.
Thực hiện chức năng này, NHTM là nơi nhận tiền gửi của các cá nhân, các
doanh nghiệp và các tổ chức. Ngân hàng giữ tiền cho khách hàng của mình và
đáp ứng các yêu cầu chi tiêu của họ. Khi nền kinh tế phát triển, thu nhập của
cá nhân, doanh nghiệp ngày càng cao, tích luỹ ngày càng lớn thì nhu cầu bảo
đảm an toàn về tài sản và mong muốn đợc sinh lời từ khoản tiền có đợc của
các chủ thể kinh tế cũng ngày càng cao. Vì thế, chức năng này của ngân hàng
ngày càng phát triển. Nó đem lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng. Đối
với ngân hàng, việc nhận các khoản tiền gửi là cơ sở để tạo ra nguồn vốn cho
hoạt động ngân hàng. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn lớn nhất, đảm bảo
cho ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh.
* Chức năng trung gian thanh toán
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, trao đổi hàng hoá ngày càng phức
tạp thì việc thanh toán trực tiếp giữa các chủ thể kinh tế bằng tiền mặt có rất
nhiều hạn chế, đó là rủi ro mất mát khi vận chuyển, chi phí thanh toán lớn
Vì thế, xuất hiện nhu cầu thanh toán qua ngân hàng. Việc ngân hàng nhận các
khoản tiền gửi, thực hiện các yêu cầu thu chi của khách hàng chính là tiền đề
để ngân hàng thực hiện vai trò trung gian thanh toán.
Khi ngân hàng thực hiện thanh toán theo yêu cầu thu chi của khách
hàng nh trích tiền từ tài khoản tiền gửi để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hay
nhập vào tài khoản tiền gửi tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh
của khách hàng thì tức là ngân hàng đã thực hiện vai trò tring gian thanh toán.
Chức năng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động kinh tế.
Thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng góp phần tiết kiệm chi phí lu
thông tiền mặt, đảm bảo thanh toán an toàn, giúp các chủ thể kinh tế thực hiện
Kinh T Quc Dõn 5 Khoa Ngõn Hng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nguyn Thuý Hng Ngõn hng K15B
thanh toán nhanh chóng và hiệu quả. Nhờ đó, nó góp phần làm tăng tốc độ lu
thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển vốn và do đó tăng hiệu quả của quá trình
tái sản xuất xã hội. Việc cung cấp các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
cũng góp phần tăng thu nhập, tạo uy tín cho ngân hàng. Việc chu chuyển tiền
tệ hiện nay trong bất kì một nền kinh tế nào cũng chủ yếu là thông qua hệ
thống NHTM và chỉ khi chức năng trung gian thanh toán đợc khẳng định nh là
thủ quỹ của xã hội.
* Chức năng trung gian tín dụng
Ngân hàng nhận các khoản tiền gửi từ các chủ thể kinh tế - đó là những
khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, nhờ đó ngân hàng hình
thành nên quĩ cho vay và đem cho vay đối với các chủ thể kinh tế khác đang
có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM đã khắc phục đợc những hạn
chế của quá trình tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tài sản xã hội, thệ hiện
rõ bản chất của các NHTM: đi vay để cho vay.
Bằng chức năng này, NHTM trở thành cầu nối giữa ngời có vốn d thừa
và ngời có nhu cầu về vốn và đem lại lợi ích cho cả ngời gửi tiền, ngân hàng và
ngời đi vay. Ngời gửi tiền thoả mãn đợc nhu cầu an toàn tài sản và kiếm đợc
lời từ khoản lãi tiền gửi. Ngời đi vay thoả mãn đợc nhu cầu vốn để kinh doanh,
chi tiêu, thanh toán. NHTM tìm kiếm đợc lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất, đây
là nguồn thu quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Chức năng
này của NHTM còn đem lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế, vì nó đáp ứng nhu
cầu vốn cho quá trình tái sản xuất thông qua việc chuyển hoá vốn nhàn rỗi
thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất
kinh doanh.
1.1.3 Vai trò của NHTM trong nền kinh tế:
NHTM đóng vai trò khá quan trọng trong nền kinh tế. Trớc hết, NHTM
là nơi cung ứng vốn cho nền kinh tế. NHTM, thông qua hoạt động nhận tiền
gửi và các dịch vụ thanh toán, đã đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rõi và
tạm thời nhàn rỗi, rồi thông qua hoạt động cấp tín dụng, cung cấp vốn cho mọi
hoạt động kinh tế. Với vai trò này, NHTM trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp
Kinh T Quc Dõn 6 Khoa Ngõn Hng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nguyn Thuý Hng Ngõn hng K15B
với thị trờng, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất, mở
rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thị trờng, NHTM hoạt động một cách có
hiệu quả còn là một công cụ để nhà nớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Không
những góp phần mở rộng khối lợng tiền cung ứng trong lu thông, hệ thống
NHTM còn thực hiện việc tập hợp và phân bổ vốn của thị trờng, dẫn dắt các
luồng tiền tệ trong lu thông, điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi
vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô.
NHTM còn là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.
Với các nghiệp vụ kinh doanh nh nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán và các
nghiệp vụ ngân hàng khác, NHTM tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thơng không
ngừng phát triển. Thông qua các hoạt động với các NHTM nớc ngoài, hệ
thống NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nớc phù hợp với
sự vận động cuả nền tài chính quốc tế. Ngày nay, những hoạt động của hệ
thống NHTM là không thể thiếu đối với bất kì một nền kinh tế nào.
1.2 dự phòng rủi ro trong hoạt động của nhtm:
1.2.1 Rủi ro - nhân tố tất yếu trong hoạt động NHTM:
Có thế nói, hoạt động của NHTM gần gũi nhất với nhân dân và nền kinh
tế. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, hoạt động và dịch vụ của ngân hàng
ngày càng xuất hiện nhiều hơn, tham gia vào mọi hoạt động của nền kinh tế và
đời sống con ngời. Cũng vì thế, hoạt động ngân hàng trở thành lĩnh vực nhạy
cảm, là hệ thần kinh của nền kinh tế.
Đối tợng kinh doanh của NHTM là tiền tệ và hoạt động kinh doanh của
các ngân hàng là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Do đó, hoạt
động của ngân hàng rất nhạy cảm với mọi biến động của nền kinh tế. Những
biến động về giá cả, về quan hệ cung cầu, về chu kì phát triển của nền kinh tế,
về lạm phát, về thất nghiệp, đều có ảnh hởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến
hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn hoạt động của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng
tạo lập và huy động đợc để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh, bao gồm
Kinh T Quc Dõn 7 Khoa Ngõn Hng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nguyn Thuý Hng Ngõn hng K15B
vốn huy động, vốn đi vay, vốn khác và vốn tự có. Trong đó, vốn huy động là
nguồn vốn chủ yếu và đóng vai trò quan trọng nhất.Tuy nhiên nguồn vốn này
lại không thuộc sở hữu của ngân hàng mà là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi
trong dân c, đợc tạo lập từ nhiều hình thức khác nhau nên tính ổn định thấp, dễ
biến động. Vì thế, hoạt động của ngân hàng trở nên rất rủi ro.
Hoạt động sử dụng vốn của các ngân hàng hiện nay đã đợc đa dạng hoá
nhng hoạt động chủ yếu vẫn là cấp tín dụng, chiếm tỉ trọng tới 60% - 70%
trong tổng tài sản có của các NHTM. Tuy nhiên, khi ngân hàng cho khách
hàng vay, ngân hàng phải gánh chịu rủi ro. Món vay có thể đợc trả lại đầy đủ
nhng cũng có thể trở nên khó đòi và ngân hàng có thể mất toàn bộ số tiền cho
vay. Nh vậy, tín dụng hoạt động chủ yếu của ngân hàng lại là mảng kinh
doanh chứa đựng rất nhiều rủi ro.
Thêm vào đó, đối tợng khách hàng của ngân hàng rất đa dạng, từ cá
nhân, hộ gia đình, đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các tổng công ty và
hoạt động trên mọi địa bàn, từ thành phố đến vùng núi xa xôi; mọi lĩnh vực
ngành nghề kinh doanh, từ sản xuất, phân phối, lu thông đến tiêu dùng. Do đó,
một điều tất yếu là rủi ro rất dễ xảy ra đối với các hoạt động của ngân hàng.
1.2.2 Rủi ro trong hoạt động của NHTM:
1.2.2.1 Rủi ro lãi suất:
Một ngân hàng chịu rủi ro lãi suất khi có sự không cân xứng về kì hạn
giữa tài sản có và tài sản nợ. Khi lãi suất thị trờng biến động, cùng với sự
không cân xứng về kì hạn sẽ làm cho ngân hàng gặp rủi ro. Rủi ro lãi suất đợc
biểu hiện ở ba dạng:
* Rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ:
Trong trờng hợp ngân hàng duy trì tài sản có có kì hạn dài hơn so với
tài sản nợ thì ngân hàng đứng trớc rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với
tài sản nợ. Rủi ro sẽ thành hiện thực nếu trong những năm tiếp theo, lãi suất
huy động vốn có xu hớng tăng lên trên mức lãi suất đầu t tín dụng dài hạn.
* Rủi ro lãi suất tái đầu t tài sản có:
Kinh T Quc Dõn 8 Khoa Ngõn Hng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nguyn Thuý Hng Ngõn hng K15B
Ngợc lại với trờng hợp trên, nếu ngân hàng duy trì tài sản có có kì hạn
ngắn hơn so với tài sản nợ và lãi suất đầu t có xu hớng thấp hơn lãi suất huy
động thì ngân hàng gặp rủi ro về lãi suất trong việc tái đầu t đối với tài sản có.
* Rủi ro giảm giá trị tài sản:
Giá trị thị trờng của tài sản có hay tài sản nợ của ngân hàng là dựa trên
khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Nếu lãi suất thị trờng tăng lên thì mức
chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên và vì thế giá trị hiện tại của tài sản có
hay tài sản nợ giảm xuống và ngợc lại. Vì thế nếu kì hạn của tài sản có và tài
sản nợ không cân xứng nhau, ví dụ tài sản có có kì hạn lớn hơn tài sản nợ thì
khi lãi suất thị trờng tăng, giá trị tài sản có giảm nhanh và nhiều hơn so với sự
giảm giá trị của tài sản nợ ngân hàng đã gặp rủi ro giảm giá trị tài sản khi
lãi suất thay đổi.
1.2.2.2 Rủi ro ngoại hối:
Trong nền kinh tế hiện nay, các ngân hàng không chỉ bó hẹp hoạt động
trong một quốc gia mà các ngân hàng đã da dạng hoá danh mục đầu t quốc tế.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng không chỉ liên quan đến nội tệ mà cả ngoại
tệ, vì thế hoạt động ngân hàng chứa đựng cả rủi ro ngoại hối. Khi ngân hàng
duy trì một trạng thái hối đoán mở, mở trờng hoặc mở đoản, thì khi tỷ giá biến
động, giá trị tài sản có ròng bằng ngoại tệ sẽ thay đổi và rủi ro ngoại hối xảy
ra khi giá trị này âm. Ngoài ra, khi kì hạn tài sản có ngoại tệ và tải sản nợ
ngoại tệ không cân xứng nhau thì rủi ro có thể xảy ra với ngân hàng khi lãi
suất ngoại tệ biến động tơng tự nh rủi ro lãi suất.
1.2.2.3 Rủi ro thanh khoản:
Rủi ro thanh khoản là tình trạng ngân hàng không có đủ nguồn vốn
hoặc không thể tìm đợc nguồn từ bên ngoài để tài trợ cho hoạt động kinh
doanh của mình. Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những ngời gửi tiền đồng
Kinh T Quc Dõn 9 Khoa Ngõn Hng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nguyn Thuý Hng Ngõn hng K15B
thời có nhu cầu rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức. Rủi ro thanh khoản xảy
ra đối với các ngân hàng là thờng xuyên. Nguyên nhân chính xuất phát từ đặc
điểm mang tính đặc thù của bảng cân đối tài sản của ngân hàng: đó là các
ngân hàng dùng các nguồn vốn ngắn hạn bên tài sản nợ để tài trợ cho các tài
sản dài hạn bên tài sản có. Trong điều kiện bình thờng, nhu cầu thanh khoản
của một ngân hàng có thể dự đoán trớc đợc và đợc đảm bảo bằng tiền mặt dự
trữ hoặc các tài sản có có tính lỏng cao. Tuy nhiên, trong trờng hợp đặc biệt,
khi ngời dân mất lòng tin vào ngân hàng hoặc nhu cầu rút tiền có tính chất thời
vụ mà ngân hàng không dự tính trớc đợc, đòi hỏi ngân hàng phải chi trả tức
thời một khoản tiền lớn hơn mức bình thờng thì ngân hàng có thể phải đối mặt
với rủi ro thanh khoản. Trong trờng hợp đó, ngân hàng sẽ phải bán các tài sản
có độ thanh khoản thấp để đáp ứng nhu cầu của ngời gửi tiền. Vì vậy, rủi ro
thanh khoản có thể ảnh hởng rất lớn đến hoạt động ngân hàng.
1.2.2.4 Rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trờng hợp ngân hàng không thu đợc đầy
đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc là thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kì
hạn. Khi ngân hàng cung cấp bất kì một khoản tín dụng nào cho khách hàng
thì nó phải thoả mãn ba nguyên tắc: khoản tín dụng đó phải đợc sử dụng đúng
mục đích và có hiệu quả, phải có bảo đảm tín dụng và phải đợc hoàn trả cả gốc
và lãi theo đúng kì hạn đã cam kết. Tuy nhiên, khi ngân hàng đã cấp tín dụng
cho khách hàng, vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà khoản vay đó không đợc
hoàn trả đúng hạn hoặc mất hoàn toàn khả năng thu hồi lại. Khi đó rủi ro tín
dụng đã xảy ra với ngân hàng. Nó dẫn đến những tổn thất về tài chính cho
ngân hàng, dẫn đến sự thua lỗ hoặc thậm chí phá sản.
Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Rủi ro
giao dịch là rủi ro phát sinh khi ngân hàng tích luỹ các khoản cho vay, nó bao
gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn là rủi
ro liên quan đến hoạt động thẩm định và phân tích tín dụng. Rủi ro bảo đảm là
rủi ro xuất phát từ các tiêu chuẩn bảo đảm của khoản tín dụng nh các điều
khoản trong hợp đồng tín dụng, các loại tài sản đảm bảo và mức độ an toàn
của tài sản đảm bảo. Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan tới các quá trình, thao
Kinh T Quc Dõn 10 Khoa Ngõn Hng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nguyn Thuý Hng Ngõn hng K15B
tác nghiệp vụ tín dụng từ việc xây dựng và thực hiện các chính sách tín dụng,
việc xem xét và quản lý danh mục cho vay đến việc xếp hạng tín dụng và kĩ
thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại
và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại là rủi ro xuất phát từ những đặc điểm riêng
biệt của chủ thể đi vay hay của ngành kinh tế. Rủi ro tập trung là rủi ro xảy ra
khi mức d nợ của ngân hàng tập trung vào một số khách hàng, một số ngành
kinh tế hoặc một khu vực địa lý hoặc một số hình thức cho vay.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân
hàng. Đó có thể là nguyên nhân khách quan xuất phát từ môi trờng kinh tế vĩ
mô, môi trờng pháp lý, hoặc nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng nh
trình độ quản lý, trình độ cán bộ, đạo đức nghề nghiệp, thông tin không cân
xứng hoặc nguyên nhân chủ quan từ khách hàng nh cố tình không trả nợ, sử
dụng sai mục đích tiền vay hoặc nguyên nhân xuất phát từ tài sản đảm bảo
nh giá trị giảm, không bán đợc
1.2.2.5 Rủi ro hoạt động ngoại bảng:
Hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng cân đối tài
sản, nhng lại có thể tạo ra nhng tài sản có và tài sản nợ bổ sung cho bảng cân
đối nội bảng. Đối với những hoạt động ngoại bảng, ngân hàng đã thu đợc phí
và hạch toán vào bảng báo cáo thu nhập chi phí trong khi cha phải sử dụng đến
vốn kinh doanh. Vì thế, hoạt động này đem lại thu nhập cho ngân hàng nhng
cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Khi các đối tác của ngân hàng không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đã cam kết trong các nghiệp vụ
bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán và các
cam kết về nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ thì ngân hàng sẽ phải sử dụng vốn
kinh doanh của mình để thực hiện các nghĩa vụ bảo lãnh, khi ấy tài sản ngoại
bảng chuyển thành tài sản nội bảng và ngân hàng gặp phải rủi ro. Do sự phong
phú, đa dạng của các hoạt động ngoại bảng cũng nh việc sử dụng tích cực một
số hoạt động ngoại bảng vào việc phòng ngừa rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối
và rủi ro tín dụng nên việc quản trị và điều hành có hiệu quả các nghiệp vụ
ngoại bảng là điều rất cần thiết.
1.2.2.6 Rủi ro công nghệ và hoạt động:
Kinh T Quc Dõn 11 Khoa Ngõn Hng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nguyn Thuý Hng Ngõn hng K15B
Rủi ro cộng nghệ phát sinh khi những khoản đầu t cho phát triển công
nghệ không tạo ra đợc những khoản tiết kiệm trong chi phí nh đã dự tính khi
mở rộng qui mô hoạt động. Việc đầu t cho công nghệ có thể tạo cho ngân
hàng một sức cạnh tranh mạnh mẽ, cho phép ngân hàng phát triển các sản
phẩm mới, tiên tiến hiện đại. Nhng đầu t cho công nghệ bao giờ cũng là những
khoản đầu t rất lớn nên rủi ro về công nghệ xảy ra có thể gây nên những hậu
quả nặng nề nh giảm khả năng cạnh tranh, dẫn đến sự phá sản của ngân hàng
trong tơng lai
Rủi ro hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với rủi ro công nghệ và có thể
phát sinh bất cứ khi nào nếu hệ thống công nghệ bị trục trặc hoặc khi hệ thống
hỗ trợ bên trong ngừng hoạt động. Rủi ro hoạt động xảy ra có thể ảnh hởng
nghiêm trọng tới các giao dịch thờng xuyên của ngân hàng và gây thiệt hại
không nhỏ cho ngân hàng.
1.2.2.7 Các rủi ro khác:
Ngoài các rủi ro cơ bản trên, hoạt động ngân hàng có thể gặp phải một
số rủi ro khác nh: rủi ro quốc gia, rủi ro bắt nguồn từ yếu tố kinh tế vĩ mô nh
lạm phát tăng, sự biến động của giá cả hàng hoá, thất nghiệp hoặc rủi ro xuất
phát do ảnh hởng của chiến tranh, sự sụp đổ của thị trờng chứng khoán, sự
thay đổi đột ngột về thuế, rủi ro đạo đức
1.2.3 Vai trò của dự phòng rủi ro hoạt động của NHTM:
Những hoạt động của NHTM luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, hay nói cách
khác, NHTM là nơi chứa đựng, hứng chịu các rủi ro của nền kinh tế. Những
rủi ro này không chỉ dẫn tới những tác động xấu ảnh hởng xấu tới hoạt động
của bản thân ngân hàng mà nó còn gây ra những ảnh hởng xấu tới toàn bộ hệ
thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế. Hoạt động của NHTM có liên quan
tới nhiều chủ thể kinh tế, vì thế khi ngân hàng gặp rủi ro thì những cá nhân,
doanh nghiệp có giao dịch với ngân hàng cũng đồng thời phải gánh chịu rủi ro.
Với vai trò là trung gian tài chính, NHTM cũng đồng thời là tác nhân làm lan
Kinh T Quc Dõn 12 Khoa Ngõn Hng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nguyn Thuý Hng Ngõn hng K15B
truyền và nhân rộng rủi ro trong nền kinh tế. Chính vì có các trung gian tài
chính là các NHTM mà trong các cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính, tác hại
đã nhanh chóng lan truyền làm sụp đổ, phá sản các tổ chức tài chính, các
doanh nghiệp trong nền kinh tế. Mặt khác, sự sụp đổ trong hệ thống NHTM là
có tính dây truyền. Khi một ngân hàng gặp rủi ro dẫn đến phá sản thì nó sẽ
kéo theo các ngân hàng khác cũng gặp khó khăn và điều đó có thể làm sụp đổ
cả hệ thống ngân hàng của quốc gia đó. Chính vì thế, bảo đảm an toàn cho
hoạt động kinh doanh ngân hàng là rất quan trọng. Điều đó đợc thể hiện ở một
số vấn đề mấu chốt nh vốn điều lệ, khả năng cung cấp những sản phẩm tạo
nguồn thu chi tài chính, quản trị điều hành tài chính, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro
Đối với mỗi loại rủi ro có thể gặp phải, NHTM đều có những biện pháp
cụ thể để hạn chế và xử lý những tổn thất. Điều quan trọng nhất đối với các
ngân hàng là nâng cao đợc tính chủ động và tự chịu trách nhiệm trong việc xử
lý rủi ro. Trích lập và sử dụng quĩ dự phòng rủi ro là một trong những biện
pháp chủ động của các ngân hàng để phòng ngừa rủi ro trong quá trình hoạt
động kinh doanh. Nó đợc xem nh một chiếc đai an toàn nhằm giảm thiểu
những ảnh hởng của rủi ro đối với hoạt động của NHTM. Vì thế, vai trò của
trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro ngày càng trở nên quan trọng đối với hoạt
động của bất kì ngân hàng nào:
+ Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng sử dụng các nguồn khác nhau để bù đắp
cho những tổn thất gặp phải. Đó có thể là tiền bồi thờng của các nhân, tập thể
gây ra tổn thất, hoặc tiền bồi thờng của các tổ chức bảo hiểm, hoặc số tiền thu
về do bán, phát mại tài sản đảm bảo, hoặc nguồn dự phòng đã trích Nh vậy,
dự phòng rủi ro đợc trích hàng quý vào chi phí hoạt động là một biện pháp
giúp các NHTM bảo đảm an toàn vốn, giảm thiểu những tổn thất trong quá
trình hoạt động kinh doanh. Có thể coi nguồn quỹ này là chiếc phao cứu cánh
cho các NHTM thời kinh tế thị trờng.
+ Dự phòng rủi ro góp phần làm tăng tính chủ động trong xử lý rủi ro
của các NHTM. Do là nguồn dự phòng đợc tính vào chi phí hoạt động của
ngân hàng, các ngân hàng tự tính toán trên cơ sở phân loại tài sản Có, nên đây
Kinh T Quc Dõn 13 Khoa Ngõn Hng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nguyn Thuý Hng Ngõn hng K15B
là nguồn quỹ mà các ngân hàng có thể sử dụng một cách chủ động để xử lý
khi cần thiết. Nó cũng thể hiện tính tự chịu trách nhiệm của các ngân hàng - tự
cân đối giữa thu nhập và chi phí để đảm bảo hiệu quả hoạt động.
+ Nguồn dự phòng rủi ro còn góp phần làm sạch tình hình tài chính của
các NHTM. Bởi lẽ, nguồn quỹ này giúp các ngân hàng chủ động xử lý đợc các
khoản nợ xấu trên bảng cân đối, đồng thời cũng kích thích ngân hàng tìm mọi
biện pháp để thu nợ. Do vậy, trên bảng cân đối của ngân hàng, số nợ quá hạn
sẽ giảm xuống, tình hình tài chính của ngân hàng trở nên lành mạnh hơn.
+ Đồng thời, việc trích lập dự phòng rủi ro còn là yếu tố góp phần nâng
cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Vì nó khuyến khích các ngân hàng sát
sao hơn trong việc quản lý, đẩy mạnh việc xử lý thu hồi những khoản nợ tồn
đọng, quan tâm nhiều hơn trong việc đầu t mới đảm bảo khả năng thu hồi nợ
để không phải trích lập dự phòng quá lớn, ảnh hởng đến thu nhập của cán bộ
nhân viên ngân hàng.
1.3 Nghiệp vụ kế toán trích lập và sử dụng dự phòng
rủi ro trong hoạt động của NHTM:
Nhận thức về vai trò của dự phòng rủi ro đối với hoạt động của NHTM
và phù hợp với thông lệ quốc tế, Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam đã ban hành
nhiều văn bản qui định việc trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt
động ngân hàng của tổ chức tín dụng:
+ Quyết định số 48/1999/QĐ- NHNN5 ngày 8 tháng 2 năm 1999 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc ban hành qui định về việc phân loại tài sản
Có, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng
của tổ chức tín dụng:
Kinh T Quc Dõn 14 Khoa Ngõn Hng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét