Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Thiết kế E-book hỗ trợ việc dạy và học phần hóa hữu cơ 11 Trung học phổ thông (THPT) (chương trình nâng cao)


2. Mục đích nghiên cứu
Thiết kế E-book hỗ trợ hoạt động tự học và phát triển tư duy của học sinh phần hóa hữu
cơ lớp 11 THPT (chương trình nâng cao) nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học hoá học ở trường THPT.
- Đối tượng nghiên cứu: việc thiết kế E-book phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT (chương
trình nâng cao).
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài:
+ Quá trình dạy học.
+ Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học.
+ Quá trình tự học.
+ Phân tích chương trình, nội dung kiến thức phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT (chương
trình nâng cao).
- Nghiên cứu các phần mềm cần thiết cho việc thiết kế E-book.
- Vận dụng cơ sở lý luận và sử dụng các phần mềm để thiết kế E-book hóa hữu cơ lớp
11 (chương 5, 6, 7) THPT.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm chất lượng của E-book đã thiết kế.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phần hoá hữu cơ lớp 11 THPT chương trình nâng cao (chương 5, 6, 7).


6. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế sách giáo khoa điện tử có nội dung hấp dẫn, giao diện đẹp sẽ kích thích
hứng thú học tập của học sinh, phát triển năng lực tư duy, niềm say mê đọc sách, góp phần
nâng cao chất lượng dạy học.
7. PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài.
+ Truy cập và chọn lọc thông tin trên Internet.

+ Điều tra.
+ Thực nghiệm sư phạm.
+ Tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu thống kê.
- Phương tiện nghiên cứu: sách giáo khoa, sách bài tập và tài liệu liên quan đến đề tài,
máy vi tính và các phần mềm hỗ trợ.
8. Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
- Ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế các bài học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
(chương trình nâng cao) dưới dạng E-book.
- Góp phần nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu SGK cho học sinh.
- Giúp học sinh có niềm say mê tìm tòi, hứng thú học tập môn hóa.
- Giúp giáo viên có một nguồn tư liệu phong phú để giảng dạy phần hóa học hữu cơ .
- Hệ thống phương pháp giải toán hóa hữu cơ lớp 11 với các chuyên đề cụ thể.
- Có thêm phần VUI HỌC với nội dung hấp dẫn và phong phú với những kiến thức gắn
liền hóa học cuộc sống và môi trường, giúp học sinh mở rộng thêm vốn kiến thức.
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy và học ở trường THPT.




Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông, việc tự học
qua mạng, qua hệ thống E-learning và các E-book đang được phổ biến rộng rãi. Người học
có thể học bất cứ lúc nào, bất kì ở đâu, với bất kì ai, học những vấn đề mà bản thân quan tâm,
phù hợp với năng lực và sở thích, phù hợp với yêu cầu công việc…mà chỉ cần có máy tính và
mạng Internet. Việc học trở nên linh hoạt và mở.
Chính vì thế, các đề tài nghiên cứu về thiết kế website tự học, xây dựng E-learnig, thiết
kế E-book đang được mọi người quan tâm nhiều hơn. Sau đây là một số khoá luận và luận
văn tốt nghiệp chuyên ngành hóa học, trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh và ĐHSP Hà Nội:
1. Đỗ Ngọc Linh (2005), Nghiên cứu xây dựng giáo trình đi ện tử hóa học lớp 10, Luận
văn thạc sĩ khoa học giáo dục, ĐHSP Hà Nội.
2. Hỉ A Mổi (2005), Thiết kế website tự học môn hóa học lớp 11 chương trình phân ban
thí điểm, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
3. Phạm Dương Hoàng Anh (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX
và Macromedia Flash MX 2004 để thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng cố
kiến thức môn Hóa học phần Hiđrocacbon không no mạch hở dành cho học sinh
THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
4. Nguyễn Thị Thanh Hà (2006), Ứng dụng phần mềm Macromedia Flash và
Macromedia Dreamver để thiết kế website về lịch sử hóa học 10 góp phần nâng cao
chất lượng dạy học, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
5. Nguyễn Thị Ánh Mai (2006), Thiết kế sách giáo khoa điện tử (E-book) các chương về
lý thuyết chủ đạo sách giáo khoa hoá học lớp 10 THPT, Luận văn Thạc sĩ khoa học
giáo dục, ĐHSP Hà Nội.
6. Phạm Duy Nghĩa (2006), Thiết kế Web site phục vụ việc học tập và ôn tập chương
nguyên tử cho học sinh lớp 10 bằng phần mềm Macromedia Flash và Dreamweaver,
Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.

7. Đỗ Thị Việt Phương (2006), Ứng dụng Macromedia Flash MX 2004 và Dreamweaver
MX 2004 để thiết kế website hỗ trợ cho hoạt động tự học hoá học của học sinh phổ
thông trong chương halogen lớp 10, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
8. Nguyễn Ngọc Anh Thư (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX
và Macromedia Flash MX 2004 để tạo trang web hỗ trợ cho học sinh trong việc tự học
môn hóa học lớp 11 nhóm Nitơ chương trình phân ban thí đi ểm, Khóa luận tốt nghiệp,
ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
9. Phạm Thị Phương Uyên (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX
2004 và Macromedia Flash MX 2004 thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng
cố kiến thức cho học sinh môn hoá học nhóm oxi – lưu huỳnh chương trình cải cách,
Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
10. Lê Thị Xuân Hương (2007), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học chương
Halogen lớp 10 THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
11. Trịnh Lê Hồng Phương (2008), Thiết kế học liệu điện tử chương oxi – lưu huỳnh lớp
10 hỗ trợ hoạt động tự học hóa học cho học sinh trung học phổ thông, Khóa luận tốt
nghiệp, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
12. Nguyễn Thị Thu Hà (2008), Thiết kế sách giáo khoa điện tử lớp 10 – nâng cao
chương “Nhóm Halogen”, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
13. Nguyễn Thị Thùy Linh (2008), Xây dựng E-learning chương “Liên kết hóa học và cấu
tạo phân tử” học phần hóa đại cương trường cao đẳng Giao thông vận tải 3, Luận văn
thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
14. Thái Hoàng Minh (2008), Thiết kế website hỗ trợ việc kiểm tra đánh giá môn hóa học
lớp 10 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
15. Trần Tuyết Nhung (2009), Thiết kế sách giáo khoa điện tử chương “Dung dịch – sự
điện li” lớp 10 chuyên hóa học, Luận văn thạc sĩ giáo d ục học, ĐHSP TP Hồ Chí
Minh.
- Các website, E-learning và E-book đều có đặc điểm chung là góp phần nâng cao hiệu
quả cho việc tự học, tự nghiên cứu kiến thức của HS. Tuy nhiên các tác giả chưa quan tâm
đến một số vấn đề sau:
+ Một số website đòi hỏi phải truy cập Internet mới sử dụng được.

+ Nội sung kiến thức được xây dựng chủ yếu bằng phần mềm DreamWeaver
nên giao diện chưa được hấp dẫn, việc link và load các mục của bài học chậm.
+ Website tự học phần hóa hữu cơ còn hạn chế (chủ yếu là hóa học vô cơ và
đ,ại cương).
+ Nguồn tư liệu gắn liền nội dung bài học và thực tiễn cuộc sống, hóa học và
môi trường chưa được phong phú.
+ Chưa đề cập đến nhứng lỗi sai, dễ mắc phải của HS khi nghiên cứu bài
mới.
+ Việc đọc nội dung từng mục không được linh hoạt, phải sử dụng các nút
tới và lui liên tục.
+ Các phim thí nghiệm được đưa trực tiếp vào trang nội dung bài học gây
khó khăn trong việc trình bày bố cục bài học. Đôi khi các phim thí nghiệm
phải download về máy mới xem được.
+ Phương pháp giải toán chỉ đề cập đến những phương pháp chung mà chưa
phân thành các dạng toán cụ thể.
+ Phần vui học giúp HS thư giãn chưa được phong phú và hấp dẫn.
1.2. Đổi mới phương pháp dạy và học
1.2.1. Đổi mới PPDH – yêu cầu cấp bách của thời đại
1.2.1.1. Phương pháp dạy học [ 14, tr. 29]
Thụật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp (methodos) có nghĩa là con đường
để đạt mục đích. Theo đó, PPDH là con đường để đạt mục đích dạy học.
PPDH là cách thức hành động của GV và HS trong quá trình dạy học. Cách thức hành
động bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể. Cách thức và hình thức không tách
nhau một cách độc lập. PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và HS
trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học. PPDH là những hình
thức và cách thức, thông qua đó và bằng cách đó GV và HS lĩnh hội những hiện thực tự
nhiên và xã hội xung quanh trong những điều kiện học tập cụ thể.
1.2.1.2. Đổi mới PPDH – yêu cầu cấp bách của thời đại

Giáo dục thế kỉ 21 đang đứng trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật,
đặc biệt là CNTT. Trên thế giới sự tương tác ở mức độ cao của các hệ thống kinh tế, chính
trị, xã hội và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra.
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu đến
năm 2020, Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành một nước công nghiệp,
hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn lực người Việt Nam được phát
triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao, phẩm chất và
năng lực được hình thành trên một nền tảng kiến thức, kĩ năng đủ và chắc chắn. Xã hội đòi
hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các trí thức dưới dạng
có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà trường mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức
mới một cách độc lập, khả năng đánh giá các sự kiện, hiện tượng mới, các tư tưởng một cách
thông minh, sáng suốt trong cuộc sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi người.
Chính vì thế, một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là phải tập trung vào việc đổi mới
phương pháp dạy học.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định “Đổi mới phương pháp dạy và học,
phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực
nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay, đổi mới và thực hiện nghiêm
minh chế độ thi cử… ” [10, tr. 68]. Có thể nói mục tiêu cốt lõi của đổi mới dạy và học là
hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.
1.2.2. Mục đích của đổi mới PPDH [14, tr. 30–31]
Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đồng bộ từ mục tiêu, nội
dung, phương pháp, phương tiện dạy học đến cách thức đánh giá kết quả dạy học, trong đó
khâu đột phá là đổi mới PPDH.
Mục đích của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ
một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp HS phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp
tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những hình thức khác nhau trong học tập và trong thực
tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập. Làm cho “học” là quá trình kiến tạo; HS
tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết,

năng lực và phẩm chất. Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, dạy HS cách tìm ra chân lí.
Chú trọng hình thành các năng lực tự học (tự học, sáng tạo, hợp tác, …) dạy phương pháp và
kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học. Học để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống hiện
tại và tương lai. Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển xã
hội.
PPDH tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không hoạt động,
thụ động. PPDH tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, nghĩa là
hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ hướng vào việc
phát huy tính tích cực của người dạy.
Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy. Cách dạy quyết định cách học, tuy
nhiên, thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy. mặt khác
cũng có trường hợp HS mong muốn được học tập theo PPDH tích cực nhưng GV chưa đáp
ứng được. Do vậy, GV cần phải được bồi dưỡng, phải kiên trì cách dạy theo PPDH tích cực,
tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành thói
quen cho HS. Trong đồi mới phương pháp, phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp
hoạt động dạy với hoạt động học thì mới có kết quả. PPDH tích cực hàm chứa cả phương
pháp dạy và phương pháp học.
1.2.3. Những xu hướng đổi mới PPDH
Theo TS. Lê Trọng Tín [62], một số xu hướng đổi mới PPDH nói chung và PPDH hóa
học nói riêng ở nước ta là:
1. Tăng cường tính tích cực, tính tìm tòi sáng tạo ở người học, tiềm năng trí tuệ
nói riêng và nhân cách nói chung thích ứng năng động với thực tiễn luôn đổi
mới.
2. Tăng cường năng lực vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống, sản xuất luôn
biến đổi.
3. Chuyển dần trọng tâm của PPDH từ tính chất thông báo, tái hiện đại trà
chung cho cả lớp sang tính chất phân hóa – cá thể hóa cao độ, tiến lên theo
nhịp độ cá nhân.
4. Liên kết nhiều PPDH riêng lẻ thành tổ hợp PPDH phức hợp.
5. Liên kết PPDH với phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại (phương tiện nghe

nhìn, máy vi tính…) tạo ra các tổ hợp PPDH có dùng kĩ thuật.
6. Chuyển hóa phương pháp khoa học thành PPDH đặc thù của môn học.
7. Đa dạng hóa các PPDH phù hợp với các cấp học, bậc học, các loại hình
trường và các môn học.
Việc đổi mới PPDH hóa học cũng theo 7 hướng đổi mới của PPDH nói chung như đã
nêu ở trên, nhưng trước mắt tập trung vào hướng sau:
- PPDH hóa học phải đặt người học vào đ úng vị trí chủ thể của hoạt động nhận thức,
làm cho họ hoạt động trong giờ học, rèn luyện cho họ học tập giải quyết các vấn đề của khoa
học từ dễ đến khó, có như vậy họ mói có điều kiện tốt để tiếp thu và vận dụng kiến thức một
cách chủ động sáng tạo.
- Phương pháp nhận thức khoa học hóa học là thực nghiệm, nên PPDH hóa học phải
tăng cường thí nghiệm thực hành và sử dụng thật tốt các thiết bị dạy học giúp mô hình hóa,
giải thích, chứng minh các quá trình hóa học.
1.2.4. CNTT và truyền thông góp phần đổi mới PPDH
1.2.4.1. Dạy và học theo quan điểm CNTT
CNTT và truyền thông hay còn được viết tắt là ICT (Information and Communicatio n
Technologies) là [113]: “Một tập hợp đa dạng các công cụ và tài nguyên công nghệ được sử
dụng để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu trữ và quản lí thông tin. Các công nghệ này bao gồm
máy tính, điện thoại, Internet, vô tuyến truyền hình, đài phát thanh…”
CNTT và truyền thông được coi là những công cụ tiềm năng mạnh mẽ, có khả năng tạo
ra những thay đổi và cải cách giáo dục. Ở đó những cơ cấu cứng nhắc theo truyền thống về
mối quan hệ “không gian – thời gian – trật tự thang bậc” sẽ bị phá vỡ. Chẳng hạn, việc phát
sóng chương trình giáo dục trên đài hay vô tuyến không cần thiết phải có GV và học viên tại
cùng địa điểm vật lý. Bài học, bài tập, bài giảng,… được ghi vào đĩa CD hoặc được đưa lên
mạng Internet, nhờ đó mọi người có thể học bất cứ lúc nào. Những diễn đàn trao đổi về mọi
vấn đề, những buổi hội thảo trực tuyến… sẽ giúp cho người học có thể học mọi lúc, mọi nơi,
mọi lứa tuổi, bất kì ai có khả năng và mong muốn đều học được [114].
Với sự phát triển như vũ bão của CNTT và truyền thông, những thành tựu và sản phẩm
mới liên tục ra đời, trong đó thành tựu quan trọng nhất là mạng Internet thì việc tạo ra, phổ
biến, lưu trữ và quản lý, trao đổi thông tin là rất dễ dàng. Vì vậy, trong những năm gần đây,

người ta đặc biệt quan tâm đến việc làm thế nào để khai thác một cách hiệu quả nhất máy
tính và Internet nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở mọi cấp độ, mọi cơ sở đào tạo và mọi
hình thức đào tạo.
Theo quan điểm CNTT [14, tr. 43–44], để đổi mới PPDH, người ta tìm những “Phương
pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn”.
Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, quá trình dạy học đã sử dụng phương tiện dạy
học sau đây:
- Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead.
- Phần mềm hỗ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với LCD – projector (máy chiếu tinh
thể lỏng) hay còn gọi là video - projector.
- Phần mềm dạy học (PMDH) giúp HS học trên lớp và ở nhà.
- Công nghệ kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính.
- Sử dụng mạng Internet để dạy học.
Sử dụng phần mềm dạy học làm phương tiện hỗ trợ dạy học một cách hợp lí sẽ cho
hiệu quả cao, bởi lẽ khi sử dụng phần mềm dạy học bài giảng sẽ sinh động hơn, sự tương tác
hai chiều được thiết lập, HS được giải phóng khỏi những công việc thủ công vụn vặt, tốn
thời gian, dễ nhầm lẫn, nên có điều kiện đi sâu vào bản chất dạy học.
Hai công nghệ hiện đại và ứng dụng có hiệu quả nhất cho giáo dục đào tạo là công
nghệ đa phương tiện Multimedia và công nghệ mạng Networking, đặc biệt là mạng Internet.
Hai công nghệ này đã giúp cho con người thực hiện được khẩu hiệu học ở mọi nơi, học ở
mọi lúc, học suốt đời và dạy cho mọi người với mọi trình độ khác nhau.
Sử dụng CNTT để dạy học, PPDH cũng thay đổi. GV là người hướng dẫn HS học tập
chứ không đơn thuần chỉ là người “rót” thông tin vào đầu HS. GV cũng phải học tập thường
xuyên để nâng cao trình độ về CNTT, sử dụng có hiệu quả CNTT trong học tập. HS có thể
lấy thông tin từ nhiều nguồn phong phú khác nhau như sách, Internet, CD – ROM… Lúc này
HS phải biết đánh giá và lựa chọn thông tin, không còn chỉ đơn thuần nhận thông tin một
cách thụ động vì nguồn thông tin vô cùng phong phú.
1.2.4.2. Vai trò của CNTT trong giảng dạy hóa học [47]
Đối với môn hóa học, việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy sẽ tạo ra một bước chuyển
cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, phương pháp dạy học. Cụ thể là:

- CNTT là một công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc xây dựng các kiến thức mới.
- CNTT tạo môi trường để khám phá kiến thức nhằm hỗ trợ cho quá trình học tập.
- CNTT tạo môi trường để hỗ trợ học tập qua thực hành, qua cộng đồng và qua phản
ánh.
- CNTT giúp cho việc đánh giá định tính và định lượng hóa học chính xác hơn.
1.2.4.3. Ưu điểm và hạn chế của việc ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học
- Ưu điểm
+ Là công cụ đắc lực, hỗ trợ cho việc xây dựng kiến thức.
+ Giúp HS dễ hiểu bài, hiểu bài một cách sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn do việc thu
nhận thông tin về sự vật hiện tượng một cách sinh động, chính xác đầy đủ từ đó nâng
cao hứng thú học tập môn học, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học.
+ HS được tiếp cận, làm quen với các thiết bị, công nghệ hiện đại.
+ HS không bị thụ động, có nhiều thời gian nghe giảng để đào sâu suy nghĩ… và điều
quan trọng hơn là nhiều HS được dự và nghe giảng bài của nhiều GV giỏi.
+ GV chuẩn bị bài dạy một lần thì sử dụng được nhiều lần chỉ cần bổ xung những kiến
thức mới.
+ Các phương tiện hiện đại sẽ tạo ra khả năng để GV trình bày bài giảng sinh động hơn,
dễ dàng cập nhật và thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học hiện đại.
+ Các phương tiện sẽ hỗ trợ, chuẩn hóa các bài giảng mẫu, đặc biệt với những phần khó
giảng, những khái niệm phức tạp.
+ Giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết h ọc, giúp GV điều khiển
được hoạt động nhận thức của HS, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của các em
được thuận lợi và cho hiệu suất cao hơn.
+ Giải phóng người thầy khỏi một lượng lớn các công việc tay chân do đó làm tăng khả
năng nâng cao chất lượng dạy học.
+ Đặc biệt nếu áp dụng hình thức đào tạo điện tử (E-Learning) sẽ đáp ứng được mọi
tiêu chí: Hình thức đào tạo đa dạng, học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi thứ và học
mềm dẻo, học một cách mở, học suốt đời và tiết kiệm chi phí cho cả người dạy lẫn
người học. Bởi đặc điểm của E – Learning là có hệ thống giảng bài và có tài liệu học

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét