Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. PHAN THỊ THU HÀ
Theo kết quả điều tra năm 2005 với 11.000 doanh nghiệp dân doanh sản
xuất công nghiệp thì 8% tự xác định là có công nghệ tiên tiến, 50% công nghệ
trung bình, số còn lại 42% là công nghệ lạc hậu và không tự đánh giá. Đặc
biệt chỉ có 6% doanh nghiệp trong số này có nhu cầu đào tạo về kỹ thuật và
công nghệ. Điều này đặc biệt quan trọng vì kỹ thuật công nghệ liên quan đến
nguồn nhân lực và là yếu tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
d. SMES hoạt động rất đa dạng, phong phú trong mọi lĩnh vực, mọi
thành phần kinh tế, mọi địa bàn, thu hút nguồn lao động và vốn lớn.
Khả năng cạnh tranh trên thị trường của SMES thấp do hạn chế về vốn,
trình độ tay nghề, phương thức và kinh nghiệm quản lý. Thị trường của
SMES chủ yếu phục vụ doanh nghiệp lớn: nhà cung cấp nguyên vật liệu, đại
lý bán hàng, kênh phân phối hoặc là những đoạn thị trường còn bỏ ngõ, có
phạm vi nhỏ, độ sâu còn hạn chế. Những thị trường này chứa đựng nhiều rủi
ro và thường xuyên biến động khiến cho hoạt động của SMES không ổn
định.
c.Thiếu thông tin và bị lép vế trong các mối quan hệ.
Vấn đề thông tin là yếu tố ảnh hưởng đến thành công hay thất bại của
doanh nghiệp. Thông tin từ phía môi trường kinh doanh mà doanh nghiệp bị
chịu ảnh hưởng từ nhà cung cấp, đối tượng cạnh tranh, khách hàng, môi
trường pháp lý, yếu tố kinh tế xã hội.
Việc tiếp cận với các nguồn thông tin, đặc biệt là qua internet và việc khai
thác sử dụng nó là một hạn chế lớn đối với SMES .Trình độ đội ngũ cán bộ
quản lý còn yếu kém tất yếu đẫn đến nhận thức vấn đề ứng dụng công nghệ
trong khai thác thông tin chưa thực sự rõ ràng. Các SMES với quy mô nhỏ và
thông tin kém đa chiều sâu, rộng do đó gây cản trở cho chính họ trong việc
mở rộng mối quan hệ và ảnh hưởng không nhỏ đến chiến lược, kế hoạch kinh
doanh của doanh nghiệp.
5
SVTH: Trần Thị Vân Chi - Lớp NH46QN
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. PHAN THỊ THU HÀ
Và một đặc điểm không thể không kể đến là SMES dễ dàng thay đổi loại
hình kinh doanh trước sự biến động của thị trường. Đây là một lợi thế giúp
doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian và chi phí, tận dụng được cơ hội kinh
doanh khi thời cơ đến.
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM
NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động
NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung
thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung
các dịch vụ thanh toán.
NHTM có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó là trung
gian tài chính đóng vai trò cầu nối, dẫn vốn từ nhà tiết kiệm tới nhà đầu tư
hoặc tiêu dùng qua đó cung cấp vốn cho nền kinh tế một cách hiệu quả.
Để thực hiện vai trò đó, NHTM tập trung vào các nhóm hoạt động cơ bản:
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng
nhất của NHTM. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể
thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân
hàng cho khách hàng.
Để hoạt động, trước hết mỗi ngân hàng phải có một số vốn ban đầu làm
cơ sở cho các hoạt động kinh doanh của mình. Nhưng hầu hết các ngân hàng,
số vốn điều lệ thường rất nhỏ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định như trụ sở văn
phòng, máy móc, thiết bị cần thiết cho hoạt động chứ chưa đủ vốn để ngân
hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh. Để có vốn phục vụ cho các
hoạt động này, ngân hàng phải huy động từ các tổ chức, cá nhân trong nền
kinh tế thông qua việc cưng ứng các dịch vụ: tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tài
khoản tiền gửi có kỳ hạn, kỳ phiếu, trái phiếu, séc, chứng chỉ tiền gửi… Bên
6
SVTH: Trần Thị Vân Chi - Lớp NH46QN
6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. PHAN THỊ THU HÀ
cạnh đó, khi cần vốn cho nhu cầu thanh khoản hay cho vay, đầu tư khác…
ngân hàng có thể vay vốn tại ngân hàng khác, vay trên thị trường tài chính
hay vay ngân hàng trung ương. Ngoài ra nguồn vốn của ngân hàng còn bao
gồm một số nguồn khác như vốn uỷ thác nhưng chiếm tỷ trọng nhỏ.
1.1.2.2 Hoạt động tín dụng
NHTM được cấp tín dụng cho những tổ chức, cá nhân dưới các hình thức
cho vay, chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá, bão lãnh , cho thuê tài chính
và các hình thức cho vay khác theo quy đinh của NHNN. Trong các hoạt động
cấp tín dụng thì cho vay là hoạt động quan trọng nhất đồng thời chiếm tỷ
trọng lớn nhất. NHTM sử dụng các nguồn vốn huy động được để thực hiện
cho vay và đầu tư, qua đó hình thành nên những tài sản cơ bản của ngân hàng.
Ngân hàng có thể cho vay cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, các cơ quan
chính quyền để phục vụ cho mục đích đầu tư kinh doanh hay tiêu dùng hoặc
có thể trực tiếp tham gia đầu tư, góp vốn, hợp tác liên doanh.
Các hoạt động cho vay và đầu tư mang lại nguồn thu nhập chính cho
NHTM gồm lãi cho vay, lợi tức đầu tư nhưng kèm theo sau đó là những rủi ro
tiềm ẩn.
1.1.2.3 Hoạt động khác
Là một trung gian tài chính của nền kinh tế, bên cạnh hoạt động nhận gửi
và cho vay, NHTM còn thực hiện hoạt động trung gian khác: thanh toán,
chuyển tiền, tư vấn, bảo lãnh, ký thác, uỷ thác, bảo quản vật có giá, mua bán
ngoại tệ, và thu phí dịch vụ cho các hoạt động đó. Trước đây có nhiều hạn chế
về chính sách, trình độ công nghệ…nên hoạt động này chưa thực sự phát triển
và thu nhập mang lại chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu nhập của ngân
hàng. Nhưng đến nay các dịch vụ trung gian của NHTM càng được chú trọng
do nguồn thu ổn định và rủi ro thấp. Các dịch vụ đã không ngừng phát triển,
góp phần hoàn thiện chất lượng dịch vụ ngân hàng. Các khách hàng khi có
nhu cầu đều được ngân hàng đáp ứng một cách thuận tiện, nhanh chóng và an
7
SVTH: Trần Thị Vân Chi - Lớp NH46QN
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. PHAN THỊ THU HÀ
toàn. Do vậy các NHTM đã thu hút được số lượng lớn và đa dạng đối tượng
khách hàng kéo theo doanh thu của ngân hàng từ hoạt động này cũng tăng
nhanh.
Trong các hoạt động cơ bản của NHTM thì hoạt động tín dụng nói chung
và hoạt động cho vay nói riêng là hoạt động quan trọng hơn cả mang lại
nguồn thu nhập chính cho ngân hàng đặc biệt là đối với các nước đang phát
triển như Việt Nam, trong bối cảnh các dịch vụ ngân hàng chưa thực sự phát
triển toàn diện.
1.1.3 Hoạt động cho vay SME của NHTM
1.1.3.1 Phương thức cho vay
Căn cứ vào phương thức tài trợ:
a.Thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất
định và trong khoảng thời gian xác định, giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi.
Thấu chi là hình thức cấp tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản có thể
cấp cho doanh nghiệp vài ngày trong tháng, vài tháng trong năm dùng để trả
lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng. Hình thức này chỉ sử dụng với
khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
b.Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có
điều kiện được cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở
hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở
rộng sản xuất mới vay ngân hàng, tức là vốn vay ngân hàng chỉ tham gia vào
một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất.
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử
dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay,
xác định quy mô món vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu
8
SVTH: Trần Thị Vân Chi - Lớp NH46QN
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. PHAN THỊ THU HÀ
cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ khác
nhau. Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản, ngân hàng có thể kiểm
soát món vay tách biệt.
c. Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ cho vay mà theo đó ngân hàng sẽ
thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể
tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Hạn mức tín
dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu sử dụng vốn,
nhu cầu vay vốn của khách hàng. Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày
phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc
dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp, hợp lệ của
chứng từ ngân hàng sẽ phát tiền cho khách hàng. Đây là hình thức cho vay
thuận tiện cho khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường
xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
d. Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay của ngân hàng dựa trên sự
luân chuyển hàng hoá của khách hàng. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể
thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh
nghiệp bán hàng. Ngân hàng và khách hàng sẽ thoả thuận với nhau về phương
thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá, khả năng tiêu thụ.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn doanh
nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch luân chuyển hàng hoá để dự đoán dòng
ngân quỹ trong thời gian tới.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các doanh nghiệp có chu kỳ tiêu
thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng. Thủ tục vay
chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng nhu
cầu vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn.
Căn cứ vào phương thức hoàn trả:
Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng mà ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả
9
SVTH: Trần Thị Vân Chi - Lớp NH46QN
9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. PHAN THỊ THU HÀ
góp thường áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản
cố đinh hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được thanh toán sao cho phù
hợp với khả năng trả nợ.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm:
a. Cho vay không có bảo đảm: là loại hình cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào
uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực
trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thì
ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà
không cần một nguồn thu nợ bổ sung.
b. Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố
hoặc bảo lãnh của người thứ ba. Sự đảm bảo này là nguồn thu nợ thứ hai của
ngân hàng.
Căn cứ vào thời hạn cho vay:
a.Cho vay ngắn hạn: là loại hình cho vay có thời hạn dưới 12 tháng mục
đích bổ sung vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của
tổ chức kinh tế và nhu cầu tiêu dùng của cá nhân.
b.Cho vay trung hạn: là loại hình cho vay có thời hạn 12 tháng đến dưới
60 tháng. Chủ yếu để đáp ứng nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc
đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án
quy mô nhỏ và thu hồi vốn nhanh.
c. Cho vay dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn hơn 60 tháng và được
sử dụng để đáp ứng nhu cầu dài hạn như nhà ở, mua sắm thiết bị, phương tiện
vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
1.1.3.2 Quy trình cho vay SMES của NHTM
Quy trình cho vay là tập hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng
trong việc cấp tín dụng. Trong đó xây dựng những bước đi cụ thể theo một
10
SVTH: Trần Thị Vân Chi - Lớp NH46QN
10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. PHAN THỊ THU HÀ
trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến lúc
chấm dứt hợp đồng tín dụng. Đây là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn
mang tính chất liên hoàn, theo một trình tự nhất định, đồng thời có quan hệ
chặt chẽ và gắn bó với nhau.
Bước 1: Tiếp cận tìm hiểu nhu cầu khách hàng.
Đây là một giai đoạn bắt đầu một khoản vay, ở giai đoạn này hoặc khách
hàng đến ngân hàng yêu cầu vay vốn hoặc ngân hàng chủ động tìm đến khách
hàng tiềm năng để mời vay vốn. Khách hàng cung cấp cho ngân hàng các
thông tin cơ bản ban đầu về mục đích vay vốn, tình hình kinh doanh, năng lực
quản lý và thông tin tài chính để ngân hàng đánh giá.
Bước 2: Thẩm định, đánh giá khoản vay
Trên cơ sở thông tin khách hàng cung cấp và thông tin tự tìm kiếm, thu
thập, ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định tín dụng.Theo đó cán bộ tín dụng sẽ
tiến hành thẩm định những yếu tố sau:
Thẩm đinh khách hàng vay vốn:
11
SVTH: Trần Thị Vân Chi - Lớp NH46QN
Tiếp cận, tìm hiểu nhu cầu khách
hàng
Thẩm định, đánh giá khoản vay
Phê chuẩn, ra quyết định cho vay
Giải ngân
Giám sát khoản vay, thu nợ, xử lý
phát sinh
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. PHAN THỊ THU HÀ
Cán bộ tín dụng sẽ thẩm định tư cách, năng lực pháp lý của khách hàng
để chắc chắn rằng khách hàng có đủ năng lực vay vốn và có đủ tư cách pháp
lý trong việc ký kết hợp đồng vay vốn và chịu trách nhiệm trước pháp luật khi
rủi ro xảy ra.
Cán bộ tín dụng phải kiểm tra tính chính xác, mức độ tin cậy của các báo
cáo tài chính; phân tích đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh và khả năng
tài chính của khách hàng. Đặc biệt cần chú ý đến dòng tiền mặt bởi đây là một
yếu tố không kém phần quan trọng. Cán bộ tín dụng cần xem xét liệu người
vay có khả năng tạo ra dòng tiền mặt đủ lớn để đáp ứng yêu cầu hoàn trả cho
ngân hàng món vay không?. Một sự thu hẹp quy mô dòng tiền mặt cũng ẩn
chứa một sự suy giảm trong kinh doanh và do đó ngân hàng phải đối mặt với
khoản nợ có vấn đề.
Phân tích, thẩm định dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh.
Cán bộ tín dụng tiến hành thẩm định dự án hoặc phương án sản xuất kinh
doanh để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của nó cũng như khả năng trả nợ
của khách hàng và những rủi ro có thể xảy ra để phục vụ cho quyết định cho
vay hay từ chối cho vay. Đồng thời làm cơ sở tham gia góp ý tư vấn cho
khách hàng vay, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng.
Các biện pháp bảo đảm tiền vay
Các điều kiện môi trường: cán bộ tín dụng phải nhận biết xu hướng
phát triển hiện tại và tương lai của các doanh nghiệp cũng như các lĩnh vực
mà doanh nghiệp đang hoạt động, thấy được mức độ tác động của những thay
đổi trong nền kinh tế, bởi những diều này đều ảnh hưởng đến khả năng trả nợ
của khách hàng.
Bước 3: Phê chuẩn, quyết định cho vay
12
SVTH: Trần Thị Vân Chi - Lớp NH46QN
12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. PHAN THỊ THU HÀ
Sau khi thẩm định, đánh giá khoản vay, cán bộ tín dụng sẽ lập báo cáo
thẩm định và tờ trình cho vay đến trưởng phòng tín dụng.Trưởng phòng tín
dụng sau khi xem xét sẽ ra quyết định cho vay hay không.
Khi ngân hàng quyết định cho vay, cán bộ tín dụng sẽ thông báo với
khách hàng. Cán bộ tín dụng cùng khách hàng lập hợp đồng tín dụng và các
hợp đồng khác liên quan.
Bước 4: giải ngân
Căn cứ vào thoả thuận hai bên đã ký kết trong hợp đồng, thoả thuận tín
dụng, bảo đảm tiền vay ngân hàng tiến hành giải ngân.
Bước 5: giám sát khoản vay, thu nợ, xử lý phát sinh.Ngân hàng thu nợ
theo thời hạn đã thoả thuận, tất toán khoản vay.Có trường hợp ngân hàng xem
xét cơ cấu lại nợ hoặc phải thu nợ trước thời hạn hoặc phải tiến hành các thủ
tục pháp lý và xử lý tài sản đảm bảo theo quy định để thu nợ.
1.1.3.3 Chính sách tín dụng đối với SMES
Ở tầm vĩ mô chính sách tín dụng là một bộ điều lệ về các trao đổi tín dụng
quy định bởi chính phủ nhằm tạo những điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín
dụng nhằm tạo đà phát triển hướng tới mục đích tăng trưởng cho nền kinh tế.
Ở tầm vi mô, chính sách tín dụng được cụ thể hoá bằng các chương trình
tạo điều kiện cho những đối tượng ưu tiên tiếp cận được với tín dụng.
Các công cụ của chính sách tín dụng :
-Những điều kiện tín dụng là tiêu chí để làm rõ đối tượng vay của một
chính sách tín dụng nhằm đảm bảo độ an toàn cho khoản nợ như số năm hoạt
động, tổng giá trị tài sản và uy tín, tính khả thi của dự án, tài sản kí quỹ hoặc
bão lãnh của người vay được nhận tín dụng.
-Những miễn trừ trong quan hệ tín dụng : bao gồm tất cả những điều kiện
thuận lợi, ưu tiên cho một số đối tượng vay cụ thể.
13
SVTH: Trần Thị Vân Chi - Lớp NH46QN
13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. PHAN THỊ THU HÀ
-Yêu cầu ký quỹ: nhằm đòi hỏi người vay phải đặt cọc một số tài sản tại
ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay của người vay.
1.2 Phát triển cho vay SME tại NHTM
1.2.1 Khái niệm phát triển cho vay đối với SMES
Phát triển cho vay SMES là sự tăng trưởng về số lượng cho vay đi đôi
với sự biến đổi về chất lượng cho vay.
Số lượng cho vay: ở đây là sự mở rộng đối tượng, phạm vi cho vay, khối
lượng tín dụng.
Chất lượng cho vay: có rất nhiều quan niệm về chất lượng cho vay.
Chúng ta có thể tiếp cận từ các mặt sau:
-Đối với nền kinh tế khoản vay có chất lượng tốt phải trợ giúp cho hoạt
động sản xuất kinh doanh giải quyết được nhiều việc làm, tăng thêm sản
phẩm dịch vụ cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác hiệu quả
những tiềm năng của đất nước, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nước
phục vụ cho phát triển kinh tế.
-Đối với ngân hàng chất lượng tín dụng thể hiện lợi nhuận hợp lý và gia
tăng,dư nợ tăng trưởng bền vững, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúng quy định và
hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa trung, ngắn, dài hạn trong nền kinh tế.
-Đối với khách hàng chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của
khách hàng, lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản, không phiền hà, hấp dẫn được
khách hàng nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ đúng nguyên tắc tín dụng và quy chế
cho vay.
Vậy chất lượng cho vay là sự đáp ứng nhu cầu vốn vay của khách hàng
phù hợp với sự phát triển của xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng.
1.2.2 Các tiêu chí phản ánh phát triển cho vay SMES .
14
SVTH: Trần Thị Vân Chi - Lớp NH46QN
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét