theo chính sách tiền lơng và có những điều tiết cần thiết để trả lơng phù hợp
với lao động thực tế bỏ ra trong quá trình làm việc thông qua những cơ chế
thích hợp.
Nguyên tắc 2: Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lơng
bình quân.
Năng suất lao động không ngừng tăng lên, đó là một quy luật, tiền lơng
của ngời lao động cũng tăng lên không ngừng do tác động của nhiều nhân tố
khách quan. Tăng tiền lơng và tăng năng suất lao động có liên quan chặt chẽ
với nhau.
Xét các yếu tố, các nguyên nhân trực tiếp làm tăng tiền lơng và tiền l-
ơng bình quân ta thấy tiền lơng tăng là do trình độ tổ chức và quản lý lao động
ngày càng hiệu quả hơn đối với tăng năng suất lao động, ngoài các yếu tố
gắn liền với việc nâng cao kỹ năng làm việc và trình độ tổ chức quản lý lao
động nh trên thì tăng năng suất lao động do các nguyên tắc khác tạo ra nh đổi
mới công nghệ sản xuất, nâng cao trình độ trang bị kỹ thuật trong lao động,
khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên Rõ ràng là
năng suất lao động có khả năng khách quan tăng nhanh hơn tiền lơng bình
quân.
Mặt khác, khi xem xét mối quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất lao
động và tiền lơng thực tế, giữa tích luỹ và tiêu dùng trong thu nhập quốc dân
ta thấy chúng có mối liên hệ với tốc độ phát triển của khu vực sản xuất t liệu
sản xuất (khu vực I) và khu vực sản xuất vật phẩm tiêu dùng (khu vực II). Quy
luật tái sản xuất mở rộng đòi hỏi khu vực I phải tăng nhanh hơn khu vực II.
Do vậy tổng sản phẩm xã hội (khu vực I cộng với khu vực II) có tốc độ tăng
cao hơn tốc độ tăng của tổng sản phẩm của riêng khu vực II. Do đó tổng sản
phẩm xã hội tính theo đầu ngời (cơ sở của năng suất lao động bình quân) tăng
nhanh hơn tốc độ phát triển sản phẩm bình quân tính theo đầu ngời của khu
vực II (cơ sở của tiền lơng thực tế). Ta cũng thấy thêm rằng, không phải toàn
bộ sản phẩm của khu vực II đợc dùng cho tiêu dùng để nâng cao tiền lơng mà
một phần trong đó đợc dùng để tích luỹ. Điều này cũng chỉ ra rằng, muốn
tăng tiền lơng thì phải tăng năng suất lao động xã hội với tốc độ cao hơn.
5
Trong từng doanh nghiệp thì thấy rằng, tăng tiền lơng dẫn đến tăng chi
phí sản xuất kinh doanh; tăng năng suất lao động làm giảm chi phí lao động
cho từng đơn vị sản phẩm. Một doanh nghiệp chỉ thực sự kinh doanh có hiệu
quả khi chi phí nói chung cũng nh chi phí cho một đơn vị sản phẩm giảm đi,
tức mức giảm chi phí do tăng năng suất lao động phải lớn hơn mức tăng chi
phí do tăng tiền lơng bình quân.
Rõ ràng nguyên tắc này là cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp, nâng cao đời sống của ngời lao động và phát triển nền kinh
tế.
Nguyên tắc 3 : Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lơng giữa những
ngời lao động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.
Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lơng giữa những ngời lao động
làm việc trong các nghề khác nhau nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng
trong trả lơng cho ngời lao động. Thực sự nguyên tắc này là cần thiết và dựa
trên những cơ sở sau:
a) Trình độ lành nghề bình quân của ngời lao động ở mỗi ngành.
Do đặc điểm và tính chất phức tạp về kỹ thuật và công nghệ ở các
ngành nghề khác nhau là khác nhau. Điều này làm cho trình độ lành nghề
bình quân của ngời lao động giữa các ngành khác nhau cũng khác nhau. Sự
khác nhau này cần thiết phải đợc phân biệt trong trả lơng. Có nh vậy mức
khuyến khích ngời lao động tích cực học tập, lao động, rèn luyện, nâng cao
trình độ lành nghề và kỹ năng làm việc, nhất là trong các ngành nghề đòi hỏi
kiến thức và tay nghề cao.
b) Điều kiện lao động.
Điều kiện lao động khác nhau có ảnh hởng đến mức hao phí sức lao
động trong quá trình làm việc. Những ngời làm việc trong điều kiện nặng
nhọc, độc hại, hao tốn nhiều sức lực phải đợc trả lơng cao hơn so với những
ngời làm việc trong điều kiện bình thờng. Sự phân biệt này làm cho tiền lơng
bình quân trả cho ngời lao động làm việc ở những nơi, những ngành có điều
kiện lao động khác nhau là rất khác nhau. Để làm tăng tính linh hoạt trong trả
6
lơng phân biệt theo điều kiện lao động, ngời ta thờng sử dụng các loại phụ cấp
về điều kiện lao động để trả cho lao động ở những công việc có điều kiện làm
việc rất khác nhau.
c) ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân.
Nền kinh tế bao gồm rất nhiều ngành khác nhau. Trong từng thời kỳ,
từng giai đoạn của sự phát triển của mỗi nớc, một số ngành đợc xem là trọng
điểm vì có tác dụng rất lớn đến sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế.
Các ngành này cần phải đợc u tiên phát triển.
Trong đó, dùng tiền lơng để thu hút và khuyến khích ngời lao động
trong các ngành có ý nghĩa kinh tế quan trọng, đó là một biện pháp đòn bẩy
về kinh tế và cần phải đợc thực hiện tốt. Thực hiện sự phân biệt này thờng rất
đa dạng, có thể trong tiền lơng (qua thang bảng lơng) cũng có thể dùng các
loại phụ cấp khuyến khích.
d) Sự phân bổ theo khu vực sản xuất.
Một ngành có thể đợc phân bố ở những khu vực khác nhau về địa lý,
kéo theo những khác nhau về đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá, tập quán.
Những sự khác nhau đó gây ảnh hởng và làm cho mức sống của ngời lao động
hởng lơng khác nhau. Để thu hút, khuyến khích lao động làm việc ở những
vùng xa xôi, hẻo lánh, vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, phải có
chính sách tiền lơng thích hợp với những loại phụ cấp, u đãi thoả đáng. Có nh
vậy thì mới có thể sử dụng hợp lý lao động xã hội và khai thác có hiệu quả các
nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên ở mọi vùng, miền của đất nớc.
7
II. Các chế độ tiền lơng.
II.1. Chế độ tiền lơng cấp bậc.
II.1.1. Khái niệm và ý nghiã của chế độ tiền lơng cấp bậc.
1. Khái niệm.
Chế độ tiền lơng cấp bậc là toàn bộ những quy định của Nhà nớc và các
xí nghiệp, doanh nghiệp áp dụng, vận dụng để trả lơng cho ngời lao động.
Căn cứ vào chất lợng và điều kiện lao động khi họ hoàn thành một số
công việc nhất định. Chế độ tiền lơng cấp bậc áp dụng cho những công nhân,
những ngời lao động trực tiếp, và trả lơng theo kết quả lao động của họ, thể
hiện qua số lợng và chất lợng lao động.
Việc xây dựng và áp dụng chế độ tiền lơng cấp bậc là rất cần thiết
nhằm quán triệt các nguyên tắc trong trả lơng cho ngời lao động.
Để trả lơng một cách đúng đắn và công bằng thì phải căn cứ vào cả hai
mặt: số lợng và chất lợng của lao động. Hai mặt này gắn liền với nhau trong
bất kỳ một quá trình lao động nào. Số lợng lao động thể hiện qua mức hao phí
thời gian lao động dùng để sản xuất ra sản phẩm trong một khoảng thời gian
theo lịch nào đó: ví dụ số giờ lao động trong ngày; số ngày lao động trong
tuần hay trong tháng Đơn vị số lợng lao động chính là số thời gian lao động.
Chất lợng lao động là trình độ hành nghề của ngời lao động đợc sử
dụng vào quá trình lao động. Chất lợng lao động thể hiện ở trình độ giáo dục
và đào tạo, kinh nghiệm, kỹ năng. Chất lợng lao động càng cao thì năng suất
lao động và hiệu quả làm việc cũng càng cao.
Rõ ràng muốn xác định đúng đắn tiền lơng cho một loại công việc, cần
phải xác định số và chất lợng lao động nào đó đã hao phí để thực hiện công
việc đó. Đồng thời xác định điều kiện lao động của công việc cụ thể đó.
8
2. ý nghĩa của việc áp dụng chế độ tiền lơng cấp bậc.
Thực hiện chế độ tiền lơng cấp bậc có những ý nghĩa sau đây:
- Chế độ tiền lơng cấp bậc tạo khả năng điều chỉnh tiền lơng giữa các
ngành, các nghề một cách hợp lý, giảm bớt tính chất bình quân trong công
việc trả lơng.
- Chế độ tiền lơng cấp bậc có tác dụng làm cho việc bố trí và sử dụng
công nhân thích hợp với khả năng về sức khoẻ và trình độ lành nghề của họ,
tạo cơ sở để xây dựng kế hoạch lao động, nhất là kế hoạch tuyển chọn, đào tạo
nâng cao trình độ lành nghề cho ngời lao động.
- Chế độ tiền lơng cấp bậc có tác dụng khuyến khích và thu hút ngời lao
động vào làm việc trong những ngành nghề có điều kiện lao động nặng nhọc,
khó khăn, độc hại
Chế độ tiền lơng cấp bậc không phải là cố định, trái lại tuỳ theo điều
kiện về kinh tế, chính trị và xã hội trong từng thời kỳ nhất định mà chế độ tiền
lơng này đợc cải tiến hay sửa đổi thích hợp để phát huy tốt vai trò, tác dụng
của nó.
II.1.2. Nội dung của chế độ tiền lơng cấp bậc.
1. Thang lơng.
a) Khái niệm.
Thang lơng là bản xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lơng giữa những công
nhân trong cùng một nghề hoặc một nhóm nghề giống nhau, theo trình độ
lành nghề (xác định theo bậc) của họ. Những ngành nghề khác nhau sẽ có
thang lơng tơng ứng khác nhau.
Một thang lơng bao gồm một số bậc lơng và hệ số phù hợp với các bậc
lơng đó. Số bậc và các hệ số của thang lơng khác nhau không giống nhau.
- Bậc lơng là bậc phân biệt về trình độ lành nghề của công nhân và đợc
xếp từ thấp đến cao (bậc cao nhất có thể là bậc 3,6,7 ).
- Hệ số lơng chỉ rõ lao động của công nhân ở một bậc nào đó (lao động
có trình độ lành nghề cao), đợc trả lơng cao hơn công nhân bậc 1 (bậc có trình
9
độ lành nghề thấp nhất - hay còn gọi là lao động giản đơn) trong nghề bao
nhiêu lần.
- Bội số của thang lơng là hệ số của bậc cao nhất trong một thang lơng.
Đó là sự gấp bội giữa hệ số lơng của bậc cao nhất so với hệ số lơng của bậc
thấp nhất hoặc so với mức lơng tối thiểu.
Sự tăng lên của hệ số lơng giữa các bậc lơng đợc xem xét ở hệ số tăng
tuyệt đối và hệ số tăng tơng đối.
- Hệ số tăng tuyệt đối của hệ số lơng là hiệu số của hai hệ số lơng liên
tiếp kề nhau :
h
tdn
= H
n
- H
n-1
.
Trong đó : h
tdn
: Hệ số tăng tuyệt đối.
H
n
: Hệ số lơng bậc n.
H
n-1
: Hệ số lơng ở bậc n - 1.
-Hệ số tăng tơng đối của hệ số lơng là tỷ số giữa hệ số tăng tuyệt đối
với hệ số lơng của bậc đứng trớc:
1n
tdn
tgdn
H
h
H =
Trong đó: H
tgdn
: Hệ số tăng tơng đối.
h
tdn
: Hệ số tăng tuyệt đối.
H
n-1
: Hệ số lơng của bậc đứng trớc.
Trong khi xây dựng thang lơng, các hệ số tăng tơng đối của hệ số lơng
có thể là hệ số tăng tơng đối luỹ tiến (tăng đổi), hệ số tăng tơng đối đều đặn
(không đổi) và hệ số tăng tơng đối luỹ thoái (giảm dần).
+ Thang lơng có hệ số tăng tơng đối luỹ tiến là thang lơng trong đó hệ
số tăng tơng đối của các bậc sau cao hơn hệ số tăng tơng đối của các bậc đứng
trớc đó.
+ Thang lơng có hệ số tăng tơng đối đều đặn là thang lơng mà hệ số
tăng tơng đối của các bậc khác nhau là nh nhau.
10
+ Thang lơng có hệ số tăng tơng đối luỹ thoái là thang lơng có các hệ
số tăng tơng đối ở các bậc sau nhỏ hơn hệ số tăng tơng đối của các bậc đứng
trớc đó.
Trong thực tế, các loại thang lơng có hệ số tăng tơng đối nh trên mang
tính nguyên tắc, phản ánh xu hớng chứ ít khi đảm bảo tính tuyệt đối.
b) Trình tự xây dựng một thang lơng.
- Xây dựng chức danh nghề của các nhóm công nhân.
Chức danh nghề của các nhóm công nhân là chức danh cho công nhân
trong cùng một nghề hay một nhóm nghề. Việc xây dựng chức danh căn cứ
vào tính chất, đặc điểm và nội dung của quá trình lao động. Những công nhân
làm việc mà công việc của họ có tính chất, đặc điểm và nội dung nh nhau thì
đợc xếp vào một nghề - mang cùng một chức danh, chẳng hạn nh công nhân
cơ khí, công nhân xây dựng những ngời trong cùng một nghề sẽ có chung
một thang lơng.
Xác định hệ số của thang lơng thực hiện qua phân tích thời gian và các
yêu cầu về phát triển nghề nghiệp cần thiết để một công nhân có thể đạt tới
bậc cao nhất trong nghề. Các yếu tố có thể đa vào phân tích là: Thời gian học
tập văn hoá, thời gian đào tạo, bồi dỡng, thời gian tích luỹ kinh nghiệm và kỹ
năng làm việc
Khi xác định bội số của thang lơng, ngoài phân tích các yếu tố trực tiếp
trong ngành, cần phân tích quan hệ trong nhóm nghề và những nghề khác để
đạt đợc tơng quan hợp lý giữa các nghề khác nhau.
- Xác định số bậc của thang lơng.
Xác định số bậc của một thang lơng căn cứ vào bội số của một thang l-
ơng, tính chất phức tạp của sản xuất và trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động
(trình độ cơ khí hoá, tự động hoá) và trình độ tự phát triển trình độ lành nghề,
nâng bậc Từ đó mà xác định số bậc cần thiết. Những nghề có tính chất phức
tạp về kỹ thuật cao thì thờng đợc thiết kế theo thang lơng có nhiều bậc. ở nớc
ta, những nghề trong trong nhóm nghề cơ khí thờng có kết cấu nhiều bậc (7
bậc).
11
- Xác định hệ số lơng của các bậc.
Dựa vào bội số của thang lơng, số bậc trong thang lơng và tính chất
trong hệ số tăng tơng đối mà xác định hệ số lơng tơng ứng cho từng bậc lơng.
Bội số lơng không đổi, tuy nhiên hệ số lơng của các bậc khác nhau, ngoài bậc
một và bội số của thang lơng, có thể cao thấp khác nhau tuỳ thuộc vào loại
thang lơng đợc thiết kế, theo hệ số tăng tơng đối luỹ tiến, đều đặn hay suy
thoái.
2. Mức tiền lơng.
Mức tiền lơng là số tiền dùng để trả công lao động trong một đơn vị
thời gian (giờ, ngày hay tháng) phù hợp các bậc trong thang lơng.
Thời gian dùng làm đơn vị tính khi trả lơng có thể khác nhau tuỳ thuộc
vào điều kiện cụ thể và trình độ phát triển sản xuất, trình độ tổ chức và quản
lý ở mỗi ngành, vùng, khu vực hay mỗi quốc gia khác nhau. ở một số nớc có
nền kinh tế phát triển, ngời ta có thể trả lơng theo giờ (giờ công). ở Việt Nam,
đơn vị tính phổ biến là tháng.
Trong một thang lơng, mức tuyệt đối của mức lơng đợc quy định cho
bậc 1 hay mức tối thiểu, các bậc còn lại thì đợc tính dựa vào suất lơng bậc 1
và hệ số lơng tơng ứng với bậc đó, theo công thức sau :
S
i
= S
1
x k
i
.
Trong đó: S
i
: suất lơng (mức lơng) bậc i.
S
1
: suất lơng (mức lơng) bậc 1 hay mức lơng tối thiểu.
k
i
: Hệ số lơng bậc i.
Mức lơng bậc 1 là mức lơng ở bậc thấp nhất trong nghề. Mức lơng này
ở từng nghề khác nhau cũng khác nhau, phụ thuộc về mức độ phức tạp về kỹ
thuật và điều kiện lao động, và phụ thuộc vào hình thức trả lơng. Trong nền
kinh tế, mức lơng bậc 1 của một nghề nào đó luôn luôn lớn hơn hoặc bằng
mức lơng tối thiểu.
Mức lơng tối thiểu là mức lơng trả cho ngời lao động làm những công
việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thờng, bù đắp sức lao động
12
giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng. Đó là những
công việc thông thờng mà một ngời lao động có sức khoẻ bình thờng, không
đào tạo về trình độ chuyên môn cũng có thể làm đợc. Tiền lơng tối thiểu đợc
Nhà nớc quy định theo từng thời kỳ trên cơ sở về trình độ phát triển về kinh tế
- xã hội của đất nớc và yêu cầu của tái sản xuất sức lao động xã hội. Tiền lơng
(mức lơng) tối thiểu thờng đợc xác định qua phân tích các chi phí về ăn, mặc,
ở, tiện nghi sinh hoạt, chi phí về học tập, bảo hiểm sức khoẻ, y tế
3. Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật.
Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật là văn bản quy định về mức độ phức tạp
của công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề của cônh nhân ở một bậc nào
đó phải có sự hiểu biết nhất định về mặt kiến thức lý thuyết và phải làm đợc
những công việc nhất định trong thực hành. Trong bản tiêu chuẩn cấp bậc kỹ
thuật thì cấp bậc công nhân có liên quan chặt chẽ với nhau.
Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật có ý nghĩa rất quan trọng trong tổ chức lao
động và trả lơng. Trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ thuật, mà ngời lao động có thể đợc
bố trí làm việc theo đáng yêu cầu công việc, phù hợp với khả năng lao động.
Qua đó mà có thể thực hiện trả lơng theo đúng chất lợng của ngời lao động
khi họ làm việc trong cùng một nghề hay giữa các nghề khác nhau.
Có hai loại tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật:
- Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật chung, thống nhất của các nghề chung. ó
là các nghề có trong nhiều ngành kinh tế kỹ thuật trong nền kinh tế. Chẳng
hạn, công nhân cơ khí, dù họ làm việc ở các ngành khác nhau, nhng cùng nằm
trong bản tiêu chuẩn kỹ thuật của công nhân cơ khí nói chung.
- Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật theo ngành. Đó là tiêu chuẩn cấp bậc kỹ
thuật riêng, áp dụng trong một ngành, nghề mang tính đặc thù mà không thể
áp dụng cho ngành khác. Ví dụ: công nhân tàu biển
Các văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật đợc Nhà nớc quản lý tập trung thống
nhất trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế.
II.2. Chế độ tiền lơng chức vụ.
II.2.1. Khái niệm và điều kiện áp dụng.
13
Chế độ tiền lơng chức vụ là toàn bộ những quy định của Nhà nớc mà
các tổ chức quản lý nhà nớc, các tổ chức kinh tế, xã hội và các doanh nghiệp
áp dụng để trả lơng cho ngời lao động quản lý.
Khác với công nhân, những ngời lao động trực tiếp, lao động quản lý
tuy không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhng lại đóng vai trò rất quan trọng lập kế
hoạch, tổ chức, điều hành, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Sản xuất càng phát triển, quy mô và phạm vi hoạt động kinh doanh
càng mở rộng thì vai trò quan trọng của lao động quản lý ngày càng tăng và
càng phức tạp. Hiệu quả của lao động quản lý có ảnh hởng rất lớn, trong nhiều
trờng hợp mang tính quyết định đến hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã
hội, chính trị
Khác với lao động trực tiếp, lao động quản lý, lao động gián tiếp làm
việc bằng trí óc nhiều hơn, cấp độ quản lý càng cao thì càng đòi hỏi sáng tạo
nhiều hơn. Lao động quản lý kết hợp cả yếu tố khoa học và nghệ thuật. Lao
động quản lý không chỉ thực hiện các vấn đề chuyên môn mà còn giải quyết
rất nhiều các quan hệ con ngời trong quá trình làm việc. Đặc điểm này làm
cho việc tính toán để xây dựng thang lơng, bảng lơng cho lao động quản lý rất
phức tạp.
Trong hoạt động quản lý, những yêu cầu đối với lao động quản lý
không chỉ khác với lao động trực tiếp mà còn có sự khác nhau rất rõ giữa các
loại cấp độ quản lý với nhau.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét