PHẦN MỘT: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG KẸO CAO SU
1.1 Lịch sử ra đời kẹo cao su.
Đầu tiên, xin trích dẫn một vài câu chuyện vui về lịch sử phát triển
của kẹo cao su, đầu tiên là thành công của William Wrigley – người đã lập
ra công ty Wriley lớn mạnh hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh kẹo cao su,
và cũng là một người tài ba trong việc tiếp thị kẹo cao su.
Mùa xuân năm 1891 William Wrigley Jr dời Philadelphia tới Chicago.
Khi đó ông mới 29 tuổi, trong túi chỉ có vẻn vẹn 32$ và một mong muốn bắt
đầu với công việc kinh doanh bằng chính thực lực của mình. Bên cạnh long
nhiệt tình và sức trẻ, Wrigley còn là một người bán hàng tài năng. Là con
trai của một nhà sản xuất xà bông, Wrigley đã mở rộng được mối quan hệ
kinh doanh của cửa hàng Xà bông Scouring vượt qua ngoài khuôn khổ một
khu phố của Philadelphia. Khi còn là một cậu thiếu niên, Wrigley đã chính
thức làm nhân viên bán hàng tại cửa hàng của cha đồng thời đánh xe trở
hàng đi hết thị trấn này đến thị trấn khác để tìm những đại lý bán lẻ.
Vào tháng 4 năm 1891 ông đã bắt đầu công việc kinh doanh tại
Chicago với tư cách ông chủ của cửa hàng Xà bông Wrigley. Để khích lệ
những người thương nhân, ông đã đưa ra những quà tăng, một trong những
quà tặng đó là bột nở. Sau đó bột nở lại trở nên phổ biến hơn xà bông do đó
ông chuyển từ kinh doanh xà bông sang kin doanh bột nở. Vào năm 1892,
ông đưa ra ý tưởng tặng hai gói kẹo cao su cho khách hàng khi mua mỗi gói
bột nở. Ý tưởng này đã mang lại thành công lớn, một lần nữa quà tặng – kẹo
cao su – dường như lại có triển vọng hơn cả sản phẩm chính và nó lại được
đầu tư để tung ra thị trường thay thế cho sản phẩm chính.
Vào thời gian đó ở Mỹ có ít nhất trên 12 công ty kẹo cao su nhưng
nền công nghiệp này dường như không phát triển lắm. Tuy nhiên Wrigley
cho rằng đây là một sản phẩm rất có tiềm năng và đáng để đầu tư do đó ông
đã quyết định quảng bá cho sản phẩm này. Hai chi nhánh đầu tiên đã được
mở ra tại Lotta và Vassar.
Tới năm 1893 kẹo cao su Juicy Fruit đã được tung ra thị trường sau đó
là kẹo Spearmint của Wrigley. Có được chỗ đứng trên thị trường kẹo cao su
không phải chuyện đơn giản bởi những công ty trước đây trong ngành kẹo
cao su đã rất quen thuộc với khách hàng. Vào năm 1899 sáu công ty kẹo lớn
nhất đã liên kết với nhau tạo thành tập đoàn kẹo cao su lớn (liên hiệp các
công ty kẹo cao su) và sự kết nối này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt
động kinh doanh của Wrigley – một công ty non trẻ đã gặp phải rất nhiều
khó khăn khi đứng ngoài tập thể đó. Luôn là người đi sau nhưng cuối cùng
công ty ông đã chống lại sức mạnh của tập đoàn.
Wrigley tiếp tục dùng những phần thưởng để khích lệ các thương
nhân nhập hàng của mình. Ông biết rằng khách hàng sẽ sử dụng kẹo cao su
Wrigley nếu họ nhận được “một chút gì đó thay vì không có gì”. Wrigley đã
mở rộng danh mục quà tặng từ những chiếc đèn đến dao cạo và những chiếc
cân. Những quà tặng đi kèm này trở nên thành công tới mức ông phải phát ra
một catalog mẫu quà tặng cho khách hàng lựa chọn.
Wrigley cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc dùng các chiến dịch
quảng cáo để thu hút khách mua hàng. Ông là một trong những người tiên
phong trong việc sử dụng các quảng cáo để tăng doanh thu và quảng cáo cho
thương hiệu. Ông nhận ra rằng lượng khách hàng chấp nhận sản phẩm của
ông sẽ tăng nhanh nếu ông nói với họ về lợi ích của sản phẩm trên báo, tạp
chí quảng cáo, biển hiệu hay những dạng truyền thông khác. Sau đó ngày
càng nhiều khách sẽ tới các cửa hiệu để tìm hiểu và mua kẹo của ông. Như
vậy tự nhiên các cửa hàng sẽ phải nhập kẹo Wrigley để đảm bảo số lượng
khách hàng của mình.
Ý tưởng này đã được thực hiện khi Wrigley quyết đinhk tập trung vào
việc tung ra thị trường kẹo cao su hương vị bạc hà – sản phẩm được ông xếp
vào loại cao cấp – ngày nay đã trở nên nổi tiếng dưới nhãn hiệu Wrigley’s
Spearley. Ban đầu sản phẩm này bán rất chậm do đó Wrigley đã tiến hành
quảng cáo có quy mô trên 3 thành phố thuộc miền Đông là Buffalo,
Rochester và Syracuse. Cuối cùng Wrigley đã có được kết quả khả quan.
Thông qua việc xuất khẩu hàng hóa sang nhiều nước, Uwrigley đã trở
nên nổi tiếng khắp thế giới. Một cách nhanh chóng, công ty đã trở thành một
cơ sở kinh doanh có tầm vóc quốc tế. Công xưởng đầu tiên được mở ra ở
nước ngoài là tại Canada vào năm 1910, năm 1915 – công xưởng thứ hai tại
Australia, năm 1927 tại Anh, 1939 tại New Zealand. Những môi trường kinh
doanh khách nhau trên thị trường quốc tế đòi hỏi nhiều mẫu mã, chủng loại
cũng như hương vị mới. Trong số đó có lẽ sản phẩm thành công nhất ở nước
ngoài là kẹo cao su dạng viên tròn – loại kẹo được bán rất phổ biến dưới
nhãn hiệu “P.K”.
Trong suốt chiến tranh thế giới 2 Phillip Wrigley – con trai và sau này
là chủ tịch công ty – đã dẫn dắt công ty với những bước đi mới lạ nhằm bảo
vệ danh tiếng của nhãn hiệu. Vì chiến tranh, việc cung cấp những nguyên
liệu bị chững lại, trong khi đó thì nhu cầu kẹo cao su lại tăng cao. Một lượng
lớn kẹo cao su được cung cấp cho quân đội Hoa Kỳ, từ đó kẹo cao su đã
giúp xóa tan lo âu, nâng cao cảnh giác và cải thiện tinh thần của các chiên
sỹ.
Công ty sản xuất kẹo chất lượng cao với lượng khá lớn tuy nhiên vẫn
không đủ để cung cấp cho khách hàng. Do đó tốt hơn là nên thay đổi loại
kẹo chất lượng cao mà khách hàng vẫn yêu cầu. Chính vì vậy công ty đã tiến
hành ngừng cung cấp kẹo nhãn hiệu Wrigley loại Spearmint, Doublemint và
Juicy Fruit cho dân chúng. Tới năm 1944, toàn bộ kẹo sản xuất ra được xuất
trực tiếp ra nước ngoài cho Quân đội Hoa Kỳ.
Đối với dân chúng, công ty tiến hành tung ra một “nhãn hiệu thời
chiên”. Một cách rất chân thực, công ty thông báo với khách hàng rằng sản
phẩm này là hoàn toàn nguyên chất, có lợi cho sức khỏe, tuy nhiên không đủ
điều kiện để tiêu chuẩn mang nhãn hiệu Wrigley.
Sau đó một thời gian những nguyên liệu chất lượng cao trở nên khan
hiếm đến mức sản xuất không thể đạt được mức lượng kẹo sản xuất trước
chiến tranh không đủ để cung cấp thậm chí cho quân đội Mỹ. Do vậy công
ty đã dừng hoàn toàn việc mở rộng chi nhánh, và đặc biệt “nhãn hiệu thời
chiến” được cung cấp cho quân đội. Cũng thời gian đó một chiến dịch quảng
cáo độc nhất vô nhị đã được tiến hành và nó đã giúp tên tuổi cũng như chất
lượng của kẹo cao su Wrigley trở nên thân quen với khách hàng, thậm chí
ngay cả khi họ không thể mua được nó. Quảng cáo khá kịch tính với hình
tượng một gói bọc kẹo cao su Spearmint trống rỗng nhãn hiệu Wrigley với
câu “Hãy nhớ giấy bọc này”.
Sau khi chiến tranh kết thúc việc mua bán những nguyên liệu để dùng
cho việc sản xuất kẹo chất lượng cao lại trở về như bình thường, vì vậy tới
năm 1946 Wrigley’s Spearmint đã trở lại thị trường, sau đó là Juicy Fruit và
năm 1947 là Doublemint. Mặc dù đã vắng mặt hai năm tại Mỹ nhưng
Wrigley vẫn chiếm lại thị trường một cách nhanh chóng và sau đó hoạt động
kinh doanh trở nên phát triể vượt mức trước chiến tranh. Việc tiếp theo của
công ty Wrigley là tập trung mở rộng ra kinh doanh toàn cầu.
Thêm vào những cơ sở trước đây ở Chicago, Australia, Canada, Anh
và New Zealand công ty mở them những văn phòng mua bán ở Châu Âu và
Châu Á. Để đáp ứng lượng tăng cầu sản phẩm Wrigley, nhiều nhà máy đã
được mở thêm tại: Malina thuộc Philippines (1965), Biesheim, Pháp (1967);
Salzburg, Australia (1968); Nairobi, Kenya (1971) và Taipen, Taiwan
(1978). Sau đó, để đáp ứng yêu cầu thay đổi trong kinh doanh, công ty đã
tiến hành hợp nhất những công nghệ máy móc mới hiện đại hơn thay thế cho
những cái trước đây. Năm 1954 tiến hành thay đổi ở New Zealand, năm
1958 ở Australia, năm 1963 ở Canada, năm 1971 ở Anh và ở Đài Loan vào
năm 1985. Và vào mùa xuân năm 1991 để chinh phục một thị trường mới,
công ty đã mở một nhà máy ở Quảng Châu, Trung Quốc, ở Mỹ thì xây dựng
thêm nhà máy ở Santa Cruz, Canifonia năm 1954 và Gainesville, Georgia.
Để thay đổi sở thích của khách hàng, Wrigley đã giới thiệu kẹo cao su
Freedent, kẹo hương quế Big Red và kẹo cao su dùng thay đổi bong bong
lớn Hubba Bubba vào giữa những năm 1970. Để đáp ứng nhu cầu về sản
phẩm có vị ngọt ngon hơn, vào năm 1984 Wrigley đã cho ra đời kẹo cao su
ngọt nhiều hơn dưới tên Extra. Ngày nay những kẹo cao su nhãn hiệu
Wrigley đã trở thành sản phẩm yêu thích của hơn 100 quốc gia trên thế giới
và Wrigley được coi là công ty hàng đầu trong lĩnh vực này.
1.2 Thói nghiện kẹo cao su của người Mỹ
Năm 1906, Frank Henry Fleer cho ra đời loại kẹo cao su có thể tạo ra
bong bóng, gọi là Blibber-Blubber. Nhưng nó chẳng gây được tiếng vang
nào. Bóng nổ ngay sau khi ra khỏi miệng và cao su văng dính khắp mặt. Cho
đến một ngày tháng 8-1928, một công nhân của Fleer tên Walter Diemer đã
tìm ra lời giải.
Sau một năm phụ trách pha chế, Diemer đã tìm được công thức hợp
chất giúp tạo ra bong bóng to và sau khi bóng nổ thì lớp cao su dễ dàng bung
ra, không dính tèm lem vào mặt. Tuy nhiên, hôm sau, mẻ kẹo kế tiếp bị hư
do Diemer không cẩn thận ghi chép trọng lượng và số lượng các chất tạo
thành hợp chất. Sau bốn tháng thí nghiệm, ông thành công. Chewing-gum
này được đặt tên Dubble Bubble.
Thói nghiện kẹo cao su của người Mỹ cuối thập niên 1930 là kết quả
từ sự thiếu thốn trong Thế chiến thứ hai. Đường cũng như tinh chất bạc hà
được chia theo khẩu phần và nguồn nhựa tự nhiên dùng làm chewing-gum
nhập từ miền Viễn Đông gần như cạn kiệt. Lúc này, lượng hàng tích trữ
được tung ra với giá cắt cổ, đôi khi đến 1 USD/viên. Một số người đã nghĩ
ra cách bỏ chewing-gum nhai rồi vào ly nước với hy vọng nó vẫn còn dẻo
cho lần dùng sau.
Sau Thế chiến thứ hai, công việc kinh doanh trở nên sôi nổi, với cuộc
cạnh tranh sống mái giữa Công ty Topps và J. Warren Bowman với sản
phẩm Blony (được quảng cáo: “Thanh kẹo cao su bự nhất giá chỉ 1 xu”).
Nhờ ký hợp đồng với hầu hết ngôi sao bóng chày để in tên họ lên “danh
thiếp chewing-gum”, Topps trở thành công ty số một vào năm 1955 và một
năm sau nó mua luôn Bowman.
Frank Henry Fleer trở thành công ty đầu tiên dùng dải giấy nhỏ in truyện
tranh (cuốn quanh thanh kẹo), đề cao chú bé gan dạ Pud và cậu bạn thân
Rocky Roller. Năm 1953, hình ảnh Pud bị lu mờ, khi Topps phát hành
truyện tranh đầu tiên để xây dựng hình tượng chàng nhóc Bazooka Joe. Chữ
“bazooka” không lấy từ nguồn gốc một loại vũ khí mà ngẫu nhiên xuất phát
từ tên loại nhạc cụ cho âm thanh vui nhộn làm từ ống và phễu, được sáng
chế bởi diễn viên hài Bob Burns năm 1930.
1.3 Tiêu thụ kẹo cao su ở một số nước ở Châu Âu
Theo thăm dò của hãng Wrigley, hiện hãng chiếm tới 90% thị trường kẹo
cao su tại Séc, thì người dân Séc đứng thứ ba trong số các nước Đông Âu về
nhai kẹo cao su. Năm ngoái trung bình mỗi người Séc nhai hết 128 chiếc.
Trong những nước thuộc khối Đông Âu cũ thì Séc chỉ đứng sau Slovenia và
Croatia.
Tính về số kẹo cao su được tiêu thụ thì đứng đầu là Bắc Mỹ và Tây Âu, nơi
tiêu thụ trung bình lên tới gần 200 chiếc mỗi năm trên đầu người.
Trung bình mỗi năm người dân Slovenia nhai hết 167 chiếc kẹo cao su,
người Croatia 160 chiếc. Slovakia đứng thứ 6 trong những nước Đông Âu
với 110 chiếc. Đứng cuối bảng là Litva, người dân ở đây chỉ nhai trung bình
66 chiếc kẹo cao su mỗi năm.
Trong các nước Tây Âu thì đứng đầu là Thụy Sĩ, với 186 chiếc kẹo cao su
trên đầu người mỗi năm. Đứng thứ nhì là người dân Ai-len với 173 chiếc.
Đứng cuối bảng trong số các nước Tây Âu là người Đức với tiêu thụ 112
chiếc mỗi năm.
1.4 Thị trường kẹo cao su Việt Nam
Việt Nam là một trong những thị trường phát triển sau của kẹo cao su, sau
khi đã du nhập hết ở bắc Mỹ, Châu Âu … rồi sang Châu Á. Tuy phát triển
sau nhưng thị trường kẹo cao su Việt Nam cũng như Trung Quốc và các
nước ở trong khu vực, luôn tỏ ra rất có tiềm năng. Hàng loạt các sản phẩm
mới của các hãng được tung ra ở đây nhằm tranh giành thị phần. Tuy nhiên,
là một thị trường phát triển sau và thường bị chi phối bởi các kênh phân phối
địa phương cho nên các chiến dịch Quảng bá sản phẩm, hậu mãi khách hàng
chưa thể làm tốt được như Châu Âu và Bắc Mỹ. Ở đây chưa được đầu tư
mạnh về các cơ sở, nhà máy sản xuất địa phương cũng như chi nhánh quản
lý của các hãng. Chỉ có một số ít các thương hiệu hoặc dòng sản phẩm đã
giành được thị phần lớn nhất ở Việt Nam, không ít các sản phẩm mới tung ra
được một thời gian đã thất bại, nhanh chóng bị người tiêu dùng quên lãng.
Lý do cơ bản là vì cầu ở thị trường Việt Nam nói riêng và khu vực nói chung
tuy đang phát triển mạnh nhưng không thể bằng được các thị trường đã phát
triển trước đó. Ở đây, trong quân đội không có thói quen và cũng không
được có thói quen nhai kẹo cao su tóp tép như quân đội Mỹ hay các nước
Châu Âu … Trong khi ở Bắc Mỹ và Châu Âu, nguồn tiêu thụ kẹo cao su rất
lớn là bán cho quân đội.
Ngoài ra người dân Việt Nam tiếp xúc và sử dụng kẹo cao su hầu hết là ở độ
tuổi thanh thiếu niên trở xuống. Một phần rất ít những người lớn tuổi có thói
quen và sử dụng các tính năng bảo vệ sức khỏe răng miệng của kẹo cao su
như Extra. Thanh thiếu niên Việt Nam cũng như khu vực, khác phương Tây
ở nền văn hóa. Nền văn hóa phương Đông vốn rất hay kỵ hoặc chậm chạp
du nhập các văn hóa phương Tây vào.
Kinh tế xã hội Việt Nam đang trên đà phát triển, nhưng so về nhịp độ thì còn
thua xa các nước phát triển. Ở các nước phát triển, người ta đi lại nhiều,
công việc bận rộn và căng thẳng thì kẹo cao su cũng là một trong những lựa
chọn không tồi để giúp giảm bớt căng thẳng, xả stress hay giải trí trong lúc
nghỉ ngơi. Được biết ở các nước phát triển, kẹo cao su được tiêu thụ khá
nhiều tại những trạm xe bus, tàu điện ngầm hay những nơi công cộng đông
người qua lại, phải chờ đợi lâu …
So với thế giới thì thị trường kẹo cao su ở Việt Nam đang ở dạng tiềm năng
và cần có sự đầu tư, tác động nhiều phía vào người tiêu dùng để nó được
phát triển mạnh mẽ.
PHẦN HAI: THÓI QUEN TIÊU DÙNG KẸO CAO SU CỦA NGƯỜI
TIÊU DÙNG VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG QUẢNG CÁO CÁC SẢN
PHẨM KẸO CAO SU Ở VIỆT NAM
2.1 Thói quen của người tiêu dùng Việt Nam:
Kẹo cao su ban đầu xuất hiện ở Việt Nam chủ yếu là dành cho đối tượng trẻ
em, là kẹo mềm với hiệu quả là đáp ứng sự khoái khẩu cũng như vui thú khi
thổi ra những quả bóng bằng kẹo cao su. Đó gần như là ý niệm đầu tiên của
người Việt Nam về kẹo cao su. Khi ấy kẹo cao su được rất ít người tiêu dùng
Việt Nam chấp nhận. Chỉ những gia đình chiều chuộng con cái, hoặc hay
cho con tiền tiêu vặt thì trẻ mới có tiền thường xuyên mua kẹo cao su để ăn
và khoe với bạn bè. Loại thường được ưa thích là Bigbabol với vị ngọt đậm
và rất mềmm sau đó là Doublemint với hương quế thơm ngon hay vị bạc hà
the mát.
Dần dần càng ngày kẹo cao su càng phát triển ở Việt Nam. Đối với lớp
thanh niên thì khẩu vị và nhu cầu về kẹo cao su sẽ khác và phong phú hơn
nhiều. Ưa chuộng nhất là các loại có hương bạc hà thơm mát, gây cảm giác
sảng khoái, dễ chịu hoặc các hương vị gây kích thích. Nhu cầu đã phong
phú, cách họ tiêu dùng kẹo cao su cũng để giải quyết rất nhiều thứ khác
nhau.
VD: tôi có một anh bạn dùng kẹo cao su để thay cho việc đánh răng hàng
ngày, nói ra có thể có bạn không tin nhưng cậu ấy nói rằng dùng bản chải
đánh răng hại lợi và cũng bất tiện.
Theo thống kê thì người ta thường sử dụng kẹo cao su cho những mục đích
chính sau đây:
- Sảng khoái tinh thần, xả stress, tạo cảm giác mới lạ.
- Trắng răng, thơm miệng, khử mùi.
- Ăn theo thói quen hàng ngày, nếu ko sử dụng thì buồn mồm không
chịu được.
- Nhai để giết thời gian trong lúc ở một mình, chờ đợi … VD: chờ
bạn gái đi chơi …
- Lớp trẻ và cả những người lớn tuổi sử dụng các loại kẹo cao su
Extra để giúp bảo vệ răng miệng hoặc luyên tập thể dục cho cơ
hàm - theo lời khuyên của bác sỹ
Gần đây các loại kẹo cao su Extra Xylitol đang được Quảng Cáo và phát
triển trên thị trường, cũng là một thứ mới du nhập vào Việt Nam, giúp chăm
sóc sức khỏe hàng ngày. Ngoài ra cũng có những loại kẹo cao su được
khuyến cáo là sử dụng thường xuyên sẽ giúp ích cho việc giảm cân.
Khi đi trên xe bus hoặc gần khu các trường trung học ở Hà Nội, chúng ta sẽ
dễ dàng thấy những cô, cậu thanh niên, học sinh, sinh viên … nhai lép bép
kẹo cao su trong miệng, Đây là những khách hàng tiêu thụ phần lớn các sản
phẩm kẹo cao su. Kẹo cao su rất dễ để người ta tìm mua, đâu đâu cũng có
bán nó, và người ta thường mua sẵn và để một vài thanh hay viên kẹo cao su
trong túi để ngay khi cần có thể lấy ra dùng.
Có một tình trạng không chỉ riêng ở Việt Nam mà ở các nước đang phát
triển trên thế giới cũng vậy, đó là đường phố, những nơi công cộng, học
đường,… Những nới đó thường tràn ngập các bã kẹo cao su dính chặt vào
tạo thành những đốm to lấm chấm rất gây mất cảnh quan và vệ sinh. Ở một
số nước phát triển, người dân có ý thức hơn trong việc sử dụng và thải bã
kẹo cao su, cũng như chính sách phạt đối với người vi phạm. Song ở Việt
Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung, tình trạng này rất phổ
biến và khó giải quyết. Vì thế mà kẹo cao su không chỉ được hưởng ứng sử
dụng ở Việt Nam, mặt khác nó còn bị một bộ phận người dân cũng như nhà
quản lý phê phán.
Khi hỏi ngẫu nhiên từng người (thanh thiếu niên) trên địa bàn Hà Nội với
những câu hỏi nhanh thì có kết quả về những loại kẹo cao su được nhắc đến
nhiều nhất theo thứ tự như sau:
SINGUM COOL AIR
DOUBLEMINT
BIGBABOL
Và đây cũng là những loại xuất hiện trên hầu hết các đại lý bán buôn, bán lẻ,
hàng rong, quán nước … Có thể nói trên thị trường Việt Nam thì những loại
kẹo cao su trên là thịnh hành nhất.
Theo một cuộc phỏng vấn nhanh và ngẫu nhiên trong giới trẻ ở Hà Nội thì
có :
0/20 người trả lời: chưa bao giờ ăn kẹo cao su.
4/20 người trả lời: đã từng ăn kẹo cao su nhiều lần nhưng chỉ là tình
cờ, không có ý định thử (bạn bè mời).
8/20 người trả lời: thi thoảng buồn buồn cũng mua kẹo cao su nhai để
tìm kiếm sự mới lạ, giảm căng thẳng
6/20 người trả lời: mình thường xuyên mua kẹo cao su ăn theo thói
quen, và cũng để xã giao mời bạn bè.
2/20 người trả lời rằng không thể tưởng tượng được sẽ như thế nào
nếu như một ngày mình không có kẹo cao su.
2.2 Thực trạng Quảng cáo các sản phẩm kẹo cao su ở Việt Nam:
Nhận xét chung thì các chương trình, chiến dịch Quảng cáo cho sản phẩm
kẹo cao su ở Việt Nam phần lớn tập trung ở các phương tiện thông tin cơ
bản : báo, đài, truyền hình, internet … Ngoài ra thì cũng chưa có nhiều các
chiến dịch Quảng cáo nào rầm rộ, với quy mô lớn hay được tổ chức công
phu.
Thực tế, các chiến dịch Quảng cáo về kẹo cao su do người Việt Nam làm
ban đầu chủ yếu là mới chỉ tuyên truyền về tên tuổi thương hiệu, các thành
phần, hương vị của sản phẩm,… kèm theo là phát sóng những bộ phim
Quảng cáo do chính hãng đã sản xuất sẵn. Đó cũng là thực tế chung của
ngành Quảng cáo ở Việt Nam thời kỳ đầu phát triển.
VD: Quảng cáo Doublemint, đôi trai gái ngồi trên cành cây khô giữa hồ
nước, che ô tươi cười khi trời đang mưa rào … Nhạc nền của phim Quảng
cáo đó rất hay và trở nên nổi tiếng, được công chúng Việt Nam yêu thích.
Gần đây, ngành Quảng cáo trong nước đã có những sự thay đổi nhanh chóng
và rõ rệt. Sáng tạo hơn và Việt hóa hơn bằng cách tự xây dựng hình ảnh cho
sản phẩm trong nước cũng như sản phẩm nước ngoài được sản xuất hay tiêu
thụ trong nước. Về các chương trình Quảng cáo kẹo cao su, nhiều sản phẩm
trước kia vẫn gắn với các phim Quảng cáo của nước ngoài được chỉnh sửa
sơ sài thì nay công chúng cũng cảm thấy “gần gũi” hơn với sự diễn xuất và
xây dựng hình ảnh của người Việt bằng các phim Quảng cáo của người Việt.
Một số phim vẫn sử dụng từ Quảng cáo của nước ngoài, nhưng có sự chọn
lọc hơn, cụ thể là chủ yếu các phim của người Châu Á có nền văn hóa tương
đồng sản xuât, kết hợp với thuyết minh, âm thanh chuẩn xác khiến cho
người xem luôn thấy nó gần gũi như cuộc sống hàng ngày của mình. Từ đó
dễ tạo ra thiện cảm, chấp nhận, hấp dẫn, ấn tượng và ghi nhớ về sản phẩm
được Quảng cáo.
VD:
- Quảng cáo Doublemint với sự tham gia của Ngô Thanh Vân cùng
nền nhạc độc đáo, rất gây ấn tượng với công chúng và được yêu
thích.
- Quảng cáo Singum cool air của Hàn Quốc với sự thuyết minh tiếng
Việt – Một anh chàng bị mất tập trung, chỉ ngồi nghịch ngợm như
đười ươi, sau khi ăn singum cool air vào bỗng dưng “sảng khoái
tinh thần, tập trung trí tuệ” và hoàn thất xuất sắc công việc.
Phim quảng cáo có thể đã bước vào giai đoạn thoái trào, nhưng đó là câu
chuyện của thị trường quảng cáo quốc tế chứ không phải Việt Nam". Độc
đáo về ý tưởng, sống động về diễn xuất, hoành tráng về kinh phí thực hiện,
các phim quảng cáo đang được công chúng thưởng thức như một sản phẩm
nghệ thuật.
Nhưng trong thời đại truyền thông đa phương tiện, quảng cáo truyền hình
đang dần bị lu mờ? Phim quảng cáo có còn là lựa chọn khôn ngoan của các
doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh thị trường?
Phim quảng cáo = phim ngắn nghệ thuật
Phổ biến nhất hiện nay là các phim quảng cáo có độ dài 30 giây. Khoảng
thời gian quá ngắn khi so với một bộ phim nhưng thực chất thì phim quảng
cáo cũng chính là phim ngắn hay nói đúng hơn thì nó là một hình thức đặc
biệt của điện ảnh.
Thời gian gần đây, những người làm phim quảng cáo Việt Nam đã thấm thía
hơn bản chất của phim quảng cáo. Vì vậy, clip quảng cáo ấn tượng xuất hiện
trên truyền hình ngày càng nhiều hơn. Chẳng hạn, clip quảng cáo sữa Izzi
với những hình ảnh ngộ nghĩnh, màu sắc rực rỡ, giai điệu rộn ràng rất hợp
tâm lý trẻ thơ đã nhanh chóng gây được ấn tượng mạnh mẽ với công chúng.
Cứ đến giờ phát quảng cáo đó, các cô cậu nhóc dù đang làm việc gì cũng vội
vã chạy tới trước màn hình. Các dịch vụ SMS sử dụng bản nhạc đó làm nhạc
chuông điện thoại để kinh doanh. Bởi thế, đi đến đâu cũng nghe thấy giai
điệu ấy rộn ràng.
Không chỉ khai thác nhạc hay, các đoạn quảng cáo còn tận dụng sức
mạnh của điện ảnh để thu hút sự chú ý của khán giả. Chọn đúng thời điểm
phim “Die Hard 4” ra mắt, một hãng dầu gội dành cho nam giới tung ra
quảng cáo mô phỏng nội dung phim. Chỉ 30 giây mà clip qiảng cáo đó có đủ
cảnh đánh đấm mạo hiểm cho đến tình yêu lâm ly, cuốn hút người xem.
Những quảng cáo như trên được xếp vào loại thành công vì thu hút được sự
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét