Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
b. Thương hiệu có mặt tại Việt Nam khi nào?
Nước ta thời thuộc Pháp (1858 - 1945), nền kinh tế bản địa có xu hướng
phát triển theo cơ chế thị trường, nhiều ngành nghề sản xuất, nhiều hãng sản
xuất vươn lên tự khẳng định mình trên thị trường, những thương hiệu như:
Nước mắm Phan Thiết, Gạch ngói Bát Tràng từng có vị trí cao trong các hội
chợ (đấu xảo) ở Đông Dương cũng như ở bên Pháp. Các thế kỷ XVIII - XIX,
nền kinh tế nước ta tuy gặpnhiều khó khăn song nhiều làng nghề, nhiều đặc
sản đã phát triển để có mặt hàng tự khẳng định chất lượng của mình và chiếm
uy tín trên thị trường, những mặt hàng như: lụa Vạn Phúc, đúc đồng Ngũ Xã
là những thương hiệu ưu tú của nền kinh tế đất nước. Các thời Lý - Trần - Lê
(thế kỷ XI - XVIII) kinh tế Đại Việt có nhiều khởi sắc, các thư tịch cũ như Dư
địa chí của Nguyễn Trãi, Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại
chí của Phan Huy Chú cung cấp cho chúng ta một bảng thống kê thương
hiệu - đặc sản - làng nghề nổi tiếng, những gạch Bát Tràng, gốm Chu Đậu,
khắc ván in Liễn Tràng, giấy Cót, nón Ma La là những bằng chứng lịch sử
thương hiệu lớn. Gần đây trong khi khai quật khảo cổ học ở 18 đường Hoàng
Diệu đã tìm thấy nhiều thương hiệu thời Lý - Trần, nhất là những hàng vật
liệu xây dựng, như gạch ngói có các tên gọi: Vĩnh Ninh tràng, Hổ oai quân,
Trung oai quân (tức là gạch sản xuất từ công trường Vĩnh Ninh và các đơn
vị quân lính Hổ oai và Trung oai ).
Ở Việt nam trước đây, hai khái niệm “nhãn hiệu” và “thương hiệu” đã
từng được phân biệt khá rõ rang ở cả khía cạnh pháp lý lẫn ngôn ngữ học Việt
Nam. Luật số 13/57 ngày 01/8/1957 ở Miền Nam đã quy định về “ nhãn hiệu
sản xuất” dung cho các sản phẩm kỹ nghệ canh nông và “ thương hiệu” dung
cho các thương phẩm. Trong hoạt động kinh doanh, thuật ngữ thương hiệu đó
không chỉ ứng với hoạt động của các thương nhân mà còn bao hàm cả các loại
hình hoạt động dịch vụ vủa mọi loại hiệu, tiệm, ngân hàng, ngành…và dần
dần mở rộng thành tên của doanh nghiệp nói chung. Cụ thể, vào giai đoạn đó,
theo Từ điển Việt Nam ban tụ Thư Khai Trí, “thương hiệu” là “tên hiệu của
nhà buôn” và nhãn hiệu là”giấy dán ngoài để làm hiệu”. Trong từ điển Việt-
Anh, “thương hiệu” được dịch là”sign board” và “nhãn hiệu” được dịch là
“trademark, brand”.
Tại Việt Nam, từ khi bắt đầu giai đoạn đổi mới cơ chế quản lý theo
hướng kinh tế thị trường, thuật ngữ “ thương hiệu” được sử dụng trở lại trong
truyền thống với hàm nghĩa rất rộng và không thống nhất, có thể bao hàm cả
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 5
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
tên doanh nghiệp, chỉ dẫn địa lý,nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hàng hóa…Trên
các phương tiện thông tin đại chúng, “thương hiệu” thường được dùng với ý
nghĩa như “danh tiếng” hay “ tên tuổi”. Như vậy thương hiệu đã xuất hiện ở
Việt nam vào khoảng những năm của thế kỷ XX, và cho đến nay thương hiệu
đã trở thành 1 thuật ngữ quen thuộc và ngày càng trở nên quan trọng đối với
đời sống kinh doanh, nhất là khi Việt Nam đã tham gia vào tổ chức thương
mại thế giới WTO.
c. Ý nghĩa của thương hiệu:
Thương hiệu là hình thức thể hiện cái bên ngoài, tạo ấn tượng và thể hiện
cái bên trong cho sản phẩm hoặc doanh nghiệp. Thương hiệu tạo ra nhận thức
và niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh
nghiệp cung ứng. Giá trị của một thương hiệu là triển vọng lợi nhuận mà
thương hiệu đó có thể đem lại cho nhà đầu tư trong tương lai. Nói cách khác,
thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp.
Thương hiệu thể hiện ý nghĩa , lợi ích, sự mong đợi của khách hàng
thông qua các giá trị, tính văn hóa, sự quyến rũ, đạo đức, phong cách, tính
cách, nét đặc trưng tiêu biểu của doanh nghiệp, của đất nước; sự tin tưởng,
khát vọng, truyền thống khi sử dụng sản phẩm đó. Xây dựng thương hiệu là
làm thế nào để sản phẩm của mình khắc sâu trong tâm trí của khách hàng.
Thương hiệu thật sự là cái gì đó nhiều hơn nữa mà không chỉ là 1 sự diễn đạt
cụ thể đặc biệt. Chúng thu hút hữu thức và vô thức. Chúng là những cấu trúc
hữu hình, nhưng cùng lúc đó chúng là những ảo giác. Chúng lôi cuốn cảm xúc
cũng như lý trí của chúng ta. Thương hiệu là nơi tích tụ các giá trị vô hình.
2. Khái niệm thương hiệu
Kết luận lại, thương hiệu “là một thuật ngữ thể hiện được ý nghĩa,
những lợi ích, sự mong của khách hàng qua các giá trị, tính văn hóa, sự quyến
rũ, đạo đức, phong cách, tính cách, nét đặ trưng tiêu biểu của doanh nghiệp,
của đất nước; là sự tin tưởng, khát vọng, truyền thống khi sử dụng sản phẩm
đó”.
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 6
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
II. DU LỊCH VÀ CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH
1. Khái niệm du lịch
Ngày nay , du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến
không chỉ ở các nước phát tiển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó
có Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay, không chỉ ở nước ta, nhận thức về nôi
dung du lịch vẫn chưa thống nhất. do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ
nghiên cứu khác nhau nên mỗi người có một cách hiểu riêng về du lịch.
Dưới con mắt của Guer Freuler thì “du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ
này là một hiện tượng thời đạic ủa chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu
cầu khôi phục sức khỏe và sựu thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào
sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”.
Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân
mà là tất cả những gì liên quan tới sự di chuyển đó. Chúng ta cũng thấy ý
tưởng này trong quan điểm của Hienziker và Kraff: “du lịch là tổng hợp các
mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm
thời của các các nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc
thường xuyên của họ”(về sau định nghĩa này được hiệp hội các chuyên gia
khoa học về du lịch thừa nhận).
Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn
thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Picara-
Edmod đưa ra định nghĩa: “du lịch là việc tổng hòa việc tổ chức và chức năng
của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá
trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến một túi tiền đầy,
tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thỏa mãn nhu
cầu hiểu biết và giải trí”.
Khác với các quan điểm trên, các học giả biên soạn bách khoa toàn thư
Việt Nam đã tách 2 nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt.
theo các chuyen gia này, nghĩa thứ nhất là “một dạng nghỉ dưỡng sức tham
quan tích cựccủa con người ngoài cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem
danh lam thắng cảnh ”. Theo định nghĩa thứ hai, du lịch được coi là “ một
ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt nâng cao hieur biết
về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm
tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài thì đó là tình hữu nghị
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 7
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
với dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu
quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ”.
Để tránh sự hiểu lầm và không đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch
thành hai phần để định nghĩa nó. Du lịch có thể được hiểu là:
Thứ nhất, sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh
rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức
khỏe, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo
việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ của các cơ sở
chuyên cung ứng.
Thứ hai, nó là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu
cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời
gian rảnh rỗi cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức
khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh.
2. Các loại hình du lịch
Hoạt động du lịch có thể phân ra theo các nhóm kahcs nhau tủy theo tiêu
chí đưa ra.Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch của Việt Nam phân chia
các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây :
• Phân chia theo môi trường tài nguyên :
Du lịch thiên nhiên
Du lịch văn hóa
• Phần theo mục đích chuyến đi:
Du lịch tham quan
Du lịch giải trí
Du lịch nghỉ dưỡng
Du lịch khám phá
Du lịch thể thao
Du lịch lễ hội
Du lịch tôn giáo
Du lịch nghiên cứu
Du lịch hội nghị
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 8
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
Du lịch thể thao kết hợp
Du lịch chữa bệnh
Du lịch thăm thân
Du lịch kinh doanh
• Phân theo lãnh thổ hoạt động
Du lịch quốc tế
Du lịch nội địa
Du lịch quốc gia
• Phân theo đặc điểm địa lý cảu điểm du lịch
Du lịch miền biển
Du lịch núi
Du lịch đô thị
Du lịch thôn quê
• Phân theo phương tiện giao thông
Du lịch xe đạp
Du lịch ô tô
Du lịch bằng tàu hỏa
Du lịch bằng tàu thủy
Du lịch máy bay
• Phân theo loại hình cư trú
Khách sạn
Nhà trọ thanh niên
Camping
Bungaloue
Làng du lịch
• Phân loại theo lứa tuổi du lịch
Du lịch thiếu niên
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 9
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
Du lịch thanh niên
Du lịch trung niên
Du lịch người cao tuổi
• Phân loại theo độ dài chuyến đi
Du lịch ngắn ngày
Du lịch dài ngày
• Phân loại theo hình thức tổ chức
Du lịch tập thể
Du lịch cá thể
Du lịch gia đình
• Phân theo phương thức hợp đồng
Du lịch trọn gói
Du lịch từng phần
III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ KINH NGHIỆM XÂY DỰNG
THƯƠNG HIỆU DU LỊCH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
1. Yếu tố ảnh hưởng tới du lịch
Ngày nay với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, ngành du lịch
đã đóng vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống
kinh tế -xã hội của các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển.
Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng tới các hoạt động du lịch là rất quan
trọng, nó giúp khắc phục, hạn chế những tác động xấu đến lĩnh vực kinh
doanh du lịch và trên hết là quá trình xây dựng thương hiệu của ngành. Có thể
liệt kê các yếu tố ảnh hưởng như sau :
Môi trường tự nhiên
Sự tăng cầu về du lịch của người tiêu dùng.
Sự tăng cầu của các hãng về du lịch.
Khả năng cung ứng của các nhà cung cấp du lịch
Giá cả và chất lượng dịch vụ du lịch
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 10
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
Việc xóa bỏ các hàng rào chắn, các quy định về việc hạn chế xâm nhập
và việc cung cấp dịch vụ du lịch ở nước ngoài.
Sự can thiệp của chính phủ.
2. Kinh nghiệm xây dựng thương hiệu du lịch của một số quốc gia trên
thế giới
Du lịch là một “ngành công nghiệp không khói”, nó có định hướng tài
nguyên rõ rệt, điều này có nghĩa là tài nguyên và môi trường là nhân tố cơ bản
để tạo ra sản phẩm du lịch .
Trung Quốc là một trong những nước đã đạt được thành tựu lớn trong
việc bảo vệ môi trường để phát triển du lịch. Từ năm 1997, chính phủ Trung
Quốc đã 7 năm liền tổ chức toạ đàm trong thời gian họp quốc hội để nghe báo
cáo về môi trường. Qua đó chính phủ Trung Quốc có những biện pháp cụ thể
để cải tạo và bảo vệ môi trường. Các cơ chế chính sách về bảo vệ môi trường
được thiết lập, tăng vốn đầu tư bảo vệ môi trường, khuyến khích mọi người
dân bảo vệ môi trường. Với sự cố gắng của chính phủ, của toàn dân Trung
Quốc nạn ô nhiễm môi trường đã được kiểm soát toạ thuận lợi cho du lịch
phát triển một cách bền vững. Chính phủ Trung Quốc không ngừng tăng vốn
đầu tư vào bảo vệ môi trường, từ năm 1996 đến năm 2000, Trung Quốc đã chi
360 tỉ nhân dân tệ. Nhờ đó Trung Quốc đã xây dựng và bảo vệ hơn 1227 khu
bảo tồn thiên nhiên, hàng triệu hecta rừng với nhiều chủng loại động thực vật
phong phú rất phù hợp cho phát triển du lịch sinh thái- một loại hình du lịch
có xu thế tăng trong thời gian gần đây. Để bảo vệ sự phong phú của sinh vật,
Trung Quốc là một trong những nước tham gia ký kết rất sớm “công ước tính
đa dạng sinh vật”. Đồng thời chính phủ Trung Quốc tập trung sửa đổi và đưa
ra luật mở để nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường. Tính đến nay,
đã có 6 bộ luật, hơn 30 đạo luật về bảo vệ môi trường đã được ban hành, do
đó môi trường Trung Quốc đã được kiểm soát và cải tạo đáng kể.
Không chỉ ngành du lịch Trung Quốc mà du lịch Thái Lan là một ví dụ
điển hình cho việc phát triển thương hiệu du lịch, Nguồn thu từ du lịch chiếm
6% tổng sản phẩm quốc nội của Thái Lan, thu 7 tỉ USD mỗi năm và là chỗ
dựa cứu nguy thời khủng hoảng tài chính châu Á năm 97 - 98. Thái Lan
không ngừng áp dụng nhiều biện pháp: cải tiến thủ tục, giảm lệ phí visa, gia
tăng các loại hình dịch vụ đặc sắc, xây dựng mạng lưới shopping đa dạng, mở
nhiều điểm tham quan mới bên cạnh việc trùng tu những thắng cảnh truyền
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 11
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
thống và đáng ghi nhận là những chương trình tiếp thị tận gốc của chính phủ .
Một rong các loại hình dịch vụ đặc sắc mà Thái Lan sử dụng trong quá trình
phát triển đó là dịch vụ du lịch dành cho người cao tuổi. “Mục tiêu của chúng
tôi là tìm thêm tiền cho Thái Lan bằng cách nới dài số ngày mà các du khách
cao niên có thể ở”, theo lời ông Parichart Kristhong, giám đốc Trung tâm hợp
tác cư ngụ dài hạn của Sở Du lịch Thái Lan.
Trước kia du khách có thể ở tối đa từ một đến ba tháng. Bây giờ, nếu
khách trên 50 tuổi với 18.660 USD trong ngân hàng, hay có thu nhập hàng
tháng hơn 65.000 baht có thể được cấp visa cư trú dài hạn 1 năm. Nhờ những
biện pháp thiết thực, hiện nay du khách cao niên chiếm 15% tổng số du
khách, và tăng đều hàng năm với 1,5 triệu người. Không những vậy, du lịch
Thái Lan phát triển trước VN khoảng 20 năm và được như ngày hôm nay là
nhờ vào hàng không phát triển mạnh, có nhiều hãng máy bay và lịch bay đa
dạng. Đồng thời chiến lược khai thác du lịch của Tổng cục Du lịch Thái Lan
rất mạnh, sẵn sàng đầu tư nhiều tiền để phát triển ngành.
Trên đây là 2 ví dụ điển hình về việc xây dựng thương hiệu du lịch dựa
vào việc bảo vệ môi trường và việc phát triển các loại hình dịch vụ đa dạng để
thu hút du khách. Nếu được đầu tư và quảng bá đúng cách, thì trong tương lai
không xa, du lịch Việt Nam sẽ trở thành một trong những thương hiệu thu hút
khách du lịch gần xa.
IV. VAI TRÒ CỦA NGÀNH DU LỊCH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
QUỐC GIA
1. Vị trí, vai trò của ngành du lịch và hệ thống các ngành của nền kinh tế
quốc dân
Xu hướng mang tính quy luật của cơ cấu kinh tế chỉ ra rằng tỉ trọng nông
nghiệp từ chiếm vị thế quan trọng đã dần nhường cho công nghiệp và cuối
cùng vai trò của ngành dịch vụ sẽ chiếm vai trò thống soái. Hiện nay ở các
nước có thu nhập thấp, các nước Nam Á, châu Phi, nông nghiệp vẫn còn
chiếm trên 30% GNP, công nghiệp khoảng 35%. Trong khi đó các nước phát
triển như Hoa kỳ, Nhật Bản, Italia trên 70% GNP do nhóm ngành dịch vụ
đem lại, nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 3-5% tổng sản phẩm quốc dân.
Vai trò của ngành du lịch ngày càng rõ nét. Theo số liệu thống kê cho
thấy, năm 1994 du lịch quốc tế trên toàn thế giới đã chiếm 6% GNP, tức
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 12
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
doanh thu khoảng 4000 tỷ đô la , vượt trên công nghiệp ô tô, thép, điện tử và
nông nghiệp. Du lịch thu hút trên 200 triệu lao động chiếm hơn 12% lao động
trên thế giới. Ở Việt Nam, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng đã thể
hiện rõ qua các năm : năm 2001 nông nghiệp chiếm 23,24% GDP, công
nghiệp chiếm 57,91% GDP, dịch vụ chiếm 38,63% GDP. Năm 2004, nông
nghiệp chiếm 21,76% GDP, công nghiệp chiếm 60,41%,dịch vụ chiếm
38,15% GDP. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm thì du lịch đóng một
vai trò không nhỏ trong nền kinh tế. ngoài ra du lịch cũng tạo điều kiện cho
các ngành kinh tế khác cùng phát triển. với những thuận lợi, những mặt tích
cực mà phát triển du lịch đem lại thì du lịch thực sự có khả năng làm thay đổi
bộ mặt kinh tế của nước ta.
2. Vai trò của việc phát triển thương hiệu ngành du lịch đối với sự phát
triển kinh tế của đất nước
Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như là một sở thích,
một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay, du lịch đã trở
thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa , xã hội ở các
nước. Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế
quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển. mạng lưới du lịch đã được
thiết lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.Các lợi ích kinh tế mà ngành du
lịch mang lại là không thể phủ nhận, thông qua việc tiêu dùng các sản phẩm
của du khách đối với các sản phẩm du lịch. Một quốc gia khi đã có thương
hiệu của mình trên thế giới, là một nơi thu hút nhiều du khách, ổn định về
chính trị và an toàn, sẽ là điểm dừng chân đáng tin cậy hơn những quốc gia
chưa có thương hiệu về du lịch. Khi đã có thương hiệu, du khách đến với đất
nước không chỉ là tiêu dùng các hàng hóa thông thường mà còn có các nhu
cầu tiêu dùng hàng hóa dặt biệt khác như : nhu cầu nâng cao kiến thức, nhu
cầu học hỏi, vãn cảnh, chữa bệnh, nghỉ ngơi Sự khác biệt giữa tiêu dùng dịch
vụ du lịch và tiêu dùng các hàng hóa khác đó là tiêu dùng các sản phẩm du
lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng. Đây cũng là lý do
làm cho sản phẩm du lịch mang tính đặc thù mà không thể so sánh giá cả của
sản phẩm du lịch này với sản phẩm kia một cách tùy tiện được. Sự tác động
qua lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch tác động lên lĩnh
vực phân phối lưu thông và do vậy ảnh hưởng đến các khâu của quá trình tái
sản xuất xã hội. Bên cạnh đó, việc phát triển thương hiệu của du lịch sẽ kéo
theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, vì sản phẩm du lịch mang tính
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 13
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
liên ngành có quan hệ đến nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Khi một nơi
nào đó trở thành một nơi có tiếng tăm- một địa điểm du lịch nổi tiếng thì khi
đó du khách ở mọi nơi sẽ đổ về làm cho nhu cầu hàng hóa dịch vụ tăng lên
đang kể. Xuất phát từ nhu cầu này của du khách mà ngành du lịch không
ngừng mở rộng hoạt động của mình thông qua mối quan hệ liên ngành trong
nền kinh tế, đồng thời làm biến đổi cơ cấu ngành, và một hoạt động càng
quan trọng hơn đó là việc « Xây dựng thương hiệu cho một điểm đến » - một
điểm đến thu hút du khách,làm cho du khách nhớ mãi
Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cán
cân thu chi của đất nước. Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước có địa
điểm du lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho đát nước đó. Ngược lại,
phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với quốc gia có nhiều người đi du lịch ở
nước ngoài. Trong phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch làm xáo trộn hoạt
động luân chuyển tiền tệ, hàng hóa, điều hòa nguồn vốn từ vùng kinh tế phát
triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở
các vùng sâu, vùng xa
Một lợi ích khác của ngành du lịch đó là du lịch giải quyết vấn đề việc
làm. Du lịch đã tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động, giải quyết các vấn
đề xã hội.
Phải nói rằng, sự phát triển thương hiệu của ngành du lịch rất quan trọng
đối với nền kinh tế đất nước. Nó không chỉ quan trọng với nền kinh tế, thúc
đẩy nền kinh tế phát triển mà hơn nữa đó là một cách thông minh để đưa hình
ảnh Việt Nam ra thế giới, góp phần tạo nên thương hiệu quốc gia !
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét