Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2010 – 2015

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
LỜI MỞ ĐẦU
Sự bùng nổ dân số những năm 80 của thế kỷ trước dẫn đến những năm qua dânn
số đặc biệt là số người bước vào độ tuổi lao động của các nước đang phát triển tăng
nhanh và Việt Nam cũng không nằm ngoài số đó. Đến những năm gần đây thì quy
mô dân số ở nước ta cũng vẫn tăng lên (năm 2008 dân số là 86,16 triệu người; năm
2009 là 85,54 triệu người). Trong khi đó, số người ra khỏi tuổi lao động lại không
nhiều dẫn đến sự gia tăng cao lực lượng lao động trong nền kinh tế. Cùng đó, cuộc
khủng hoảng tài chính thế giới bắt đầu ở Mỹ vào khoảng tháng 12 năm 2007 và lan
rộng toàn thế giới tạo nên một nền kinh tế với nhiều bất ổn. Một trong những vấn đề
đó chính là giải quyết việc làm vì quy mô nền kinh tế có thể bị thu hẹp lại. Theo tổ
chức Lao động Quốc tế (ILO) cho biết nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt với tỷ
lệ thất nghiệp cao nhất trong vài thập kỷ: tính đến tháng hai năm 2009 tỷ lệ thất
nghiệp Mỹ đã tăng lên đến 8,1% mức cao nhất kể từ hai năm năm trở lại đây trong
lịch sử phát triển của nước này. Cùng với thời gian này, tỷ lệ thất nghiệp Việt Nam là
6,53%. Sau gần hai mươi năm thực hiện chủ trương đổi mới về quản lý kinh tế của
Đảng và Nhà nước, nước ta cũng đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng trong
phát triển kinh tế và xã hội. Nhưng trong hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay việc chủ
động trong xây dựng và thực hiện kế hoạch, đi trước đón đầu những vấn đề xã hội
phát sinh giải quyết có hiệu quả các chính sách và công tác xã hội là rất cần thiết.
Thực hiện tốt các chính sách và công tác xã hội, góp phần giữ vững ổn định xã hội là
nhân tố quan trọng thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế của từng tỉnh, từng
địa phương. Muốn thực hiện tốt trong cả nước thì Nhà nước ta trước hết phải phân
cấp thực hiện tốt ở các địa phương, các tỉnh, các ngành sau đó đến tổng thể chung
toàn nước.
Thực hiện Nghị Quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị Quyết Đại
hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVI về phát triển kinh tế xã hội tỉnh đến năm
2015, phấn đấu đưa Thái Nguyên thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao một
bước rõ rệt về đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo tiền đề cơ bản để Thái
Nguyên trở thành tỉnh Công nghiệp trước năm 2020. Trong điều kiện kinh tế hiện nay
của toàn tỉnh, việc giữ vững kế hoạch đề ra, thay đổi các biện pháp thực hiện cho phù
hợp với xu thế kinh tế mà tỉnh cùng cả nước đang đối mặt. Giải quyết việc làm cho
người dân trong tỉnh là vấn đề mà các nhà lãnh đạo của chính quyền địa phương và
người dân quan tâm hơn nữa trong điều kiện kinh tế hiện nay.
SV: Nguyễn Thị Xuân Lớp: Kinh tế phát triển 48A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
Em chọn đề tài: “ Định hướng và giải pháp giải quyết việc làm trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 – 2015”.
Đề tài bao gồm có ba phần:
Phần I: Cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết việc làm cho lao động
Phần II: Thực trạng về việc làm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Phần III: Các giải pháp và định hướng giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên.
Mục tiêu của đề tài
Tập trung vào đánh giá về biến động của việc làm trên địa bàn tỉnh, những tác
động của phát triển kinh tế xã hội đến việc làm hay người lao động trong tỉnh. Những
tác động của số lượng và chất lượng của người lao động đến tìm việc làm cho người
dân.
Các giải pháp tỉnh đã thực hiện để nâng cao chất lượng lao động, tạo nhiều việc
làm cho tỉnh: những kết quả và hạn chế.
Các giải pháp định hướng trong thời gian tới tỉnh thực hiện để giảm tỷ lệ thất
nghiệp, nâng cao đời sống của người dân thông qua chính sức lao động của người lao
động là làm việc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Địa bàn: Tỉnh Thái Nguyên
Thời gian đánh giá thực trạng phát triển: 2005 – 2009
Định hướng phát triển cho giai đoạn 2010 – 2015.
Phạm vi nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Trong thời gian thực tập ở Trung tâm nghiên cứu dân số lao động, việc làm của
Viện Khoa học Lao động Xã hội – Bộ Lao Động Thương Binh và Xã hội, dưới sự
giúp đỡ của các cô chú, các anh chị trong phòng và đồng thời dưới sự hướng dẫn tận
tình của PGS.TS Vũ Văn Vận, em đã hoàn thành chuyên đề thực tập với đề tài: “
Định hướng và giải pháp giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2010 – 2015.”
Em xin chân thành cám ơn thầy giáo và các anh chị đã giúp em hoàn thành bài
viết này! Với nội dung bài viết còn nhiều thiếu sót, mong được góp ý của thầy giáo
và các cô chú, các anh chị, các bạn để em hoàn chỉnh bài viết tốt hơn.
SV: Nguyễn Thị Xuân Lớp: Kinh tế phát triển 48A
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1. TỔNG QUAN VỀ DÂN SỐ, LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM.
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1. 1. Dân số
Trên nhiều phương diện khác nhau mối quan hệ giữa dân số và phát triển được
biểu hiện rất rõ. Nhưng mối quan hệ nổi bật nhất là mối quan hệ giữa dân số - lao
động – việc làm. Và khi đặt trong hoàn cảnh của các nước nghèo thì mối quan hệ này
lại càng có ý nghĩa. Đối với Việt nam một nước có thể nói điều kiện là chậm phát
triển, có mức gia tăng dân số nhanh, quy mô dân số đông, nguồn lao động lớn thì việc
tìm hiểu về dân số, lao động, việc làm là rất cần thiết - đây là bước đầu để hiểu rõ
hơn về sự phát triển của đất nước.
Sơ đồ1: Mối quan hệ giữa dân số - lao động – việc làm.
SV: Nguyễn Thị Xuân Lớp: Kinh tế phát triển 48A
Dân số
Dân số trong độ tuổi lao động
( 15-59 tuổi)
Dân số ngoài độ tuổi lao động
( <15 tuổi, >60 tuổi)
Ds hoạt động
kinh tế
Ds dưới tuổi lđ
(0-14 tuổi)
Ds làm
việc
trong
nền
ktqd
Ds trên tuổi lđ
(trên 60 tuổi)
Ds không hoạt
động kinh tế
Ds thất
nghiệp

đang
tìm
việc
Ds
không
có nhu
cầu
làm
việc
Ds làm
việc
gia
đình
Ds là
học
sinh,
sinh
viên
Ds là
người
tàn tật,
bệnh
nặng
Lực lượng lao động Lực lượng lao động
dự trữ
Nguồn lao động
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
Theo cách hiểu đơn giản nhất: Dân số là tập hợp những người sống trên lãnh thổ
nào đó. Trong đó, bao gồm các chỉ tiêu về quy mô dân số hay tổng số là bao nhiêu
người, chỉ tiêu về tốc độ tăng dân số hay đó chính là sự gia tăng dân số về quy mô
theo thời gian. Và chỉ tiêu cuối cùng là cơ cấu dân số: cơ cấu theo giới tính, cơ cấu
theo độ tuổi ( như mối quan hệ ở sơ đồ trên là chia theo cơ cấu theo độ tuổi). Dân số
là cơ sở để hình thành lực lượng lao động của xã hội. Sự biến động của dân số là kết
quả của quá trình nhân khẩu học và có tác động trực tiếp hoặc gián tiêp đến quy mô,
cơ cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân số trong độ tuổi lao động. Tổng
dân số của một quốc gia theo cơ cấu độ tuổi chia thành dân số trong độ tuổi lao động
và dân số ngoài độ tuổi lao động.
Dân số trong độ tuổi lao động là tât cả những người đang trong độ tuổi lao động
theo quy định của pháp luật của từng nước. Ở các nước khác nhau tuổi lao động được
quy định hoàn toàn khác nhau.
Ở Việt nam, căn cứ vào điều 6 của Bộ Luật Lao động của nước Cộng Hòa
XHCN Việt Nam đã sửa đổi và bổ sung năm 2002 quy định độ tuổi lao động ở nước
ta là từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi đối với nữ và từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi đối với
nam.
Dân số ngoài độ tuổi lao động là những người có tuổi nằm ngoài (trên hoặc
dưới) độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật. Và dân số nằm trong nhóm tuổi
này không phải là không tham gia hoạt động kinh tế. Có rất nhiều hoàn cảnh, nhiều lý
do mà dân số trong nhóm tuổi này vẫn phải hoạt động kinh tế sớm hơn hoặc muộn
hơn so với tuổi mà pháp luật quy định. Ở Việt Nam, lực lượng dân số này còn chiếm
một tỷ lệ tương đối nhiều trong lực lượng lao động của nền kinh tế quốc dân.
Trong nhóm tuổi dân số trong độ tuổi lao động chia thành dân số hoạt động kinh
tế và dân số không hoạt động kinh tế.
Dân số hoạt động kinh tế là tất cả những người (kể cả trong và ngoài độ tuổi lao
động) đang tham gia hoặc đang tích cực tham gia vào một ngành hay lĩnh vực hoạt
động nào đó trong nền kinh tế quốc dân trong một khoảng thời gian nhất định. Và nó
bao gồm hai bộ phận:
- Những người có việc làm (đang làm việc).
- Những người không có việc làm (thất nghiệp), nhưng có nhu cầu làm việc và
đang tích cực đi tìm việc làm trong khoảng thời gian xác định của cuộc tổng điều tra
dân số.
SV: Nguyễn Thị Xuân Lớp: Kinh tế phát triển 48A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm những người không tham gia lao động
vì có những lý do sau:
- Tàn tật, mất sức lao động (không có khả năng lao động)
- Học sinh, sinh viên đang đi học ở các trường PTTH, các lớp dạy nghề, trung
học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học
- Những người làm việc nhà, không tách rõ lợi ích, thù lao chỉ trong phạm vi
hộ gia đình. ( thu nhập của họ không được tính vào GDP của đất nước).
- Những người được hưởng lợi tức hoặc một khoản thu nhập nào đó mà không
phải làm việc như: đầu tư cho thuê nhà, tài sản, tiền nhuận bút
1.1.1.2. Nguồn lao động
Về nguyên tắc: Nguồn lao động là bộ phận dân số trong đó tuổi lao động và có
khả năng lao động. Bao gồm dân số đang làm việc trong nền kinh tế và dân số thất
nghiệp, đang tìm việc. Đây chính là bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo
ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội để phát triển nền kinh tế.
Trên thực tế: Nằm trong nguồn lao động ngoài dân số trong độ tuổi lao động
còn có cả những dân số nằm ngoài độ tuổi lao động cũng tham hoạt động kinh tế. Ở
nước ta, dân số đã nằm ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn tham gia vào hoạt động
kinh tế của nền kinh tế quốc dân cũng tương đối còn nhiều như: các trẻ em chưa đủ
tuổi vị thành niên nhưng vẫn lao động do hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc do mồ
côi cha mẹ phải tự nuôi sống bản thân, những người thâm niên trong các ngành, các
lĩnh vực kinh tế muốn cống hiến tiếp sức lực để làm giàu đất nước.
Đó là những khái niệm cơ bản nhất về dân số và nguồn lao động, từ đó là cơ sở
hiểu rõ hơn những người có việc làm (tạo ra thu nhập cho nền kinh tế quốc dân) và
những người không có việc làm (không đóng góp vào GDP của nền kinh tế) thuộc
vào thành phần nào của tổng dân số cả nước.
1.1.1.3. Việc làm
• Khái niệm
Trong mối quan hệ dân số - lao động – việc làm thì việc làm là yếu tố cuối cùng
quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Mục đích hướng tới của con
người trong xã hội để tồn tại và phát triển là có việc làm. Vậy hiểu việc làm như thế
nào, con người trong mối quan hệ việc làm như thế nào luôn là dấu hỏi lớn ?
Trong thời kỳ nguyên thủy với nền sản xuất giản đơn thì việc làm của con người
là sự kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo
mục đích lao động của mình. Các hoạt động như săn bắn, hái lượm là hoạt động
SV: Nguyễn Thị Xuân Lớp: Kinh tế phát triển 48A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
tạo ra của cải, là việc làm mà con người hoạt động để phục vụ đời sống của bộ tộc.
Trong xã hội nước ta quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã
có những quan niệm về việc làm như sau: Việc làm là những công việc đòi hỏi người
làm việc đó phải có một chuyên môn nhất định nào đó để tạo ra một thu nhập nhất
định. Và theo cách hiểu đó, người có việc là những người thuộc biên chế Nhà nước
hoặc là những người làm việc trong hợp tác xã.
Hiện nay, nước ta với nền kinh tế đã chuyển sang một nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, với nhiều tư duy thay đổi thì quan niệm về việc làm cũng đã thay
đổi một cách căn bản. Theo Bộ Luật Lao động năm 1994 của nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam khẳng định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập và
không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”.
Theo quy định của pháp luật của mỗi nước đã quy định thì các hoạt động trong
nền kinh tế được xác định là việc làm bao gồm các hoạt động sau:
- Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật
- Những công việc tự làm để thu lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia
đình nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc bằng hiện vật) cho công việc đó.
Với một nền kinh tế nhiều thành phần và công việc được tạo ra trong nền kinh
tế nhiều thành phần đó rất phong phú, đa dạng thì cách hiểu về việc làm theo những
quy định của pháp luật sẽ giới hạn, ngăn ngừa những việc làm có hại cho cộng đồng
và xã hội. Nhưng cũng khác với thời kỳ nguyên thủy phải bó buộc trong một hai công
việc của bộ tộc thì trong nền kinh tế hiện nay người lao động được phép tự do tìm
kiếm cho mình một hoặc nhiều hơn một công việc cho phép, tự do kinh doanh, tự do
tạo việc làm, tự do liên kết và tự do thuê mướn lao động theo quy định của pháp luật
mà Nhà nước đã quy định để tạo việc làm, tạo thu nhập đáp ứng những nhu cầu của
bản thân và nhu cầu của xã hội.
• Phân loại việc làm
Có rất nhiều căn cứ khác nhau để phân chia việc làm ra thành các loại để phù
hợp với cơ cấu của nền kinh tế. Căn cứ vào thời gian thực hiện công việc, tổ chức
Lao động Quốc tế (ILO) đã phân chia việc làm thành các loại:
- Căn cứ vào khoảng thời gian có việc làm thường xuyên trong một năm thì việc
làm có hai loại là việc làm ổn định và việc làm tạm thời. Trong đó, người có việc làm
ổn định là những người làm việc trong khoảng thời gian là từ 6 tháng trở lên trong
một năm và tiếp tục làm việc đó trong nhiều năm tiếp theo về sau. Việc làm tạm thời
SV: Nguyễn Thị Xuân Lớp: Kinh tế phát triển 48A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
là những người làm việc trong khoảng thời gian ít hơn 6 tháng trong một năm và làm
công việc đó không liên tục.
- Căn cứ vào khối lượng thời gian, mức độ thu nhập trong việc thực hiện một
công việc cụ thể nào đó chia thành việc làm chính và việc làm tạm thời. Việc làm
chính mang lại thu nhập chính thức cho người lao động và cũng trong khoảng thời
gian dài, nhất định. Việc làm tạm thời cũng mang lại khoản thu nhập cho người lao
động nhưng khoản thu nhập đó không thường xuyên hoặc có thường xuyên nhưng
không kéo dài trong năm.
- Căn cứ vào số giờ thực hiện làm việc trong một tuần việc làm chia thành việc
làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian.
Như ở nước ta, làm việc trong khu vực Nhà nước, làm việc theo giờ hành chính
là làm đủ 8 tiếng trong một ngày từ 7h30’ đến 12h sáng, từ 1h30’ đến 5h. Người lao
động phải thực hiện đúng quy định đi làm đủ giờ, đúng giờ thì là làm việc đủ thời
gian và làm việc không đủ số giờ trên là làm việc không đủ thời gian.
1.1.2.Tổng quan về thị trường việc làm.
1.1.2.1. Cung việc làm.
Cung việc làm là mối quan hệ giữa lượng cung việc làm với giá cả của lao động,
với giả thiết là các yếu tố khác không thay đổi.
Trong nền kinh tế, cung việc làm được tạo ra nhiều hay ít phụ thuộc vào các đơn
vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước, tư nhân và của hộ gia đình (chính những người
lao động). Khi việc làm tăng lên là các doanh nghiệp thuê mướn lao động nhiều hơn,
việc thuê mướn nhiều hay ít lại phụ thuộc vào việc người tiêu dùng mua hàng hóa và
dịch vụ nhiều hay ít của họ sản xuất ra. Nhu cầu thuê mướn lao động cũng như cầu
về các đầu vào khác của quá trình sản xuất ( đất đai, nhà xưởng, máy móc, vốn, công
nghệ ) là cầu phát sinh, xuất phát từ mong muốn của khách hàng. Vì thế, người sử
dụng lao động thuê nhiều hay ít phụ thuộc vào cầu sản phẩm, điều kiện hoàn cảnh
của từng tổ chức, từng doanh nghiệp và của nền kinh tế dẫn đến cung việc làm nhiều
hay ít biến động theo. Ngoài ra, khi quyết định tạo ra thêm một hay nhiều việc làm,
cả hai bên người lao động và người sử dụng lao động cần chú trọng đến số lượng lao
động, chất lượng lao động để xác định giá cả sức lao động và các quyết định về quan
hệ lao động như điều kiện làm việc, các chế độ khuyến khích, chính sách tiền lương,
bảo hiểm Số lượng việc làm trong nền kinh tế có tăng lên hay không là phụ thuộc
vào quyết định thuê lao động của các đơn vị sản xuất kinh doanh. Giả sử trong một
doanh nghiệp mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận và là một tác nhân không
SV: Nguyễn Thị Xuân Lớp: Kinh tế phát triển 48A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
làm thay đổi đến các giá cả thị trường thì doanh nghiệp đó tối đa hóa lợi nhuận bằng
cách là thuê “ đủ và đúng” số lượng vốn và lao động cần thiết. Và mức độ thuê này
khác nhau trong dài hạn và trong ngắn hạn. Ngắn hạn là một khoảng thời gian mà
doanh nghiệp không thể thay đổi quy mô nhà xưởng hoặc thay đổi thiết bị máy móc
nên lượng vốn của đơn vị là cố định ở một mức K nào đó. Cung việc làm ngắn hạn
cho biết những thay đổi về số việc làm (hay số lao động cần thuê) của đơn vị sản xuất
khi tiền công thay đổi và vốn được giữ nguyên. Trong dài hạn, doanh nghiệp có thể
tối đa hóa lợi nhuận bằng cách thay đổi cả số lượng lao động thuê và lượng vốn đầu
tư vào nhà xưởng, thiết bị. Vì ngoài việc thay đổi số lượng lao động, lượng vốn của
doanh nghiệp còn thay đổi dẫn đến kết quả sản xuất khác nhau và từ đó cung việc
làm cũng khác nhau.
1.1.2.2. Cầu việc làm
Mỗi người lao động ở thời điểm khác nhau của cuộc đời đều phải tự quyết định
có làm việc hay không làm việc, nếu làm việc thì làm việc cho ai và với thời gian bao
lâu? Đó chính là biểu hiện của cầu việc làm ở mỗi thời điểm nhất định.
Cầu việc làm là mối quan hệ giữa lượng cầu việc làm với giá cả của lao động
trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi. Nó được thể hiện ở số lượng, chất
lượng con người hoặc ở thời gian của những người tham gia và mong muốn tham gia
lao động trên thị trường lao động.
Cầu việc làm là yếu tố xuất phát từ chính người lao động và những người mong
muốn làm việc. Cầu việc làm thay đổi như thế nào là phụ thuộc vào quy mô, tốc độ,
cơ cấu dân số, số lượng lao động, chất lượng lao động và thời gian làm việc. Khi quy
mô dân số càng lớn sẽ tạo ra nguồn lực sẵn sàng cung cấp sức lao động cho xã hội
càng lớn. Trong quy mô dân số yếu tố cấu thành lên đường cầu việc làm là dân số
hoạt động kinh tế có việc làm hay chính là tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quyết
định cầu việc làm về số lượng. Khi tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động càng tiến
gần đến 100% chính là tạo ra cầu việc làm càng lớn, thu hút nguồn nhân lực càng lớn.
Tuy nhiên, phần lớn những người có việc làm (làm việc được trả công) đều được tính
vào lực lượng lao động mà không cần biết họ làm việc bao nhiêu giờ trong ngày hoặc
trong năm. Thời gian làm việc khác nhau của người lao động sẽ tạo lên cầu việc làm
cà cung thời gian lao động là khác nhau. Với một khoảng thời gian nhất định có sự
đánh đổi giữa thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi. Theo “ mô hình lựa chọn làm
việc – nghỉ ngơi tân cổ điển” nếu nghỉ ngơi nhiều, chúng ta sẽ sống mà không có
những tiện nghi. Còn nếu làm việc, chúng ta sẽ có tiền để mua hàng hóa như mong
SV: Nguyễn Thị Xuân Lớp: Kinh tế phát triển 48A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
muốn và phải từ bỏ thời gian nghỉ ngơi của mình. Vậy quyết định làm việc của con
người phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như sự tăng lương và thu nhập thực tế trên thị
trường hay sự thay đổi sở thích, hành vi nghề nghiệp hứng thú và hoàn cảnh gia đình.
Khi quyết định đi làm thì người lao động mong muốn có được một mức tiền lương và
đó là mức tiền lương giới hạn. Người lao động sẽ không làm việc nếu như tiền lương
trên thị trường (là mức lương mà người chủ sẵn sàng trả) thấp hơn tiền lương giới
hạn (là mức lương người lao động muốn có để chấp nhận việc làm). Như vậy, cầu
việc làm là yếu tố do người lao động và những người mong muốn có việc làm quyết
định, trái lại với cung việc làm là yếu tố do các đơn vị sản xuất kinh doanh tạo GDP
cho nền kinh tế quyết định. Sự vận động giữa hai yếu tố này như thế nào và đem lại
kết quả gì, có như sự mong muốn của các nhà lãnh đạo, của người lao động không?
1.1.2.3. Giải quyết việc làm và thất nghiệp.
• Giải quyết việc làm.
Sự vận động giữa cung việc làm và cầu việc làm phù hợp với nhau thì người
dân có việc làm và trở thành lực lượng lao động, nếu sự vận động đó khác đi và lệch
với nhau là hiện tượng thất nghiệp xảy ra. Với tất cả hoạt động và các chính sách liên
quan đến dân số, đến nguồn lao động mà Nhà nước và người dân cố gắng thực hiện
tốt đều có mục tiêu là giải quyết việc làm cho dân số. Điều đó có nghĩa là hướng tới
có việc làm đầy đủ cho người lao động, đảm bảo thu nhập ổn định, tiến đến nâng cao
mức sống cho người lao động và dần dần nâng cao chất lượng việc làm để sử dụng
một cách có hiệu quả nhất nguồn lực của đất nước.
Căn cứ vào khái niệm và phân loại việc làm ở trên, theo đó có 3 nhóm người khi
giải quyết việc làm là: nhóm người đủ việc làm, nhóm người thiếu việc làm và nhóm
người thất nghiệp. Trong đó, có hai nhóm người là nhóm người đủ việc làm và nhóm
người thiếu việc làm là vẫn có việc làm nhưng những người lao động này có được
làm việc theo nhu cầu, theo khả năng hay theo hoàn cảnh là phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố, điều kiện như: năng lực của người lao động, môi trường làm việc, khả năng
về các yếu tố đầu vào của sản xuất Nhóm người thất nghiệp là nhóm người không
có việc làm nhưng đang mong muốn có việc làm.
- Người đủ việc làm: là những người có số giờ làm việc trong một tuần lễ, có số
giờ lớn hơn hoặc bằng 40 giờ nhưng cũng có những người làm việc ít hơn 40 giờ
nhưng đồng thời họ lại làm lớn hơn số giờ quy định. Đối với một quốc gia, số người
có đủ việc làm đạt được một số tối đa là điều mong muốn, điều luôn luôn hướng tới.
Trên thực tế thì mỗi quốc gia đều phấn đấu đạt được số người có đủ việc làm càng
SV: Nguyễn Thị Xuân Lớp: Kinh tế phát triển 48A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Kế Hoạch – Phát Triển
gần với con số của nguồn lao động bao nhiêu thì càng giảm được nạn thất nghiệp bấy
nhiêu. Mục tiêu phấn đấu nhằm đạt được sự thỏa mãn nhu cầu việc làm và thu nhập
tương đối cao, ổn định cho người lao động.
Tỷ lệ người có đủ việc làm được xác định bằng cách lấy số người có đủ việc
làm so với dân số hoạt động kinh tế, lấy theo tỷ lệ phần trăm.
- Người thiếu việc làm: là những người mà trong khoảng thời gian trước cuộc
tổng điều tra một tuần có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn giờ quy định và có nhu cầu
làm thêm giờ. Đây chính là tình trạng người lao động không sử dụng hết thời gian
quy định và nhận được thu nhập thấp hơn so với nhu cầu của người lao động từ công
việc đang làm đó khiến họ có nhu cầu làm thêm công việc khác vào khoảng thời gian
đó để tăng thu nhập.
Tỷ lệ người thiếu việc làm được xác định bằng cách lấy số người hoặc số thời
gian (ngày, giờ, ) thiếu việc làm (không đủ việc làm) trong năm chia cho toàn bộ lực
lượng lao động hoặc tổng quỹ thời gian (ngày, giờ ) cần làm việc theo quy định
trong năm đó.
Nhóm người thất nghiệp được đề cập chi tiết hơn đến phần sau. Vậy giải quyết
việc làm gồm hoạt động tác động đến cung cầu lao động và mối quan hệ giữa cung
cầu lao động. Đồng thời với sự kết hợp các hoạt động từ ba phía: Nhà nước, doanh
nghiệp và chính những người lao động nhằm mở rộng cung việc làm, nâng cao sự
phù hợp của cầu việc làm và các yếu tố của thị trường, từ đó Nhà nước giúp đỡ rồi
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cho người lao động tự tạo việc làm cho chính
mình và cho những người khác.
• Thất nghiệp
Hoàn toàn ngược lại với những người được giải quyết việc làm như trên thì
trong xã hội còn lại những người không có việc làm hoặc việc làm không ổn định. Và
chính sự vận động không phù hợp giữa cung và cầu việc làm mà tạo ra những người
thất nghiệp. Những người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động, mong muốn lao động nhưng không có việc làm.
SV: Nguyễn Thị Xuân Lớp: Kinh tế phát triển 48A
10

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét