*Nhóm đối tượng có thu nhập trung bình.
Nhóm đối tượng này muốn vay để tiêu dùng hơn là dùng chính tiền tích
luỹ ,dự phòng của mình để chi tiêu.Do đó ,nhóm đối tượng này có nhu cầu
vay vốn tăng mạnh so với Nhóm đối tượng có thu nhập thấp.
*Nhóm đối tượng có thu nhập cao.
Nhóm đối tượng này vay tiêu dùng nhằm tăng khả năng thanh toán và coi
đó như một khoản linh hoạt để chi tiêu khi mà tiền tích luỹ của họ chưa cao
hay lợi nhuận do đầu tư mang lại chưa thu được. Đây là nhóm đối tượng có
những khoản tiêu dùng lớn và thường xuyên . Do đó,các NHTM cần dùng
những biện pháp thích hợp để tiếp cận và mở rộng nhóm đối tượng này.
1.1.3: Đặc điểm của CVTD.
1.1.3.1: Đặc điểm về qui mô.
Đối với CVTD ta có thể thấy một đặc điểm là: “Qui mô các khoản vay
nhỏ nhưng số lượng các khoản vay rất lớn”.Với mục đích vay để tiêu dùng
nên các khoản vay thường không lớn.Hơn nữa,nhu cầu của dân cư với các
loại hàng hoá xa xỉ là không cao hoặc người vay cũng đã có một khoản tiền
tích luỹ trước đối với các loại tài sản có giá trị lớn.Tuy vậy,vay tiêu dùng lại
là nhu cầu vay vốn khá phổ biến, đa dạng và thường xuyên đối với mọi tầng
lớp dân cư nên mặc dù mỗi món vay tiêu dùng có quy mô nhỏ nhưng do số
lượng các khoản vay lớn khiến cho tổng quy mô CVTD của các ngân hàng
thường khá lớn.
1.1.3.2: Đặc điểm về lãi suất.
Không như hầu hết các khoản cho vay SXKD hiện nay có lãi suấtt thay
đổi theo điều kiện thị trường,lãi suất CVTD thường được cố định. Khi đưa
ra mức lãi suất cho vay cố định này các ngân hàng sẽ phải dự tính đến :yếu
tố lãi suất huy động đầu vào (có xu hướng thay đổi như thế nào ?); tính đến
phần bù rủi ro và chi phí . Tuy qui mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng
các khoản vay lớn nên tổng chi phí lớn.Hơn nữa ,CVTD còn được xem là
tiềm ẩn nhiều rủi ro nên phần bù rủi ro cũng khá cao.Vì thế , lãi suất CVTD
thường cao và cố định.
1.1.3.3: CVTD có tính nhạy cảm theo chu kỳ.
Thật vậy ,số lượng các khoản CVTD phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng của
dân cư và cầu có khả năng thanh toán của họ .Do đó,nó có tính nhạy cảm
theo chu kỳ .Số lượng các khoản CVTD sẽ tăng lên trong thời kỳ kinh tế
phát triển .Lúc này,người dân có mức thu nhập tương đối cao và ổn định,tình
hình hình kinh tế xã hội đầy lạc quan.Và ngược lại ,trong thời kỳ nền kinh tế
rơi vầo suy thoái,rất nhiều cá nhân và hộ gia đình sẽ cảm thấy không mấy tin
tưởng vào tương lai ,nhất là khi họ thấy thu nhập cuả họ giảm xuống.Lúc
này,mọi người có xu hướng tiết kiệm hơn là tiêu dùng .Do đó, việc vay ngân
hàng nói chung và vay tiêu dùng nói riêng sẽ hạn chế, làm cho số lượng các
khoản CVTD giảm xuống trầm trọng .
1.1.3.4: Đặc điểm về rủi ro.
Nhìn chung,các khoản CVTD có độ rủi ro cao vì bên cạnh sự ảnh hưởng
của các yếu tố khách quan như môi trường kinh tế,văn hoá ,xã hội… nó còn
chịu tác động của những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân khách hàng.
Trong cuộc sống chúng ta không thể lường trước được hết hậu quả do
những rủi ro khách quan như suy thoái kinh tế,mất mùa ,thiên tai…Đặc
biệt,hoạt động CVTD phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế .Khi nền kinh tế suy
thoái thì người tiêu dùng sẽ không thấy tin tưởng vào tương lai và cùng với
những lo lắng về thu nhập,nguy cơ thất nghiệp,họ sẽ hạn chế việc vay mượn
từ ngân hàng .
Ngoài ra,CVTD còn chịu một số rủi ro chủ quan như tình trạng sức
khoẻ,khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình…Điều đó tạo nên rủi ro lớn
cho ngân hàng ,hơn nữa thông tin tài chính của đối tượng này rất khó đầy đủ
và chính xác hoàn toàn bởi số lượng các khoản vay rất lớn trong khi số
lượng cán bộ tín dụng của ngân hàng thì có hạn.Mặt khác ,yếu tố đạo đức cá
nhân người tiêu dùng cũng là nhân tố tác động trực tiếp vào việc trả nợ cho
ngân hàng .
1.1.3.5: Đặc điểm về chi phí và lợi nhuận của CVTD.
*Về chi phí:Do thông tin thân nhân ,lai lịch và tình hình tài chính của
khách hàng thường không đầy đủ và khó thu thập, ngân hàng phải bỏ nhiều
chi phí cho công tác thẩm định và xét duyệt cho vay.Hơn thế nữa,do khoản
vay có qui mô nhỏ và số lượng khoản vay rất lớn nên ngân hàng cũng phải
chịu một chi phí đáng kể để quản lý hồ sơ khách hàng .Chính vì thế,CVTD
trở thành một trong những khoản mục có chi phí lớn nhất trong hoạt động tín
dụng ngân hàng.
*Về lợi nhuận:Do rủi ro và chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ của CVTD
lớn nên ngân hàng thường đặt lãi suất cao đối với các khoản CVTD. Bên
cạnh đó ,số lượng các khoản CVTD rất lớn làm cho tổng lợi nhuận thu được
từ hoạt động CVTD của các NHTM là rất đáng kể.
1.1.4:Vai trò của CVTD.
1.1.4.1: Vai trò của CVTD đối với khách hàng.
Cho vay tiêu dùng là các cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của
khách hàng .Nhờ những khoản vay tiêu dùng từ ngân hàng ,họ có thể mua
sắm những hàng hoá cần thiết , các hàng hoá xa xỉ ,có giá trị cao, giúp thoả
mãn nhu cầu tiêu dùng và cải thiện cuộc sống ngay cả khi khả năng tài chính
hiện tại của họ chưa cho phép .Vì vậy,việc ngân hàng thực hiện và phát triển
hoạt động CVTD sẽ mang đến những lợi ích tốt ,thiết thực cho khách
hàng.Có thể nói rằng ,Khách hàng chính là những người hưởng lợi nhiều
nhất và trực tiếp những lợi ích mà hình thức CVTD này mang lại .
1.1.4.2:Vai trò của CVTD đối với ngân hàng.
CVTD tuy đã xuất hiện từ những năm 1980,nhưng gần đây nó mới được
các NHTM quan tâm mở rộng và phát triển.Và loại hình tín dụng này còn
khá mới mẻ ở các NHTM Việt Nam .Nhưng không phải vì thế mà phủ nhận
vai trò quan trọng của hoạt động CVTD đối với các NHTM.Vai trò ấy được
khái quát như sau:
-CVTD tạo điều kiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ đó góp phần
giúp các NHTM tăng khả năng cạnh tranh,nâng cao thu nhập và phân tán
được rủi ro.
Trong điều kiện ngày nay,khi mà sự cạnh tranh trong lĩnh vực Tài chính-
Ngân hàng ngày càng gay gắt ,quyết liệt thì vai trò của CVTD thực sự quan
trọng đối với các NHTM ,bởi nó góp phần tăng khả năng cạnh tranh giữa
các ngân hàng so với các định chế tài chính khác .CVTD ,nếu xét về tổng
quy mô thì mức độ rủi ro của nó lớn (do quy mô lớn ) ,nhưng thực tế do quy
mô của mỗi khoản cho vay thường nhỏ và số lượng các khoản vay tiêu dùng
lớn nên ngân hàng có thể phân tán được rủi ro tốt hơn .Hơn nữa,do lãi suất
CVTD thường cao nên thu nhập của các NHTM từ hoạt động CVTD thường
rất lớn.
-CVTD giúp các NHTM mở rộng quan hệ với khách hàng.
Do tính lan truyền trong dân cư là rất cao nên các Ngân hàng có thể
thông qua các khoản cho vay tiêu dùng mà quảng cáo về mình, từ đó thu hút
các khách hàng đến với các dịch vụ khác của Ngân hàng. Trong khi đó các
khoản tín dụng tiêu dùng tuy là những khoản tín dụng nhỏ nhưng nhu cầu về
chúng lại rất lớn nên nếu khai thác được thị trường này thì các Ngân hàng
thương mại có thể sử dụng được một số lượng vốn lớn. Hơn nữa, dân cư là
khách hàng tiềm năng lớn của Ngân hàng, để phát triển bền vững thì các
ngân hàng cần phải dựa vào nhóm đối tượng này.
1.1.4.3: Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với nền kinh tế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ,các sản phẩm ,dịch vụ
tiêu dùng ngày càng trở nên phong phú , đa dạng,phù hợp với nhu cầu của
người tiêu dùng .Tuy nhiên ,với mức thu nhập như hiện nay,phần lớn người
tiêu dùng không thể chi trả cho tất cả các nhu cầu mua sắm cùng lúc , đặc
biệt là những vật dụng đắt tiền.Nếu người tiêu dùng có thể vay được tiền từ
ngân hàng thì họ có thể thoả mãn được nhu cầu của họ ngay trong hiện tại .
Điều đó làm tăng sự tiêu dùng hàng hoá ,thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh
doanh của các hãng,tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động ,góp
phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của toàn xã hội một cách nhanh
chóng .Do đó,với việc thực hiện hoạt động cho vay tiêu dùng có thể thực
hiện tốt nhiệm vụ kích cầu cho nền kinh tế,tạo nên sự hoà hợp giữa Cung &
Cầu tiêu dùng tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển cao hơn.
1.2:Phân loại CVTD.
Dựa trên các tiêu thức khác nhau ta có thể phân chia CVTD thành
nhiều loại khác nhau.
1.2.1:Căn cứ vào mục đích vay vốn.
Nếu căn cứ vào “Mục đích vay vốn” thì CVTD được chia làm hai loại
là:CVTD cư trú và CVTD phi cư trú.
1.2.1.1:CVTD cư trú :
Là khoản tín dụng được cấp nhằm tài trợ cho nhu cầu mua, xây dựng, cải
tạo nhà cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình). Đặc điểm của những món
vay này là quy mô thường lớn, thời gian dài. Việc đánh giá giá trị tài sản tài
trợ có vai trò vô cùng quan trọng đối với ngân hàng. Nếu như trong cho vay
tiêu dùng thông thường thì thu nhập tương lai của người vay là yếu tố quan
trọng để ngân hàng quyết định có cho vay hay không thì trong cho vay nhà
ở, giá trị và tình hình biến động giá của tài sản được tài trợ là yếu tố mà ngân
hàng rất quan tâm. Bởi vì khoản tín dụng tài trợ cho loại tài sản này có giá
trị lớn, nên sự biến động theo hướng không có lợi của nó sẽ dẫn tới những
thiệt hại rất lớn cho ngân hàng.
1.2.1.2: CVTD phi cư trú:
Đây là những khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như
mua sắm phương tiện, đồ dùng, du lịch, học hành, y tế hoặc giải trí Đặc
điểm của những khoản tín dụng này thường có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ
ngắn. Do đó mà mức độ rủi ro đối với ngân hàng là thấp hơn những khoản
cho vay tiêu dùng bất động sản. Đối với loại cho vay này, yếu tố quyết định
cho vay hay không là khả năng trả nợ của người vay, sau đó mới xem xét
đến giá trị tài sản đảm bảo.
1.2.2: Căn cứ theo phương thức hoàn trả :
Nếu dựa trên tiêu thức này thì CVTD được phân thành: CVTD trả góp và
CVTD phi trả góp.
1.2.2.1:Cho vay tiêu dùng trả góp:
Hình thức này chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng CVTD của các ngân hàng
bởi tính hợp lý của nó.Theo hình thức này ,người đi vay trả nợ cho ngân
hàng (gồm cả gốc và lãi ) theo nhiều lần ,theo những kỳ hạn nhất định do
ngân hàng qui định (tháng hoặc quý).Hình thức này áp dụng cho các khoản
vay có giá trị lớn hoặc với những khách hàng mà thu nhập định kỳ của họ
không đủ để thanh toán hết số nợ trong một lần.
Khi áp dụng loại cho vay này thì ngân hàng phải quan tâm đến những vấn
đề cơ bản sau :
*Loại tài sản được tài trợ :
Thông thường ,thiện chí của người vay sẽ tốt hơn khi tài sản hình thành từ
tiền vay thoả mãn nhu cầu của họ trong tương lai .Khi lựa chọn tài sản để tài
trợ ,ngân hàng thường chú ý đến điều này vì ngân hàng thường chỉ muốn tài
trợ cho nhu cầu mua sắm những tài sản có thời gian sử dụng lâu dài và có
giá trị lớn bởi vì có như vậy người tiêu dùng mới được hưởng những tiện ích
do tài sản đem lại trong một khoảng thời gian dài.
* Số tiền phải trả trước.
Thông thường ngân hàng sẽ yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một
phần giá trị tài sản cần mua sắm (khoảng 20-30%). Đây là số tiền phải trả
trước, phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay .Số tiền ứng trước này phải đủ lớn
để một mặt làm cho người đi vay nghĩ rằng chính họ là chủ sở hữu tài sản để
họ có thái độ sử dụng tài sản một cách đúng đắn , cẩn thận .Mặt khác,số tiền
này phần nào hạn chế được rủi ro cho ngân hàng.
* Điều kiện thanh toán .
Khi xác định các khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của khách hàng,
ngân hàng phải chú ý một số vấn đề sau:
+ Thời hạn cho vay không nên quá dài nhằm tránh cho việc tài sản tài trợ
bị giảm giá trị theo thời gian đi kèm với rủi ro tín dụng tăng lên.
+ Giá trị của tài sản nợ không được thấp hơn số tiền tài trợ chưa thu hồi
được .
+ Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng , thông
thường là theo tháng ,do nguồn trả nợ của người tiêu dùng chủ yếu là thu
nhập nhận được hàng tháng.
+ Số tiền thanh toán mỗi kỳ phải phù hợp với khả năng thu nhập xét trong
mối quan hệ hài hoà với các nhu cầu chi tiêu khác của khách hàng. Số tiền
này có thể được tính bằng các phương pháp như:
- Phương pháp lãi đơn.
Theo phương pháp này, vốn gốc người đi vay phải trả từng kỳ hạn trả nợ
được tính đều nhau ,bằng cách lấy vốn ban đầu chia cho số kỳ hạn thanh
toán ,còn lãi phải trả mỗi kỳ hạn được tính trên số tiền khách hàng thực sự
còn thiếu.
- Phương pháp lãi gộp.
Đây là phương pháp thường được áp dụng trong CVTD trả góp .Theo
phương pháp này ,trước hết lãi được tính bằng cách: lấy vốn gốc nhân với lãi
suất và thời hạn vay.Sau đó cộng với vốn gốc ban đầu rồi chia cho số kỳ hạn
phải thanh toán để xác định được số tiề phải thanh toán trong mỗi kỳ hạn.
* Vấn đề phân bổ lãi theo thời gian.
Khi sử dụng phương pháp lãi gộp ,các ngân hàng thường tiến hành phân bổ
lại phần lãi cho vay đã được tính.Việc phân bổ có thể được thực hiện theo
định kỳ gắn liền với các kỳ hạn thanh toán hoặc cũng có thể được thực hiện
theo quý hay theo năm tài chính.
Ngân hàng thường áp dụng một số phương pháp như:
+ Phương pháp đường thẳng ( phân bổ lãi đều nhau), áp dụng cho các
khoản vay ngắn hạn.
+ Phương pháp luỹ thoái ( phân bổ lãi giảm dần ), áp dụng cho các khoản
vay trung và dài hạn.
* Vấn đề trả nợ trước hạn.
Khi người vay trả nợ trước hạn ,có thể xảy ra một trong hai trường hợp sau:
+ nếu tiền trả góp theo phương pháp lãi đơn thì vấn đề rất đơn giản ,người
đi vay chỉ phải thanh toán toàn bộ gốc còn thiếu và lãi vay của kỳ hạn hiện
tại cho ngân hàng .
+ Nếu tiền lãi được tính bằng phương pháp lãi gộp thì vấn đề sẽ phức tạp
hơn vì theo phương pháp này, lãi được tính dựa trên giả định “ Người vay sẽ
sử dụng tiền vay cho đến khi kết thúc hợp đồng tín dụng” .Khi khách hàng
trả nợ trước hạn thì thời hạn khách hàng nợ thực tế khác thời hạn nợ ghi
trong hợp đồng và như vậy số tiền lãi phải trả cũng có sự thay đổi. Khi đó,
ngân hàng sẽ phải sử dụng phương pháp “Phân bổ lãi cho vay theo thời
gian” ,dựa trên thời hạn nợ thực tế để tính số lãi thực tế phải thu.
1.2.2.2: Cho vay tiêu dùng phi trả góp.
* Cho vay tiêu dùng trả một lần.
Đây là hình thức tài trợ mà theo đó số tiền đi vay của khách hàng sẽ được
thanh toán một lần khi hợp đồng tín dụng đến hạn. Đặc điểm của khoản tín
dụng này thường là có qui mô nhỏ và thời hạn vay ngắn .Hình thức cho vay
này được ngân hàng áp dụng vì nó giúp ngân hàng không mất nhiều thời
gian như khi ngân hàng tiến hành thu nợ làm nhiều kỳ.Tuy nhiên , người tiêu
dùng lại không ưa thích hình thức này do nó không có tính hợp lý như hình
thức CVTD trả góp nên trong thực tế những khoản CVTD cấp theo hình
thức này không nhiều.
* Cho vay tiêu dùng tuần hoàn .
Đây là các khoản CVTD, trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử
dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc thấu chi dựa trên tài khoản vãng
lai.Theo phương pháp này thì trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước,
căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng
được ngân hàng cho phép thực hiện việc cho vay và trả nợ nhiều kỳ một
cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng. Trong tất cả các lãi suất cho vay
tiêu dùng ,thì CVTD tuần hoàn có mức lãi suất cao nhất bởi những khoản
cho này không được đảm bảo và chi phí để điều hành tín dụng tuần hoàn
tương đối .
1.2.3: Căn cứ vào hình thức đảm bảo tiền vay.
Nếu căn cứ vào hình thức đảm bảo tiền vay thì CVTD được phân làm 3
loại: Cho vay cầm đồ; Cho vay thế chấp lương; Và cho vay có đảm bảo tài
sản hình thành từ vốn vay.
*Cho vay cầm đồ:
Là hình thức cho vay ,trong đó, ngân hàng cho khách hàng vay để nhằm
mục đích tiêu dùng nhưng ngân hàng sẽ giữ tài sản của khách hàng để đảm
bảo các nghĩa vụ của khách hàng.Danh mục các loại tài sản và điều kiện các
loại tài sản được cầm đồ được ngân hàng qui định cụ thể dựa trên cơ sở qui
định của pháp luật và chính sách tín dụng của ngân hàng .
* Cho vay thế chấp lương:
Cho vay thế chấp lương thường được áp dụng cho khách hàng có việc làm
ổn định, thu nhập ổn định ,ngoài các khoản chi tiêu thường xuyên hàng
tháng thì còn một phần tích luỹ để trả nợ vay.Số tiền ngân hàng cho khách
hàng vay được xác định dựa trên nhu cầu muốn vay & thu nhập thường
xuyên của khách hàng. Do đó,khi xét duyệt cho vay,ngân hàng cần thu thập
đủ thông tin về các thu nhập khác nhau cũng như các khoản chi tiêu khác
thường xuyên của khách hàng.
* Cho vay có đảm bảo tài sản hình thành từ tiền vay:
Nó thường được áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng
để mua các tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài .Dựa vào khả
năng tài chính và trả nợ của khách hàng,giá trị tài sản cần mua sắm ngân
hàng sẽ quyết định mức cho vay thích hợp, thông thường mức cho vay tối đa
của ngân hàng là khoảng 70%-80% giá trị tài sản cần mua.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét