Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

569 Lợi nhuận & biện pháp tăng lợi nhuận trong Doanh nghiệp Xây dựng

Con ngời muốn tồn tại và phát triển trớc hết phải có: ăn, mặc,
ở và phơng tiện đi lại
Nghĩa là phải có tiêu dùng. Muốn có tiêu dùng phải lao động sản
xuất ra của cải vật chất. Sự tiêu dùng không ngừng nên sản xuất
của cải vật chất cũng phải không ngừng. Vì thế, lao động sản xuất
của cải, vật chất là cơ sở của đời sống xã hội và là hành động cơ
bản nhất của đời sống xã hội loài ngời.
Khi nền văn minh và tiến bộ xã hội đợc thiết lập. Năng xuất
lao động đợc nâng cao, đáp ứng đợc nhu cầu cần thiết và tất yếu
của ngời lao động, số sản phẩm vợt ra ngoài sản phẩm cần thiết gọi
là sản phẩm thặng d. Từ đó nhà t bản dùng nhiều phơng pháp tạo ra
giá trị thặng d, và thực chất của lợi nhuận là hình thực biến tớng
của giá trị thặng d, hay lợi nhuận là số chênh lệch giữa giá trị hàng
hoá so với chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa đã bỏ ra. Giá trị thặng
d là một phạm chù riêng của chủ nghĩa t bản. Sản xuất giá trị thặng
d là qui luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa t bản. Nội dung của qui
luật là tạo ra giá trị thặng d càng nhiều cho náh t bản, bằng cách
tăng cờng các biện pháp quản lý và phơng tiện kỹ thuật, để bọc lột
ngày càng nhiều lao động làm thuê. Quy luật giá trị thặng d chi
phối sự vận động và phát triển của chủ nghĩa t bản và qui định xu
thế lịch sử tất yếu là thay thế chủ nghĩa t bản bằn một xã hội mới
1
tiến bộ hơn, đó là xã hội, xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế đang
đổi mới và phát triển ở nớc ta, việc nghiên cứu thực chất của lợi
nhuận và các biện pháp tăng lợi nhuận của doanh nghiệp là vô
cùng quan trọng. Nó không chỉ là nhiệm vụ của các nhà kinh tế
học, mà nó còn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà khinh
doanh, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh. Hiểu thực
chất của lợi nhuận và tìm khiếm các biện pháp làm tăng lợi nhuận,
nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tạo ra nhiều của cải vật chất
đáp ừng nhu cầu ngày một cao hơn của con ngời.
Nh trên đã nói lợi nhuận là hình thức biến tớng của giá trị
thặng d hay nguồn gốc của lợi nhuận chính là nguồn gốc của giá trị
thặng d. Nhng đợc mang một hình thức khác. Với việc nghiên cứu
sự hình thành của chủ nghĩa t bản.
Thông qua cặp phạm trù: t bản bất biến và t bản khả biến
Mác đã chỉ ra rằng: giá trị thặng d là một phần giá trị mới rôi ra
ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra mà bị nhà t bản
chiếm không. Định nghĩa này đợc Mác tổng kết bằng công thức: C
+ V = C + V + m.
C là t bản ứng trớc để mua t liệu sản xuất phục vụ
cho sản xuất hàng hoá.
2
V là t bản dùng mua sức lao động của công nhân
(phần trả ngày công cần thiết cho ngời công nhân
và gia đình họ).
M là phần dôi ra khi bán hàng hoá và đợc gọi là
giá trị thặng d.
Từ phần giá trị thặng d do công nhân tạo ra này bị nhà t bản chiếm
không, dẫn đến mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp t
sản ngày cáng sâu sắc. Cho dù việc bòn rút giá trị thặng d bàng
cách kéo dài ngày công lao động hay ứng dụng khoa học kỹ thuật
làm tăng năng suất lao động và giảm thời gian lao động cần thiết
của công nhân để kéo giài thời gian lao động thặng d nhà t bản vẫn
lộ rõ bản chất bóc lột. Do vậy để xoa dịu đấu tranh và tăng cờng
bóc lột nhà t bản đã che đậy giá thặng d dới hình thức khác là: lợi
nhuận. Vì vậy để hiểu rõ thực chất của lợi nhuận Mác bắt đầu
nghiên cứu từ việc sản xuất hàng hoá.
Muốn sản xuất hàng hóa tất yếu phải chi phí một số lao động nhất
định - lao động quá khứ (lao động vật hoá) đó là giá trị của t liệu
sản xuất - Lao động sống (lao động hiện tại) tức là lao động tạo ra
giá trị mới (V + M). Đứng trên quan điểm toàn xã hội, quan điểm
ngời lao động mà xét thì chi phí đó là chi phí thực tế của xã hội để
sản xuất ra hàng hoá (C + V + M). Nó bao gômg toàn bộ thời gian
3
lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá. Song đối với nhà t bản,
họ không phải hao phí lao động để sản xuất hàng hoá (vì họ không
phải là ngời lao động ). Do vậy họ không tính theo kiểu đó. Trên
thực tế họ chỉ ứng trớc để mua t liệu sản xuất và sức lao động do đó
nhà t bản chie xem hao phí hết bao nhiêu t bản chứ không xem đến
hết bao nhiêu lao động xã hội cần thiết. Các Mác gọi chi phí đó là
chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa và kí hiệu bằng K và (K = C + V).
Chi phí t bản chủ nghĩa là chi phí t bản để sản xuất hàng hoá.
Nh vậy khi xuất hiện chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa thì
công thức giá trị hàng hoá.
(G
i
= C + V + M) sẽ chuyển hành G
i
= K + M.
Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa có
sự khác nhau cả về chất lẫn về lợng.
Về mặt lợng: Chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ
hơn chi phí thực tế hay giá trị hàng hoá:
( C + K )
< ( C + V + M)
K
Về mặt chất: chi phí thực tế là chi phí lao động phản ánh
đúng đầy đủ hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng
hoá đó. Còn chi phí t bản chủ nghĩa (K) Chỉ phản ánh hao phí t bản
4
của nhà t bản mà thôi, nó không tạo ra giá trị hàng hoá, CácMác
viết: Phạm chù chi phí sản xuất không có quan hệ gì với sự hình
thành giá trị hàng hoá, cũng nh không có quan hệ gì làm cho t nả
tăng thêm giá trị.
Việc hình thành chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa (K) che đậy
thực chất bóc lột của chủ nghĩa t bản.
Giá trị hàng hoá bàng K + M trong đó K = C + V
Mà ta biết rằng V tạo ra M. Bây giờ nhìn vào công thức trên thì sự
khác nhau giữa C và V biến mất, ngời ta thấy dờng nh K sinh ra M.
Chính ở đây chi phí lao động bị che mờ bởi chi phí t bản (K) Lao
động là thực thể , là nguồn gốc của giá trị thì bị biến mất đi và bây
giờ hình nh toàn bộ chi phí sản xuất t bản chủa nghĩa sinh ra giá trị
thặng d.
Do giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa
luôn có một khoảng chênh lệch cho nên sau khi bán hàng hoá nhà
t bản không những bù đắp đủ số t bản đã ứng ra bàm còn thu đợc
số tiền lời ngang với M, số tiền này gọi là lợi nhuận giá trị thựng d
đợc so với toàn bộ t bản ứng trớc đợc quan niệm là con dẻ của toàn
bộ t bản úng trớc và mang hình thức chuyển hoá thành lợi nhuận.
5
Để hiểu rõ hơn về lợi nhuận cần phân biệt sự khác nhau giữa
t bản ứng trớc và chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa.
Mác phân tích điều này bắng Ví dụ:
Giả sử nhà t bản đó có:
T bản cố định 1200 USD.
T bản lu động 420 USD.
Trong đó nguyên vật liệu 380 USD.
Tiền lơng 100 USD.
Hao mòn của t bản cố định là 20 USD mỗi năm thì t
bản ứng trớc bằng 1200 + 450 = 1680 USD.
Chi phí t bản chủ nghĩa : 20 + 480 = 500 USD.
Nh vậy bộ phận C + V thực sự đợc chi phí vào sản suất hàng
hoá, đó là chi phí sản xuất, bộ phận C + V đợc huy động vào việc
sản xuất hàng hoá đó thì gọi là t bản ứng trớc. Từ đó ta thấy rằng
chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn t bản ứng trớc .
Nếu ta ký hiệu lợi nhuận là P thì công thức G
i
= C + V + M = K +
M bây giờ sẽ chuyển thành G
i
= K + V (hay giá trị hàng hoá bằng
chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa cộng với lợi nhuận) vấn đề đặt ra
là giữa P và M có gì khác nhau ?
Về mặt lợng nếu hàng hóa: bán ra đúng giá trị thì M = P .
6
M và P giống nhau ở chỗ chúng cùng có chung nguồn gốc là kết
quả lao động của công nhân lao động làm thuê.
Về mặt chất : M phản ánh nguồn gốc sinh ra từ V, còn P
thì xem ra toàn bộ t bản ứng trớc để ra. P thực chất đã
che dấu quan hệ bóc lột t bản chủ nghĩa che dấu nguồn
gốc thực sự của nó. Điều đó đợc thể hiện :
- Sự hình thành chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa đã xoá
nhoà sự khác nhau giữa C và V nên việc sinh ra P trong
quá trình sản xuất. Nhờ bộ phận V đợc thay thế bằng sức
lao động bây giờ lại trở thành con đẻ của toàn bộ t bản -
ngs trớc.
Do đó chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn chi
phí sản xuất thực tế cho nên nhà t bản chỉ cần bán hàng hoá
thực tế cao hơn chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa và có thể
thấp hơn giá trị hàng hoá.
Đối với nhà t bản họ cho rằng lợi nhuận là do việc mua bán
lu thông tạo ra và do kinh doanh mà có. Điều này thể hiện ở chỗ :
Nếu nhà t bản bán hàng hoá với giá trị bằng giá trị của nó thì khi
đó M = P, nều bán với giá cao hơn giá trị thì M < P và gợc lại.
Chính sự thống nhất giá trị giữa M và P về lợng nên càng che đậy
thực chất bóc lột của t bản chủ nghĩa. Riêng chỉ việc tìm ra bản
7
chất của lợi nhuận cha đủ, Mác còn chỉ ra phơng pháp: phân tích sự
cân nhắc đầu t của các nhà t bản thông qua khái niệm tỷ xuất lợi
nhận: Tỷ xuất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị
thặng d và toàn bộ t bản ứng trớc nếu gọi tỷ xuất lợi nhận là P ta
có :
M
P = * 100%
T bản ứng trớc
Do cơ sở so sánh khác nhau nên giữa P và M có sự khác nhau.
M M
Về mặt lợng : P = * 100% còn M = *100%
C + V V
Về mặt chất : M phản ánh chình độ bóc lột của nhà t bản đối với
công nhân làm thuê. Còn P không phản ánh đợc điều đó mà chỉ
nói lên đợc mức lãi của nhà đầu t. Tỷ suất lợi nhuận chỉ cho nhà t
bản biết t bản của họ đầu t vào đâu thì có lợi. Do đó việc thu P vào
theo đối với P là động lực thúc đẩy nhà t bản và là mục tiêu cạnh
tranh giữa các nhà t bản.
Tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp là tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khách
quan nh: Tỷ suất giá trị thặng d, sự tiết kiệm t bản bất biến cấu tạo
hữu cơ t bản . Tốc độ chu chuyển t bản.
8
Quá trình tìm P và theo đuổi P tạo ra sự đấu tranh gay gắt
giữa nội bộ trong nghành. Tức là các xí nghiệp cùng một nghành,
cùng sản xuất một một mặt hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng
hoá có lợi hơn để thu đợc lợik nhuận siêu ngạch, đó là phần giá trị
thặng d thu đợc trội hơn so với giá trị thặng d bình thờng, nhờ giá
trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá.
Để có đợc lợi nhuận siêu ngạch các nhà t bản thờng xuyên
cải tiến kỹ thuật, nâng cao cấu tạo hữu cơ t bản, nâng cao năng
xuất lao động nhằm làm cho giá trị các biệt của hàng hoá xí nghiệp
sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch.
Kết quả của cạnh tranh là hình thành nên giá trị xã hội của
từng loại hàng hoá, điều kiện sản xuất trung bình trong một ngành
thay đổi, kỹ thuật phát triển tự phát, tỷ suất lợi nhuận giảm xuống.
Do các ngành sản xuất khác nhau tạo nên tỷ xuất lợi nhuận khác
nhau cho nên làm cho các nhà t bản tự do di chuển t bản do đó tạo
ra cạnh tranh giữa các ngành khác nhau và kết quả của cuộc cạnh
tranh này dần dần hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị
hàng hoá chuyển thành giá trị sản xuất.
Chính do các xí nghiệp trong nội bộ từng ngành cũng nh
giữa các ngành có cấu tạo hữu cơ không giống nhau, nên để thu đ-
9
ợc nhiều lợi nhuận các nhà t bản phải chọn nghành nào có tỷ suất
lợi nhuận cao để đầu t vốn.
Qua việc nghiên cứu nguồn gốc, bản chất về cách xác định
về lợng cũng nh về chất của lợi chuận để ứng dụng kiến thức này
phục vụ cho một doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp của chúng ta
với đặc thù của một nhà nớc đi từ chế độ phong kiến tiến thẳng lên
chủ nghĩa xã hội. Chúng ta cần hiểu rõ những đặc điểm căn bản.
Một là: Chúng ta không phủ nhận tính khách quan của lợi nhuận vì
lợi nhuận là động lực thúc đẩy xã hội phát triển, nhờ có lợi nhuận
mà ứng dụng đợc nhiều thành tựu kho học kỹ thuật, mở rộng đợc
quy mô sản xuất, tạo công ăn việc làm cho ngời lao động.
Thứ hai: Với đờng lối cách mạng tiến lên chủ nghĩa xã hội, việc
sản xuất ra lợi nhuận phải đứng trên lập trờng của toàn xã hội.
Đứng về phía lợi ích của ngời lao động. Do đó nhà kinh doanh
ngoài việc sản xuất ra lợi nhuận theo tính khách quan của nó nh:
tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu, nâng cao cấu tạo hữu cơ, cải tiến
kỹ thuật nâng cao năng xuất lao động mà với lợi nhuận có đợc còn
phải tính đến việc đóng gọp cho ngân sách nhà nớc, tham gia các
chơng trình nhân đạo, bảo hiểm, xây dợng phúc lợi công cộng
không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống của công nhân, cùng với
cả nớc vì mục tiêu dân dầu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh
10
trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Do quá
trình nghiên cứu quy luật kinh tế là cơ sở của đờng lối chính sách
kinh tế, thu hẹp khoảng chách giữa nguyên lý kinh tế chính trị học
và đờng lối chính sách của Đảng và nhà nớc việc trẻ hoá đội ngũ
cán bộ lãnh đạo mang một ý nghĩa quan trọng. Một loạt các nhà
doanh nghiệp giỏi với đầy đủ kiến thức, năng lực đã và đang trởng
thành trớc bớc đờng phát triển kinh tế mới. Việc nâng cao trình độ
trang bị cho đội ngũ công nhân kiến thức cơ bản ký thuật đáp ứng
đợc thành tựu choa học.
Ba là: Đa nhanh doanh nghiệp của mình hoà nhập với đờng lối phát
triển kinh tế chung của cả nớc đó là:
- Mở rộng phân công lao động xã hội.
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần.
Tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật, tạo ra sản phẩm chất lợng cao, giá
thành hạ cạnh tranh đợc trên toàn cầu. Muốn làm đợc nh vậy cần
phải huy động vốn từ nhiều nguồng khác nhau nh: vốn nhàn rỗi từ
nhân dân, vốn đầu t nớc ngoài vv.
Là một công ty xây dựng: từ khi đổi mới cơ chế rõ ràng lợi nhuận
của công ty ngày càng tăng. Công ty chúng tôi luôn quan tâm đến
chất lợng công chình bằng cách áp dụng khoa học kỹ thuật đa máy
móc vào sản xuất. Với đội ngũ cán bộ, công nhân có trình độ năng
11
lực, có tay nghề cao sản phẩm của chúng tôi có thể cạnh tranh với
các công tỷ trong và ngoài nớc. Từ quy luật giá trị công ty đã và
đang phát triển tham gia vào nhiều dự án lớn có vốn đầu t nớc
ngoài. Việc tìm liếm lợi nhuận luông thuác đẩy toàn bộ chúng tôi
phải sáng tạo trong lao động. Với đội ngũ cán bộ có năng lực đợc
đào tạo trong và ngoài nớc, cùng đội ngũ công nhân kỹ thuật,
chúng tôi có thể cùng cả nớc bớc vào công cuốc đổi mới đất nớc
một cách toàn diện. Việc áp dụng lý thuyết kinh tế vào thực tiễn là
việc hết sức quan trọng nó đem lại những kết quả cao, khắc phục
những khiếm khuyết một thời bao cấp để lại.
Để tìm ra lợi nhuận hay lợi nhuận sơu ngạch, chúng tôi đã đề
ra một cơ cấu quản lý hoàn toàn mới mẻ. Rút gọn một bộ máy
quản lý cồng kềnh của chế độ bao cấp để lại, xoá bỏ cung cách làm
việc quan liêu. Xây dựng hệ thống quản lý công ty năng động, có
hiệu quả, khuyến khích các nhà doanh nghiệp đang cổ phần, tạo
nguồn vố để mở rộng quy mô sản xuất của công ty. Mang lợi
nhuận từ nhiều nguồn kinh doanh nh: sản xuất vật liệu xây dựng,
xây dựng bán và cho thuê nhà ở, xây dựng các công trình có tầm
vóc quốc tế và trong nớc. Với tiềm lức sẵn có, công ty chúng tôi đã
thực sự hình thành mộ cơ cấu mạnh và chuyên sâu của ngành xây
dựng. Việc áp dụng lý thuyết kinh tế vào thực tiễn là một bớc tiến
12

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét