Về khái niệm hệ thống CMK
T (Audit Standards) trên thế giới cũng nh
ở nớc ta đã đợc xem xét nhìn nhận dới nhiều góc độ khác nhau về khái
niệm này.
Theo tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) thì
Các CMK
T cung cấp sự hớng dẫn tối thiểu cho KTV, giúp xác định độ lớn
của các bớc và trình tự kiểm toán đợc áp dụng để hoàn thành mục tiêu kiểm
toán. Chúng là những tiêu chuẩn hoặc thớc đo để đánh giá chất lợng của các
kết quả kiểm toán
1
. Trong khi đó theo tài liệu của Liên đoàn Kế toán Quốc tế
(IFAC) lại cho rằng: CMK
T là văn kiện mô tả các nguyên tắc cơ bản về
nghiệp vụ và xử lý các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kiểm toán, các
nguyên tắc này bao trùm, chi phối trách nhiệm nghề nghiệp của KTV"
2
.
ở Việt Nam trong quá trình soạn thảo CMK
T, khái niệm này cũng đã
đợc hình thành trên cơ sở hai hệ thống tổ chức kiểm toán, KTNN cho rằng
Hệ thống CMK
T Nhà nớc là tổng thể các nguyên tắc cơ bản, các yêu cầu,
các quy định về nghiệp vụ và xử lý các quan hệ phát sinh trong kiểm toán mà
các Đoàn kiểm toán Nhà nớc và các KTV Nhà nớc phải tuân thủ khi tiến
hành các hoạt động kiểm toán, đồng thời là căn cứ để kiểm tra và đánh giá
chất lợng kiểm toán
3
. Cũng tơng tự nh vậy CMK
T ban hành cho các
Công ty kiểm toán, KTV độc lập (CPA) thực hiện, khái niệm này đợc nêu ra
nh sau: CMK
T là quy định về các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hớng dẫn
thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đó trong quá trình kiểm
toán Báo cáo tài chính, CMK
T là các quy định làm mực thớc, là cơ sở cho
KTV chuyên nghiệp và công ty kiểm toán kiểm tra, đánh giá các thông tin tài
chính một cách trung thực, khoa học, khách quan. CMK
T đồng thời là cơ sở
cho việc chỉ đạo, giám sát, kiểm tra và đánh giá chất lợng và dịch kiểm toán
là cơ sở cho việc đào tạo huấn luyện và thi tuyển KTV"
4
.
1
CMK
T INTOSAI tài liệu dịch Kiểm toán Nhà nớc
2
CMK
T IFAC tài liệu dịch Bộ Tài chính
3
CMK
T Nhà nớc
4
CMK
T do Bộ Tài chính ban hành
4
Qua những khái niệm trên, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều cách diễn
đạt về CMK
T khác nhau nhng hội tụ lại, một hệ thống CMK
T bao giờ cũng
phải chứa đựng đợc những nhóm thông tin cơ bản sau:
- Các nguyên tắc, thủ tục cơ bản mà KTV phải thực hiện trong suốt quá
trình kiểm toán.
- Các quy định về nghiệp vụ để làm tiêu chuẩn, thớc đo, làm cơ sở để
KTV xử lý các mối quan hệ và kiểm tra, đánh giá các thông tin trong qúa trình
kiểm toán, cũng nh đánh giá chất lợng kiểm toán.
1.1.1.2. Phân loại hệ thống CMK
T
Hệ thống CMK
T có thể đợc tiến hành phân loại theo hai cách chính sau:
+ Cách thứ nhất: Phân loại căn cứ vào tổ chức soạn thảo và ban hành:
Nếu dựa trên tiêu thức này thì CMK
T gồm 2 loại là CMK
T quốc tế và
CMK
T Quốc gia.
- CMK
T Quốc tế (ISA)
Ngày nay khi nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ theo chiều hớng
quốc tế hoá. Quan hệ giao lu kinh tế giữa các Quốc gia tăng nhanh về số
lợng và ngày càng đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung từ đó việc
xây dựng một hệ thống CMK
T cũng nh kiểm toán đợc chấp nhận và áp
dụng thống nhất trên phạm vi quốc tế đã trở thành một yêu cầu bức thiết; một
chìa khoá quan trọng góp phần khai thông các quan hệ kinh tế - tài chính quốc
tế. Hoạt động kiểm toán đã vợt ra khỏi phạm vi khép kín của từng Quốc gia
và mang tính quốc tế phổ biến, với mục đích phát triển và tăng cờng phối hợp
nghiệp vụ kiểm toán trên phạm vi toàn thế giới, các tổ chức kiểm toán quốc tế
đã ra đời và tổ chức soạn thảo, ban hành hệ thống các CMK
T quốc tế sau:
Hệ thống CMK
T quốc tế do Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) công bố
gồm 38 chuẩn mực, đây là hệ thống CMK
T áp dụng chủ yếu đối với
KTV độc lập và các doanh nghiệp kiểm toán, nhng có phần hớng
dẫn, bổ sung vận dụng vào kiểm toán.
Hệ thống CMK
T quốc tế do tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối
cao (INTOSAI) công bố năm 1989, và đã đợc bổ sung sửa đổi, gồm
5
191 điều khoản nằm trong 4 chơng đợc áp dụng cho KTV Nhà nớc
và cơ quan KTNN.
Các CMKT quốc tế nêu trên đợc nghiên cứu nghiêm túc và công phu,
phản ánh một sự nhất trí cao của các thành viên và trở thành một thông lệ tốt.
Mặc dù vậy nó không có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với mỗi Quốc gia, mà
có mục đích đa ra nhằm khuyến cáo các thành viên tự nguyện chấp nhận.
CMK
T Quốc gia (NSA): ở mỗi nớc, có thể giữ nguyên hay nghiên
cứu vận dụng hệ thống CMK
T quốc tế để ban hành CMK
T riêng cho phù hợp
với trình độ phát triển và tập quán thông lệ ở mỗi nớc. Vậy CMK
T Quốc gia
bao gồm toàn bộ những CMK
T đợc công bố bởi luật hay quy định bởi một
tổ chức có thẩm quyền ở tầm Quốc gia có tính chất bắt buộc và đợc áp dụng
khi thực hiện công việc kiểm toán hay các dịch vụ phụ trợ.
VD: Nh ở Mỹ: Hệ thống CMK
T Nhà nớc do cơ quan Tổng kiểm
toán (GAO) ban hành còn hệ thống CMK
T áp dụng cho KTV độc lập và
doanh nghiệp kiểm toán lại do Viện Kế toán công chứng (AICPA) ban hành.
ở nhiều Quốc gia trên thế giới cũng áp dụng mô hình nh ở Mỹ.
- Cách thứ hai: Phân loại CMK
T căn cứ vào mục tiêu kiểm toán (hoặc
loại hình kiểm toán). Nếu dựa trên tiêu thức này để phân loại thì CMK
T gồm có:
CMK
T tài chính: áp dụng cho loại hình kiểm toán Báo cáo tài
chính.
CMK
T hoạt động: áp dụng cho loại hình kiểm toán hoạt động.
CMK
T tuân thủ: áp dụng cho loại hình kiểm toán tuân thủ.
1.1.2. Khái niệm và phân loại quy trình kiểm toán
Quy trình kiểm toán là một khái niệm đợc sử dụng rộng rãi trong
nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau của đời sống xã hội.
VD nh: Quy trình sản xuất thép, quy trình đào tạo Đại học, quy trình
soạn thảo văn bản pháp luật
Xét về hình thức, quy trình là trình tự các giai đoạn, các bớc công việc
đợc sắp xếp (theo một trật tự) một cách khoa học, logic chặt chẽ cần phải
6
thực hiện nhằm tạo ra sản phẩm vật chất, văn hoá hay tinh thần có giá trị sử
dụng và chất lợng theo yêu cầu nhất định (thực hiện do mục tiêu) còn nếu xét
về bản chất thì quy trình thể hiện tính quy luật khách quan của quá trình phát
sinh, phát triển và kết thúc của một sự vật, hiện tợng mà con ngời nhận
thức, nắm bắt đợc qua kinh nghiệm thực tế hoạt động đã quy định thành các
giai đoạn, bớc đi mang tính bắt buộc phải tuân theo trong quá trình tạo ra
một sản phẩm vật chất, văn hoá hay tinh thần Quy trình có nguồn gốc từ
trong lĩnh vực công nghệ sản xuất, do đó trớc khi tiếp cận với quy trình kiểm
toán, trớc hết chúng ta cần nghiên cứu khái niệm về quy trình công nghệ sản
xuất là gì?
Theo từ điển kinh tế Liên Xô (NXB Sự thật Hà Nội năm 1979) quy trình
công nghệ - sản xuất là phơng pháp chế tạo thành phẩm hệ thống cách thức
chế biến vật liệu có liên hệ với nhau trong quá trình sản xuất, quy trình công
nghệ sản xuất gồm có bảng kê và trình tự các thao tác biến vật liệu thành
thành phẩm; các loại và tính chất của thiết bị, công cụ và trang bị mà công
nhân sử dụng để hoàn thành từng giai đoạn sản xuất; trình độ lành nghề của
công nhân để hoàn thành mỗi thao tác và các chế độ sản xuất nhất định của
công tác Quy trình công nghệ- sản xuất có ảnh hởng quyết định đối với
chất lợng sản phẩm và chỉ tiêu kinh tế của công tác xí nghiệp. Vì vậy khi đặt
ra quy trình công nghệ cần lựa chọn phơng án tiết kiệm nhất mà vẫn đảm
bảo nhiệm vụ chế tạo sản phẩm về số lợng và chất lợng và phải nghiêm
chỉnh tuân theo kỷ luật công nghệ trong quá trình sản xuất. Khi đặt ra và thay
đổi qui trình công nghệ - sản xuất, cần áp dụng rộng rãi những kinh nghiệm
sản xuất tiên tiến nằm trong qui trình công nghệ mẫu đã đợc quy định.
Từ những hiểu biết về quy trình công nghệ - sản xuất nêu trên, khái
niệm quy trình đó dần dần đợc xây dựng và đa vào áp dụng trong lĩnh vực
kinh tế - xã hội; trong đó có quy trình kiểm toán.
Quy trình kiểm toán là một loại quy trình nghiệp vụ đợc hình thành
trên cơ sở nghiên cứu nhận thức các lĩnh vực khoa học về hệ thống, logic học
kết hợp với kinh nghiệm của hoạt động kiểm toán nhằm mục đích tạo ra sản
7
phẩm kiểm toán (Báo cáo kiểm toán) có chất lợng cao. Quy trình kiểm toán
cũng dần dần hoàn thiện cùng với quá trình phát triển của khoa học kiểm toán
và có mối quan hệ hữu cơ với khoa học quản lý kinh tế - tài chính. Từ nhận
định chung trên đây, Quy trình kiểm toán đợc hiểu nh là: trình tự các bớc
công việc cần thiết cần thực hiện trong một cuộc kiểm toán nhằm đảm bảo
chất lợng hiệu quả của cuộc kiểm toán hay nói một cách đầy đủ bao quát hơn
thì quy trình kiểm toán Chính là trình tự và nội dung các bớc công việc của
KTV phải thực hiện để hoàn thành trách nhiệm nghề nghiệp của mình đã đợc
cụ thể hoá thành các mục tiêu của cuộc kiểm toán
5
.
Xét về tính mục đích quy trình kiểm toán cũng có mục đích tơng tự
nh quy trình công nghệ - sản xuất là nhằm tạo ra những sản phẩm kiểm toán
có chất lợng tức là đảm bảo tính kinh tế, tính hiệu quả, hiệu lực của cuộc
kiểm toán cũng nh để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm
căn cứ cho kết luận của KTV về tính trung thực hợp lý của số liệu trên Báo
cáo tài chính. Đồng thời xét về hình thức, kết cấu của quy trình kiểm toán
thông thờng bao gồm 4 giai đoạn cơ bản:
- Chuẩn bị kiểm toán;
- Thực hiện (thực hành) kiểm toán;
- Báo cáo kiểm toán;
- Kiểm tra việc thực hiện kiến nghị kiểm toán (còn gọi là kiểm toán
phúc tra).
ở mỗi giai đoạn kiểm toán lại bao gồm các bớc, các thủ tục kiểm toán
đợc sắp xếp theo một trật tự nhất định, và trong các giai đoạn các bớc công
việc lại đợc thể hiện đầy đủ 3 nội dung cốt yếu sau:
- Trình tự các bớc công việc mà KTV phải tuân thủ;
- Các phơng pháp kỹ thuật kiểm toán mà KTV phải thực hiện trong
các giai đoạn các bớc công việc;
- Trình độ, năng lực KTV cần phải có để thực hiện các công việc đó.
5
TS. Nguyễn Đình Hựu Kiểm toán căn bản
8
Căn cứ vào mức độ cụ thể hoá, chi tiết của quy trình mà quy trình kiểm
toán đợc chia ra làm 2 loại là quy trình kiểm toán chung và quy trình kiểm
toán các lĩnh vực chuyên ngành.
Quy trình kiểm toán chung:
là một quy trình có kết cấu gồm 4 giai
đoạn và 3 nội dung cơ bản nêu trên, nhng mang tính định hớng, làm khuôn
mẫu cho tất cả các cuộc kiểm toán, không phụ thuộc vào cách thức tiến hành
trong trờng hợp cụ thể, và nó đợc áp dụng đầy đủ trong bất cứ một cuộc
kiểm toán nào. Quy trình kiểm toán chung đã đợc các cơ quan KTNN (SAIs)
xây dựng và đợc xem nh là một bộ phận của cẩm nang kiểm toán nh
KTNN CHLB Đức, Thái Lan, Việt Nam
Quy trình kiểm toán các lĩnh vực chuyên ngành:
Trên cơ sở quy trình
kiểm toán chung, kết hợp với việc xem xét các khía cạnh đặc điểm về tổ chức
bộ máy, loại hình hoạt động, thông tin tài chính quy trình kiểm toán chung
cũng đã dần dần đợc nghiên cứu xây dựng cụ thể hoá, chi tiết hoá nội dung
các giai đoạn, các bớc kiểm toán và mục tiêu kiểm toán để hình thành nên
các quy trình kiểm toán chuyên ngành nh:
- Quy trình kiểm toán Báo cáo Quyết toán NSNN
- Quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính DNNN
- Quy trình kiểm toán Quyết toán Dự án ĐT - XDCB
- Quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính Ngân hàng Nhà nớc
- Quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính Ngân hàng Thơng mại
Việc xây dựng quy trình kiểm toán chung hay quy trình kiểm toán các
lĩnh vực chuyên ngành cũng chỉ mang tính hớng dẫn, KTV phải vận dụng
các quy trình này vào trong các cuộc kiểm toán cụ thể với những thay đổi cho
phù hợp.
1.1.3. Vai trò hệ thống chuẩn mực và quy trình kiểm toán của KTNN
Theo các chuyên gia kiểm toán trên thế giới, ở bất cứ một cơ quan kiểm
toán nào dù đợc thiết lập dới hình thức nào (Quốc hội, Chính phủ,) và
quy mô nào muốn đạt đợc chất lợng kiểm toán đầy đủ thì cần phải thiết lập
đợc các điều kiện cần thiết nh: có vị trí pháp lý cao và có đủ thông tin cần
9
thiết; đảm bảo tính độc lập thật sự trong hoạt động kiểm toán; có một đội ngũ
nhân viên đủ trình độ và đợc đào tạo tốt; Đầy đủ các phơng tiện cần thiết,
và cần phải có một điều kiện quan trọng nữa đó là chuẩn mực và quy trình
kiểm toán.
Hệ thống chuẩn mực và quy trình kiểm toán là hai khái niệm riêng có
giá trị pháp lý khác nhau, nhng lại có mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ, và
cùng có mục đích chung là giúp KTV hoàn thành toàn diện có chất lợng các
mục tiêu kiểm toán và là cơ sở pháp lý để đánh giá chất lợng kiểm toán.
Chính vì vậy, hệ thống chuẩn mực và quy trình kiểm toán có vai trò rất quan
trọng trong hoạt động của KTNN, thể hiện ở một số điểm dới đây:
a. Giúp cho KTV có thể thu thập đợc những bằng chứng kiểm toán đầy
đủ có giá trị;
b. Đảm bảo cho công việc kiểm toán tiến hành có hiệu quả đúng thời
gian, chi phí ở mức hợp lý (phối hợp giữa các KTV);
c. Tạo điều kiện, cơ sở pháp lý, để kiểm tra, giám sát và đánh giá chất
lợng công việc kiểm toán;
d. Tránh đợc những bất đồng với đơn vị đợc kiểm toán tạo niềm tin
cho những ngời sử dụng kết quả kiểm toán;
e. Tạo điều kiện để đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật
kiểm toán.
1.2. Các nguyên tắc và các loại hình mô hình xây
dựng CMK
T và quy trình kiểm toán của KTNN
1.2.1. Những nguyên tắc cơ bản của quá trình xây dựng hệ thống
CMK
T và quy trình kiểm toán của KTNN
Mục đích của việc xây dựng hệ thống CMK
T và quy trình kiểm toán
trớc hết nó là cơ sở lý luận của hoạt động kiểm toán, giúp cho KTV hoàn
thành mục tiêu và chất lợng kiểm toán, nhng đồng thời nó cũng giúp cho
ngời sử dụng thông tin hiểu về công việc kiểm toán và phục vụ cho việc xem
xét, đánh giá trách nhiệm pháp lý, chất lợng kiểm toán.
10
Việc xây dựng hệ thống CMK
T và quy trình kiểm toán của KTNN là
một công việc nặng nề và phức tạp, nhng để hệ thống CMK
T và quy trình đó
đi vào thực tế cuộc sống cũng là một thách thức lớn, do đó muốn đa ra đợc
một hệ thống CMK
T và quy trình kiểm toán thích hợp, yêu cầu đặt ra đối với
các tổ chức soạn thảo cần phải quán triệt đầy đủ và toàn diện một số nguyên
tắc sau đây:
1.2.1.1. Phải dựa trên cơ sở mục đích của KTNN
Việc xây dựng hệ thống CMK
T và quy trình kiểm toán trớc hết phải
dựa trên cơ sở mục đích của KTNN cũng nh chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn, đối tợng, phạm vi của KTNN đã đợc quy định trong Hiến pháp, Luật
NSNN, Luật kiểm toán Đây là những căn cứ quan trọng để KTNN xác định
phạm vi quy mô, loại hình của hệ thống CMK
T và quy trình kiểm toán.
Chẳng hạn nh có đợc Nhà nớc giao cho kiểm toán hoạt động không? Nếu
có thì phải nghiên cứu để xây dựng chuẩn mực và quy trình kiểm toán hoạt
động, và loại hình kiểm toán hoạt động theo quy định sẽ đợc áp dụng vào
những đối tợng nào? Hay cho tất cả các đối tợng của KTNN?
1.2.1.2. Phải đảm bảo phù hợp với hệ thống pháp luật của Nhà nớc
Hoạt động kiểm toán hiện nay đã vợt ra khỏi phạm vi khép kín của
từng Quốc gia và mang tính quốc tế phổ biến, phù hợp với xu hớng hội nhập
kinh tế quốc tế. Do đó trên thế giới đã có các hệ thống CMK
T quốc tế nh
của Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), của tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm
toán tối cao (INTOSAI). Mặc dù vậy, một hệ thống CMK
T và quy trình kiểm
toán Quốc gia vẫn cần phải có những nét đặc thù riêng mang tính Quốc gia,
bởi vì các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của các đối tợng kiểm
toán do từng Quốc gia ban hành, có một sự khác biệt giữa các nớc. Đặc biệt
đối với loại hình kiểm toán tuân thủ và hoạt động, không thể thoát ly hệ thống
pháp luật, trình độ quản lý và đặc thù của từng nớc. Quán triệt nguyên tắc đó
hệ thống CMK
T và quy trình kiểm toán Nhà nớc đợc xây dựng phải dựa
trên cơ sở và phù hợp với hệ thống pháp luật của Nhà nớc nh Luật NSNN,
Luật DNNN, các Luật thuế, Luật Kế toán, chế độ - tài chính kế toán
của Nhà nớc.
11
1.2.1.3. Nghiên cứu và vận dụng có chọn lọc CMK
T và quy
trình kiểm toán quốc tế và các Quốc gia trên thế giới kết hợp với
kinh nghiệm thực tiễn ứng dụng CMK
T - quy trình kiểm toán trong
hoạt động kiểm toán của KTNN
Xét trên tổng thể thì hoạt động kiểm toán của bất cứ cơ quan KTNN
nào trên thế giới cũng đều có chức năng kiểm tra và xét đoán tính trung thực
hợp lý của các thông tin tài chính - ngân sách, đánh giá việc tuân thủ pháp luật
và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực tài chính công thuộc các đối tợng
kiểm toán. Tuy nhiên trong một chừng mực nào đó cũng còn có những điểm
khác biệt là do phong tục, tập quán, trình độ quản lý và hệ thống pháp luật ở
từng nớc, nhng không có sự mâu thuẫn lớn giữa các nớc. Dựa trên quan
điểm kế thừa và có chọn lọc, phơng châm đi tắt đón đầu, việc nghiên cứu
nội dung CMK
T và quy trình kiểm toán quốc tế phổ biến tại một số Quốc gia
có KTNN phát triển để vận dụng phù hợp với hoàn cảnh điều kiện thực tiễn
Việt Nam trong quá trình xây dựng hoàn thiện CMK
T và quy trình kiểm toán
là điều cần thiết và quan trọng để KTNN nhanh chóng tiếp cận và hội nhập với
các thông lệ chung trên thế giới và khu vực, tiết kiệm dợc thời gian và chi
phí. Đồng thời qua một số năm áp dụng CMK
T và quy trình kiểm toán đã ban
hành, cần phải nghiên cứu, đánh giá cho đúng thực trạng thấy đợc những u
điểm và tồn tại để đề ra phơng hớng hoàn thiện cho đúng, cho trúng.
1.2.1.4. Bảo đảm phù hợp với định hớng chiến lợc phát triển
của KTNN
Một mặt CMK
T và quy trình kiểm toán đa ra phải phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ, địa vị pháp lý, thẩm quyền của KTNN, cũng nh trình độ đội
ngũ KTV, trình độ tổ chức quản lý của KTNN hiện nay, nhng mặt khác cũng
cần phải tính tới định hớng, chiến lợc phát triển KTNN trong tơng lai để
tiếp cận với các phơng pháp kiểm toán tiên tiến, hiện đại trên thế giới và xu
hớng phát triển các loại hình kiểm toán mới nh: kiểm toán vi tính, kiểm
toán môi trờng, kiểm toán trách nhiệm quản lý
12
1.2.1.5. Phải có khả năng ứng dụng cao trong thực tiễn hoạt động,
góp phần nâng cao chất lợng kiểm tra kiểm toán, tăng cờng công tác
kiểm tra giám sát chất lợng kiểm toán.
CMKT và quy trình kiểm toán đợc xây dựng phải đảm bảo yêu cầu rõ
ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện để KTV vận dụng vào thực tiễn hoạt động nhằm
nâng cao chất lợng kiểm toán, nhng mặt khác lại cần phải tránh khuynh
hớng đi sâu vào những vấn đề quá chi tiết, quá cụ thể gây lúng túng, khó
khăn trong việc triển khai vận dụng vào những đối tợng cụ thể khác nhau, và
làm cho CMK
T và quy trình kiểm toán bị đảo lộn mỗi khi có sự thay đổi nhỏ
trong chính sách tài chính - kế toán của Nhà nớc. Do đó mặc dù CMK
T và
quy trình kiểm toán là tài liệu cẩm nang của KTV nhng nó cũng phải đảm
bảo tính khái quát cao khả năng thích ứng vận dụng vào thực tiễn một cách
linh hoạt, giúp cho các bộ phận chức năng tăng cờng kiểm tra, giám sát đợc
chất lợng, hiệu quả của hoạt động kiểm toán.
1.2.2. Lựa chọn mô hình xây dựng hệ thống CMK
T và quy trình
kiểm toán của KTNN
Trên thế giới, xuất phát từ những quan điểm khác nhau, từ vai trò - vị trí
và trình độ phát triển nội tại của cơ quan KTNN, sự phát triển của tổ chức
nghề nghiệp, và xu hớng hoà nhập giữa các Quốc gia trên thế giới, cũng nh
giữa các loại hình tổ chức kiểm toán nên thực tế trên thế giới đã tồn tại một
số mô hình xây dựng hệ thống CMK
T và quy trình kiểm toán của KTNN nh sau:
1.2.2.1. Mô hình Nhà nớc:
Theo mô hình này, Nhà nớc là ngời ban hành (công bố) CMK
T và
quy trình kiểm toán với sự trợ giúp của một Hội đồng t vấn, u điểm của mô
hình này là giá trị pháp lý của hệ thống CMK
T và quy trình kiểm toán do Nhà
nớc ban hành sẽ rất cao. Điển hình cho mô hình này là KTNN Trung Quốc
1.2.2.2. Mô hình do KTNN ban hành (hay còn gọi là mô hình
tự kiểm soát):
ở loại mô hình này, quá trình thiết lập và công bố CMK
T và quy trình
kiểm toán hoàn toàn do KTNN (SAI) chịu trách nhiệm. Ưu điểm của mô hình
này là CMK
T và quy trình đợc ban hành gắn liền với quá trình phát triển
13
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét