Bài tiểu luận triết học
Sáu là : lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn để xác định phương
án. Đầu tư theo chiều sâu có hiệu quả để khai thác tối đa năng lực sản xuất.
Lựa chọn dự án đầu tư thíc hợp đối với từng ngành , tưng địa phương.
II. Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta.
1.Khái niệm:
Công nghiệp hoá hiện đại hoá là qúa trình chuyển đổi căn bản,
toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh , dịch vụ và quản lý kinh
tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách
phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp
tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghệ nhằm tạo ra năng
xuất lao động cao .
Đặc điểm của quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá :
Thứ nhất: công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá, phải
chuyển lao động thủ công sang sứ dụng lao động cơ khí, tranh thủ áp
dụng các thành tựu khoa hoc kỹ thuật tiến bộ của thế giới tao ra các bước
nhảy vọt về kinh tế .
Thứ hai: công nghiệp hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu nước
mạnh, độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội. Công nghiệp hoá là tất
yếu với tất cả các nước đang phát triển nhưng với mỗi nước, mục tiêu và
tính chất của công nghiệp hoá có thể khác nhau . Ở nước ta, công nghiệp
hoá nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, tăng
cường sức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc .
Thứ ba : công nghiệp hoá hiện đại hoá trong điều kiên cơ chế thị
trường có sự điều tiết của nhà nước. Trong cơ chế này nhà nước vẫn giữ
vai trò hết sức quan trọng trong vấn đề công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
5
Bài tiểu luận triết học
nước. Nhưng công nghiệp hoá hiện đại hoá không xuất phát từ chủ quan
của nhà nước, nó đòi hỏi phải vận dụng các quy luật khách quan mà
trước hết đó là các quy luật của kinh tế thị trường.
Thứ tư: công nghiệp hoá hiện đại hoá hiện đại hoá nền kinh tế
quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, vì thế mở của nền
kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế là tất yếu đối với
đất nước ta. Công nghiệp hoá trong điều kiện chiến lược kinh tế mở có
thể đi nhanh nếu chung ta biết tận dụng, tranh thủ được những thành tựu
của thế giới và sự giúp đỡ quốc tế để phát triển nhanh nền kinh tế.
2.Tính tất yếu khách quan:
Lô dích và lịch sửđã chứng minh quá trình cải tạo xã hội nhanh
nhất, đó là CNH. Trên thế giới CNH đã biến đổi nhiều nước từ xã hội lạc
hậu trở thành nước văn minh hiện đại, đứng vị trí hàng đầu thế giới.
Trong xu hướng phát triển như vũ bão hiện nay của thế giới CNH ngày
càng khẳng định vai trò quan trọng tất yếu của nó, đặc biệt làđối với các
nước hiện nay đang trong tình trạng kém phát triển thì con đường cải
tạo xã hội thông qua CNH là con đường quy nhất mang tính tất yếu
khách quan đ tựđưa mình tự vượt qua danh giới nghèo đói, tránh tụt
hậu khá xa so với các nước phát triển.
Thông qua CNH các nước sẽ trang bịđược cho mình có sở vật chất
kỹ thuật của nền sản xuất mới hiện nay – trong đó cơ sở vật chất kỹ thuật
của nền sản xuất mới hiện đại có thể khái quát là nền đại công nghiệp cơ
khí hoá và hiện đại dựa trên trình độ khoa học, công nghệngày càng phát
triển cao- cơ sở vật chất đó phải có cơ cấu kinh tế hợp lý, trình độ xã hội
hoá và lao động cao. Cóđược cái “ Cốt vật chất” như vậy các nứơc mới
cóđủ khả năng sản xuất ra của cải vật chất rồi rào đáp ứng cho tieu dùng
6
Bài tiểu luận triết học
hiện đại mà còn có khả năng tích luỹ lớn và chỉ có khi đó con người mới
cóđiều kiện để quan tâm đến các điều kiện khác thoả mãn nhu cầu toàn
diện của mình.
Ở nước ta hiện nay quá trình xây dựng XHCN là quá trình cải tạo
xã hội đưa đất nước từ xã hội lạc hậu lên một xã hộ mới tốt đẹp hơn,
chúng ta tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện bỏ qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Vì vậy rất cần nền tảng đại công
nghiệp cơ khí. Trên phương tiẹn xem xét đó, nền kinh tế sản xuất của
nước ta là một nền sản xuất nhỏ kém phát triển muốn xây dựng một xã
hội mới toàn diện về nhiều mặt: Xây dựng chếđộ làm chủ tập thể, xây
dựng nền sản xuất xã hội chủ nghĩa, nền văn hoá mới và con người mới
XHCN trước tiên ta phải cóđược cái cốt vật chất cho xã hội mới- đó là
cơ sở vật chất – kỹ thuật của nền sản xuất mới hiện đại. Để làm được
điều này con đường tất yếu khách quan nhưđã khẳng định, đó là tiến
hành CNH- HĐH đất nước bởi vì việc thực hiện hoàn thành tốt công
cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá cóý nghĩa và tác dụng to lớn về nhiều
mặt:
CNH là một cuộc cách mạng về lực lượng sản xuất làm thay đổi
căn bản khoa học sản xuất tăng năng xuất lao động. CNH chính là thực
hiện xã hội về mặt kinh tế với tốc độ cao, góp phần ổn định và ngày càng
nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của mọi thành viên trong cộng
đồng xã hội.
Trên cơ sở thực hiện đầy đủ vàđúng đắn quá trình CNH sẽ giải
quyết tốt các nhiệm vụđặt ra của sự phát triển Kinh tếđó là nâng cao vai
trò kinh tế của nhà nước, nâng cao khả năng tích luỹ mở rộng sản xuất,
phát triển nhiều ngành mới, đáp ứng các nhu cầu việc làm của người lao
7
Bài tiểu luận triết học
động và các mối quan hệ kinh tế giữa các ngành các vùng trong nước và
giữa các nước đặt ra.
Hơn nữa, nhân tố con người với tư cách là chủ thể của nền sản
xuất xã hội đang trở thành trung tâm của nền kinh tế. Để phát huy đầy đủ
vai trò của mình, con người tất yếu phải là con người hiện đại, có trình
độ khoa học kỹ thuật cao, trên cơ sở thực hiện công nghiệp của liên hợp
quốc (UNICO) đãđưa ra định nghĩa “công nghiệp hoá là một quá trình
phát triển kinh tế: trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng của
nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế và
có một bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và
hàng tiêu dùng có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển
với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ về kinh tế xã hội”.
Cũng theo hướng đó, các tác giả cuốn “Công nghiệp hoá và hiện
đại hoáở Việt nam và các nước trong khu vực” đãđưa ra định nghĩa
“công nghiệp hoá là một quá trình lịch sử tất yếu nhằm tạo nên những
chuyển biến căn bản về kinh tế xã hội của đất nước trên cơ sở khai thác
có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong cả nước, mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với trình độ khoa
học công nghệ ngày càng hiện đại”.
Qua xem xét một vài định nghĩa đưa ra có thể thấy tuỳđiều kiện cụ
thể mà góp quy môđánh giá khác nhau. Mỗi nơi, mỗi quốc gia cóđịnh
nghĩa khác nhau về công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Tuy vậy, định nghĩa
công nghiệp hoá cũng phải chỉ ra được cái cốt lõi của quá trình này
“Sựđổi mới, chuyển từ kỹ thuật và công nghệ lạc hậu lên trình độ kỹ
thuật và công nghệ tiên tiến có năng suất và hiệu quả kinh tế cao”.
8
Bài tiểu luận triết học
Trước đây, khi vận dụng một cách máy móc mô hình kinh tế của
Liên Xô (cũ) nên trong quá trình công nghiệp hoá chúng ta cũng xác
định nội dung của công nghiệp hoá là phát triển đại công nghiệp trước
hết là công nghiệp nặng. Chẳng hạn như một sốđịnh nghĩa về công
nghiệp hoá là: “Quá trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả
các ngành của nền kinh tế quốc dân vàđặc biệt là công nghiệp nặng, dẫn
tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao
năng suất lao động” hoặc như “Kinh tế chính trị” cũ của trường Đại học
Kinh tế quốc dân các tác giảđãđịnh nghĩa: ”Công nghiệp hoá XHCN là
quá trình xây dựng cơ sở vật chất với kỹ thuật của CNXH: Xây dựng nền
đại công nghiệp cơ khí hoá cỏ khả năng cải tạo cả nông nghiệp và toàn
bộ nền kinh tế quốc dân nhằm biến nước ta từ một nước kinh tế chậm
phát triển thành một nước XHCN có cơ cấu công nông hiẹn đại”.
Định nghĩa như thế về công nghiệp hoáđã phản ánh được cái cốt
lõi của quá trình này, tuy thế việc nhấn mạnh vai trò của công nghiệp
nặng là không phù hợp với điều kiện của nước ta, thiếu sự phân tích
khoa học. Chính tư tưởng chỉđạo này đã dẫn đến những hậu quả màđặc
biệt là thất bại trong sự nghiệp công nghiệp hoáở nước ta từ năm 1960
(từĐại hội Đảng lần thứ III).
Sau khi có sự biến động mạnh mẽ trong khối XHCN. Đó là sự xụp
đổ về mô hình kinh tế của một loạt các nước trong khối XHCN, đặc biệt
là sự tan rã của liên bang cộng hoà Xô Viết (1990). Đảng và nhà nước ta
nhận ra những sai lầm trong việc chỉđạo định hướng xây dựng nền kinh
tế vàđã tiến hành công cuộc đổi mới thu được nhiều thành tựu to lớn như
chúng ta đã biết. Theo đãđổi mới tư duy kinh tếđó, sự nghiệp công
nghiệp hoáở nước ta cũng được hiểu theo một cách khác trên nền tảng
9
Bài tiểu luận triết học
phân tích khoa học điều kiện cụ thể của dất nước và tiếp thu kinh nghiệm
của các nước trên thế giới và nhất là các nước trong khu vực. Định nghĩa
mứi về công nghiệp hoáở nước ta được đưa ra trong nghị quyết Đại hội
Đảng 7 khoá VII với nội dung như sau: “Công nghiệp hoá là quá trình
chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động kinh tế xã hội tự sử dụng
một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và
phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và
tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. Đối với
nước ta đó là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
nhằm cải biến một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công
nghiệp gẵn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ ngày
càng thể hiện đầy đủ hơn bản chất ưu việt của chếđộ mới.
Chúng ta xác định rằng định nghĩa này không phải là một định
nghĩa hoàn hảo, song nóđã chỉ ra được cái cốt lõi của quá trình công
nghiệp hoá với hiện đại hoá. Xác định được vai trò của công nghiệp hoá
và khoa học công nghệ trong quá trình này.
Khi xét đến định nghĩa công nghiệp hoáở nước ta thìđồng thời
cũng thấy được con đường công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá là con
đường màĐảng ta đã chọn làm định hướng thực hiện cho sự nghiệp công
nghiệp hoáđất nước. Từ sự phân tích dưới đây ta sẽ thấy được sự lựa
chọn trên là hoàn toàn phù hợp với quy luật, với điều kiện hiện nay của
đất nước ta.
Theo định nghĩa trên, từ “hiện đại hoá” là làm cho một cái gìđó
mang tính chất của thời đại ngày nay. Vậy hiện đại hoá nền kinh tế quốc
dân làm cho kỹ thuật và công nghệ sản xuất đạt được trình độ tiên tiến
của thời đại hiện nay.
10
Bài tiểu luận triết học
Trong lịch sử công nghiệp hoá trên thế giới có nhiều con đường
công nghiệp hoá nhưng thể hiện ở 2 con đường chính đó là công nghiệp
hoá cổđiển và công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá. Con đường công
nghiệp hoá cổđiển là quá trình công nghiệp hoá mà nhièu nước trước đây
đã trải qua như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Đức, Liên Xô(cũ), thường đó là
những nước đã có nền khoa học công nghệ tiên tiến đương thời. Do đó,
những bước tiến của công nghiệp hoá thường gắn với những sáng chế
phát minh của chính nước đó hay thời đại đó. Vì vậy, quá trình công
nghiệp hoá thường kéo dài hàng 100 năm theo đã phát triển của khoa
học kỹ thuật, ở thời kỳ phôi thai chưa thành một cuộc cách mạng vũ bão
như ngày nay.
Ngày nay, đối với các nước đi sau tình hình đang đổi khác, để giải
quyết một vấn đề trong công nghiệp hoá có rất nhiều giải pháp hay công
nghệđể săn sàng đem ra sử dụng. Tiến hành công nghiệp hoá theo hướng
trận dụng lợi thế nhưđã nói của các nước công nghiệp phát triển muộn
chính là công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. Theo con đường
công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá thì thời gian ngắn hơn rất nhiều so
với con đường công nghiệp hoá cổđiển. có thểđơn cử ra đây vài con số
làm dẫn chứng. Quá trình công nghiệp hoáở Anh được coi là bắt đầu từ
năm 1780 và phải tới 58 năm sau đó thì thu nhập bình quân đầu người
mới tăng lên gấp đôi. ở Mỹ công nghiệp hoá bắt đầu từ năm 1839
vàđểđạt được mức tăng thu nhập gấp đôi đã cần tời 47 năm. Nước Nhật
bắt đầu công nghiệp hoá vào năm 1880 vàđã rút ngắn được thời gian
tăng gấp đôi thu nhập xuống mức 34 năm. Các nước đi sau điển hình cho
con đường công nghiệp hoá găn với hiện đại hoá thì Nam Triều Tiên đạt
11
Bài tiểu luận triết học
kết quả trên trong vòng 11 năm (1966-1977). Mới đây Trung Quốc đã
rút ngắn thời gian đó xuống còn 10 năm (1977-1987).
Kinh nghiệm thế giới là bài học thực tiễn cho Việt nam học tập.
Nhưng điều chủ yếu việc tiến hành công nghiệp hoá gắn với hiện đại
hoáở nước ta là phù hợp với những yêu cầu đang dặt ra cho quá trình này
như: Triệt để khai thác lợi thế của các nước phát triển muộn về công
nghiệp. Xu thế Quốc tế hoá sản xuất vàđời sống nhanh chóng vượt qua
được nghèo, rút ngắn khoảng cách tụt hậu của nước ta so với các nước
công nghiệp phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới. Con đường
đã chọn mở hướng đi cho chúng ta tiến tới một cái đích cao hơn. Chúng
ta tin tưởng rằng với bước đi vững chắc đúng đắn đất nước ta sẽ tiến tới
được cái đích đó. Nhưng để cóđược bước đi như vậy mỗi chúng ta phải
hiểu sâu hơn, cụ thể hơn con đường chúng ta sẽđi, tức là phải nắm được
thực chất của vấn đề công nghiệp hoá-hiện đại hoá là gì?
II. NỘI DUNG CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN
ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM .
1. Những nội dung cơ bản của CNH-HDH trong thời kì quá độ
lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) Việt Nam.
a. Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kĩ
thuật cho CNXH trên cơ sở thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội và
áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại.
Quá trình CNH-HDH trước hết là quá trình cải biến lao động thủ
công, lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc, tức là phải cơ khí hóa
nền kinh tế quốc dân. Đó là bước chuyển đổi rất căn bản từ nền kinh tế
nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp.
12
Bài tiểu luận triết học
Đi liền với cơ khí hóa là điện khí hóa và tự động hóa sản xuất
từng bước và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Sự nghiệp CNH-HDH
đòi hỏi phải xây dựng mạnh mẽ công nghiệp,trong đó then chốt là ngành
chế tạo tư liệu sản xuất. Sở dĩ như vậy là vì, theo quan điểm của chủ
nghĩa Mac-Lenin, tái sản xuất mở rộng của khu vực sản xuất tư liệu xã
hội, đặc biệt là của ngành sản xuất tư liệu sản xuất đẻ sản xuất tư liệu sản
xuất, quyết định quy mô tái sản xuất mở rộng (hay tốc độ tăng
trưởng)của toàn bộ nền kinh tế. Sự phát triển của các ngành chế tạo tư
liệu sản xuất là cơ sở, là “đòn xeo”để cải tạo, phát triển nền kinh tế quốc
dân, phát triển khu vực nông-lâm-ngư - nghiệp. Sự phân tích trên cho ta
thấy đối tượng CNH-HDH là tất cả cá ngành kinh tế quốc dân nhưng
trước hết và quan trọng nhất là ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản
xuất.
Đồng thời, mục tiêu của CNH-HDH còn là sử dụng kỹ thuật, công
nghệ ngày càng tiên tiến hiện đại nhằm đạt năng suất lao động xã hội
cao. Tất cả những điều đó chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở một nền
khoa học –công nghệ phát triển đén một trình độ nhất định.
Khi mà nền khao học của thế giới đang phát triển như vũ bão,khao
học đang trở thành lực kượng sản xuất trực tiếp;khi mà công nghệ đang
trở thành nhân tố quyết định chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất tức
là nói đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa, hiệu quả của sản xuất, kinh
doanh thì khoa học công nghệ phải là động lực của CNH-HDH. Bởi vậy,
phát triển khao học công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự
nghiệp CNH-HDH.
Phát triển khao học công nghệ trong điều kiện của Việt Nam hiện
nay cần phải chú ý đến những vấn đề sau:
13
Bài tiểu luận triết học
Thứ nhất, phải xác định được những phương hướng đúng đắn cho
sự phát triển khao hoc công nghệ.Sở dĩ như vậy là vì, KHCN là lĩnh vực
hết sức rộng lớn, trong khi đó đội ngũ cán bộ KHCN nước ta còn rất nhỏ
bé, chất lượng thấp, khả năng về vốn và phương tiện nghiên cứu còn
rất hạn chế. Do đó cùng một lúc chúng ta không thể phát triển hết tất cả
các lĩnh vực KHCN mà phải lựa chọn những lĩnh vực nhất định để đầu
tư. Nếu việc lựa chọn đúng sẽ tạo điều kiện cho KHCN phát triển và
ngược lại, nếu việc lựa chọn không đúng thì không những ảnh hưởng
xấu đên sự phát triển của KHCN mà còn ảnh hưởng không tốt đến CNH-
HDH. Phương hướng chung cho sự phát triển KHCH ở nước ta hiện nay
là: phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt
trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công
nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn
và phổ biến hơn những thành tựu mới về KHCN, từng bước phát triển
kinh tế tri thức.
Thứ hai, phải tạo dựng được những điều kiện cần thiết cho sự phát
triển KHCN. Việc xác định những phương hướng đúng cho sự phát triển
KHCN là cần thiết nhưng chưa đủ, mà KHCN chỉ phát triển khi đảm bảo
được những điều kiện kinh tế-xã hội nhất định.Nhũng diều kiện đó là:đọi
ngũ cán bộ KHCN với số lượng đủ lớn, chất lượng cao, đầu tư ở mức
cần thiết, các chính sách kinh tế xã hội phù hợp
Trong quá trình CNH-HDH, người lao động lực lượng xã hội hàng
đầu –không những phải được nâng cao trinh đọ văn hóa và KHCN mà
còn phải được trang bị cả cơ sở vạt chất kỹ thuật tiên tiến. Họ vừa là kết
quả của sự phát triển lực lượng sản xuát, vừa là người tạo ra sự phát triển
đó.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét