Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Thực trạng về công tác phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở công ty xây dựng Lũng lô

2. Chi phí sản xuất xây lắp.
2.1 Khái niệm chi phí sản xuất xây lắp.
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài ngời gắn liền với quá trình sản
xuất. Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp của cả 3 yếu tố: T liệu lao động, đối
tợng lao động và sức lao động. Đồng thời, quá trình sản xuất cũng chính là quá
trình tiêu hao của chính các yếu tố trên. Vì thế, sự hình thành nên các chi phí sản
xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan, không phụ thuộc
vào yếu tố chủ quan của ngời sản xuất .
Trong nền kinh tế nói chung, đặc biệt là nền kinh tế thị trờng, hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là việc sản xuất sản phẩm ra thị tr-
ờng nhằm mục đích kiếm lời. Đó chính là quá trình doanh nghiệp phải bỏ ra
những chi phí nhất định, những chi phí đó biểu hiện dới hình thức hiện vật hay
giá trị, đó là điiêù kiện vật chất bắt buộc để các doanh nghiệp có đợc thu nhập.
Do vậy,để tồn tại, phát triển và kinh doanh mang lại lợi nhuận cao, các doanh
nghiệp phải tìm mọi cách để quản lý tốt chi phí của mình. Muốn vậy, các nhà
quản lý doanh nghiệp cần phải nắm chắc bản chất và khái niệm chi phí sản xuất.
Vậy chi phí sản xuất kinh doanh là gì? Ta có cách hiểu chung nhất về chi phí sản
xuất nh sau : Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những hao
phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp thực tế đã chi ra để
tiến hành các hoạt động sản xuất trong một kỳ kinh doanh nhất định.
Đối với doanh nghiệp xây lắp: Doanh nghiệp xây lắp là một đơn vị kinh tế
cơ sở, có t cách pháp nhân, đợc Nhà nớc giao vốn có trách nhiệm sử dụng vốn có
hiệu quả, bảo toàn vốn, phát triển vốn và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với Ngân
sách nhà nớc, hoạt động nhằm mục tiêu kinh tế Nhà nớc giao.
Là một doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất vật chất, hoạt động sản xuất
mang tính đặc thù, khác với các ngành sản xuất khác. Địa điểm sản xuất không
cố định, sản phẩm là những công trình, hạng mục công trình có kết cấu phức tạp,
mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất dài phải lập dự toán cho từng công trình,
hạng mục công trình trớc khi sản xuất, nơi sản xuất cũng chính là nơi tiêu thụ.
Quá trình hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là sự kết hợp các
yếu tố của quá trình sản xuất đó là: Sức lao động của con ngời, t liệu lao động và
đối tợng lao động. Sự tham gia của các yếu tố vào quá trình sản xuất hình thành
nên các khoản chi phí tơng ứng.Tơng ứng với việc sử dụng TSCĐ là chi phí khấu
hao TSCĐ, tơng ứng với sử dụng nguyên vật liệu là chi phí về nguyên vật liệu,t-
ơng ứng với việc sử dụng lao động là chi phí tiền công, tiền lơng
Trang 3
Nh vậy, chi phí sản xuất xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về
lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp
bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất xây lắp trong một thời kỳ nhất định.
Trong doanh nghiệp xây lắp ngoài hoạt động sản xuất xây lắp tạo ra các sản
phẩm xây lắp còn có các hoạt động khác. Do đó chỉ các khoản chi phí phát sinh
liên quan đến quá trình sản xuất xây lắp nhằm tạo ra sản phẩm xây lắp mới đợc
coi là chi phí sản xuất xây lắp.
2.2 Phân loại chi phí sản xuất xây lắp.
Chi phí sản xuất xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp phát sinh thờng
xuyên trong quá trình sản xuất và bao gồm nhiêù loại, có nội dung, công dụng và
đặc tính khác nhau nên yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau. Vì vậy,
để quản lý tốt chi phí thì cần phải phân loại chi phí sản xuất xây lắp. Có thể căn
cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại chi phí sản xuất xây lắp. Có nhiều
cách phân chia chi phí sản xuất, song mỗi cách phân chia chi phí sản xuất phải
đảm bảo đợc các yêu cầu sau:
- Tạo điều kiện sử dụng thông tin kinh tế nhanh nhất cho công tác quản lý
chi phí sản xuất phát sinh, phục vụ tốt cho công việc kiểm tra, giám sát chi phí
sản xuất của doanh nghiệp
- Đáp ứng đầy đủ những thông tin cần thiết cho việc tính toán hiệu quả các
phơng án sản xuất nhng lại cho phép tiết kiệm chi phí hạch toán và thuận lợi sử
dụng thông tin hạch toán. Dới đây trình bày các cách phân loại chi phí sản xuất
xây lắp chủ yếu.
2.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí
sản xuất .
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích và công
dụng nhất định. Theo cách phân loại này các khoản chi phí có mục đích, công
dụng giống nhau đợc xếp vào cùng một khoản chi phí ,không cần xét đến khoản
mục chi phí đó có nội dung kinh tế nh thế nào. Chi phí sản xuất xây lắp đợc chia
thành các khoản mục sau: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung.
-Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí về các loại vật liệu chính, vật
liệu phụ, vật kết cấu, vật liệu luân chuyển (ván khuôn, đà giáo) cần thiết để
tạo nên sản phẩm xây lắp, không bao gồm chi phí vật liệu đã tính vào chi
phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung.
Trang 4
-Chi phí nhân công trực tiếp: là chi phí tiền công, tiền lơng, các khoản
phụ cấp có tính chất lơng của công nhân trực tiếp xây lắp, khoản mục này
không bao gồm các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên tiền lơng
của công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp và chi phí tiền lơng nhân viên quản
lý đội, nhân viên điềukhiển máy thi công.
-Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ chi phí sử dụng xe, máy thi
công phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp công trình bao gồm:
Chi phí khấu hao máy thi công; Chi phí sửa chữa lớn, sửa chữa thờng xuyên
máy thi công; chi phí tiền lơng của nhân viên điều khiển máy và phục vụ
máy thi công; Chi phí nhiên liệu và động lực dùng cho máy thi công và các
khoản chi phi khác liên quan trực tiếp đến việc sử dụng máy thi công nh chi
phí di chuyển, tháo, lắp máy thi công Khoản mục chi phí sử dụng máy
thi công không bao gồm khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên tiền l-
ơng nhân viên điều khiển máy thi công.
-Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí trực tiếp khác ngoài các
khoản chi phí trên phát sinh ở tổ đội, công trờng xây dựng bao gồm: Lơng
nhân viên quản lý đội, các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên tiền lơng
phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp, nhân viên quản lý đội,
công nhân điều khiển máy thi công, Khấu hao tài sản cố định dùng chung
cho hoạt động của tổ, đội và chi phí khác liên quan đến hoạt động của tổ,
đội.
Phân loại chi phí theo tiêu thức này chỉ rõ chi phí doanh nghiệp bỏ ra cho
từng lĩnh vực hoạt động, từng địa điểm phát sinh, làm cơ sở cho việc tính giá
thành sản phẩm xây lắp theo khoản mục, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch
giá thành.
2.2.2. Phân loại chi phí sản xuất xây lắp theo mối quan hệ giữa chi phí
với đối tợng chịu chi phí .
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất xây lắp đợc chia thành chi phí trực
tiếp và chi phí gián tiếp.
- Chi phí tực tiếp: là chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tợng chịu chi
phí. Những chi phí này đợc tập hợp trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công
trình nh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí gián tiếp: là chi phí liên quan đến nhiều đối tợng chịu chi phí, kế
toán không thể tập hợp trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình mà
Trang 5
phải tập hợp riêng sau đó phân sau đó phân bổ cho từng đối tợng theo các tiêu
chuẩn phân bổ.
Do mỗi loại chi phí có tác dụng khác nhau đối với mỗi loại công trình, hạng
mục công trình nên việc phân loại rõ chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp có ý
nghĩa thực tiễn cho việc đánh giá hợp lý chi phí và tìm biện pháp không ngừng
giảm chi phí gián tiếp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu t.
2.2.3. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lợng sản
phẩm.
Theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối lợng sản phẩm thì chi phí
sản xuất của doanh nghiệp dợc chia thành chi phí cố định (bất biến), chi phí biến
đổi (khả biến), chi phí hỗn hợp.
- Chi phí bất biến (hay còn gọi là định phí) là các chi phí mà tổng số
không thay đổi khi có sự thay đổi về khối lợng của hoạt động sản xuất hoặc khối
lợng sản phẩm sản xuất trong kỳ.
- Chi phí khả biến (hay còn gọi là biến phí) là những chi phí thay đổi về
tổng số tỷ lệ với sự thay đổi của mc độ hoạt động, khối lợng sản phẩm sản xuất
trong kỳ.
-Chi phí hỗn hợp là chi phí mà bản thân nó gồm các yếu tố của định phí và
biến phí.
Phân loại chi phí theo cách này có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản
lý của doanh nghiệp, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra quyết định
quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh.
Ngoài các cách phân loại chi phí sản xuất trên tuỳ thuộc vào yêu cầu công
tác quản lý chi phí sản xuất xây lắp có thể phân loại theo các tiêu chí khác nhau:
phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế của chi phí, phân loại chi phí
theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với quy trình công nghệ, phân loại theo
thẩm quyền ra quyết định.
3. Giá thành sản phẩm xây lắp.
3.1. Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp.
Trong quá trình sản xuất ở doanh nghiệp xây lắp phải bỏ ra các khoản chi
phí sản xuất , mặt khác kết quả sản xuất mà doanh nghiệp thu đợc là những sản
phẩm, công việc xây lắp nhất định đã hoàn thành. Những sản phẩm, công việc
xây lắp đã hoàn thành cần phải tính đợc giá thành thực tế, tức là những chi phí đã
bỏ ra để sản xuất ra chúng.
Trang 6
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ những chi phí về lao động sống,
lao động vật hoá và các chi phí khác biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp xây
lắp bỏ ra để hoàn thành khối lợng xây lắp công trình, hạng mục công trình
theo quy định.
Sản phẩm xây lắp có thể là khối lợng công việc hoặc giai đoạn công việc có
dự toán riêng, có thể lá công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành toàn bộ.
Khác với các doanh nghiệp sản xuất khác, giá thành sản phẩm xây lắp mang tính
chất cá biệt, mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lợng xây lắp khi đã
hoàn thành đều có giá thành riêng.
Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lợng
hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật t, lao động, tiền
vốn trong quá trình sản xuất, cũng nh các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh
nghiệp đã sử dụng nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.
3.2. Các loại giá thành sản phẩm xây lắp
Việc phân biệt các loại giá thành trong sản xuất xây lắp sẽ giúp cho doanh
nghiệp trong việc nghiên cứu và quản lý tốt gía thành sản phẩm.
Giá thành đợc chia thành các loại: giá thành dự toán, giá thành kế hoạch, giá
thành thực tế.
- Giá thành dự toán: Do đặc điểm hoạt động xây lắp, thời gian sản xuất
thi công dài, mang tính đơn chiếc nên mỗi công trình, hạng mục công trình
đều phải lập dự toán trớc khi sản xuất thi công.
-Giá thành dự toán là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lợng xây lắp
công trình, hạng mục công trình. Giá thành dự toán đợc xác định trên cơ sở
các định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá của nhà nớc. Giá thành dự toán là
chênh lệch giữa giá trị dự toán và phần lãi định mức.
Giá thành dự toán Giá trị dự toán của
Của công trình, hạng = công trình, hạng mục - Lãi định mức
Mục công trình công trình
Giá thành kế hoạch: Giá thành kế hoạch là giá thành đợc xác định trên cơ
sở những điều kiện cụ thể của doanh nghiệp về các định mức, đơn giá, các biện
pháp thi công.
Giá thành kế hoạch Giá thành dự toán của Mức hạ
giá
Của công trình, hạng = công trình, hạng - thành
Trang 7
Mục công trình mục công trình kế
hoạch
Giá thành thực tế: Giá thành thực tế của khối lợng xây lắp là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ chi phí thực tế để hoàn thành khối lợng xây lắp gồm: Chi
phí định mức, vợt định mức và không định mức nh các khoản bội chi, lãng phí về
vật t, lao động trong quá trình sản xuất xây lắp của đơn vị đợc phép tính vào giá
thành. Giá thành thực tế đợc tính trên cơ sở số liệu kế toán về chi phí sản xuất
xây lắp của khối lợng xây lắp thực hiện trong kỳ.
4. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
Trong quá trình sản xuất thi công, chi phí sản xuất xây lắp thể hiện hao phí
trong kỳ của doanh nghiệp xây lắp, chi phí này phải đợc xem xét trong mối quan
hệ với mặt thứ hai của quá trình sản xuất đó là kết quả của sản xuất. Giữa chi
phí sản xuất xây lắp và giá thành sản phẩm xây lắp có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Chi phí sản xuất xây lắp và giá thành sản phẩm xây lắp là hai mặt thống
nhất của cùng một quá trình sản xuất, vì vậy chúng giống nhau về mặt chất.
Chúng đều bao gồm các loại chi phí về lao động sống, lao động vật hoá, các chi
phí khác mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên chi
phí và giá thành sản phẩm có sự khác nhau về lợng. Chi phí sản xuất thể hiện
những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất sản phẩm trong một kỳ (tháng,
quý, năm) không tính đến chi phí đó có liên quan đến sản phẩm đã hoàn thành
hay cha. Chi phí sản xuất không những chỉ liên quan đến khối lợng sản phẩm
hoàn thành mà còn liên quan đến khôí lợng sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản
phẩm hỏng. Chi phí sản xuất gắn liền với từng thời kỳ phát sinh.
Giá thành sản phẩm gắn với khối lợng sản phẩm hoàn thành. Giá thành sản
phẩm là chi phí sản xuất tính cho một công trình, hạng mục công trình hay khối
lợng công việc xây lắp hoàn thành theo quy định. Giá thành sản phẩm xây lắp
còn có thể bao gồm cả chi phí sản xuất khối lợng dở dang đầu kỳ và không bao
gồm chi phí của khối lợng xây lắp dở dang cuối kỳ đợc chuyển sang kỳ sau.
Mặc dù có sự khác nhau, nhng giữa giá thành và chi phí sản xuất xây lắp lại
có mối quan hệ mật thiết vơí nhau. Chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành sản
phẩm, chi phí sản xuất biểu hiện sự hao phí còn giá thành biểu hiện kết quả của
quá trình sản xuất. Chi phí sản xuất trớc hết thể hiện theo các yếu tố chi phí, sau
đó khi tính giá thành sản phẩm thì chi phí đợc thể hiện theo các khoản mục tính
Trang 8
giá thành. Mức tiết kiệm hay lãng phí các nguồn lực sẽ ảnh hởng đến kết quả tài
chính khi thi công công trình.
II Các nhân tố ảnh hởng tới chi phí sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp xây lắp.
Chi phí sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu chất lợng tổng hợp để đánh giá tình
hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất trong quá trình kinh
doanh, cũng nh chính bản thân doanh nghiệp hoạt động trên thị trờng. chi phí sản
xuất kinh doanh chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó có những
nhân tố mang tính chất khách quan và có những nhân tố mang tính chủ quan, các
nhân tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng tác động tới chi phí.
1. Những nhân tố khách quan.
Nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp hay những
nhân tố thuộc môi trờng hoạt động của doanh nghiệp.
- Các chính sách của Nhà n ớc: Đặc trng của nền kinh tế nớc ta là nền kinh
tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc. Điều đó có nghĩa là Nhà nớc không đứng
ngoài sự phát triển của nền kinh tế mà đóng vai trò là ngời hớng dẫn, kiểm soát
và điều tiết hoạt động kinh tế ở tầm vĩ mô thông qua các luật lệ, chính sách và
các biện pháp kinh tế. Nhà nớc tạo môi trờng và hành lang pháp lý cho các doanh
nghiệp hoạt động phát triển sản xuất kinh doanh và khuyến khích các doanh
nghiệp đầu t kinh doanh vào những nghề có lợi cho đất nớc, cho đời sống của
nhân dân. Doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nớc phải
tuân thủ chế độ quản lý kinh tế của Nhà nớc đang áp dụng nh : Chế độ tiền lơng,
tiền công, cơ chế hạch toán kinh tế Sự hoàn thiện các chế độ quản lý kinh tế là
điều kiện cơ bản cho việc áp dụng chế độ phân tích, kiểm tra và hạch toán chi phí
sản xuất kinh doanh. Các chế độ thể lệ của Nhà nớc là chỗ dựa cho công tác quản
lý chi phí sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Giá cả và cạnh tranh: Nói đến thị trờng, chúng ta không thể không đề cập
đến hai nhân tố cơ bản là giá cả và sự cạnh tranh.
Trớc hết là sự ảnh hởng của nhân tố giá cả đến chi phí sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp xây lắp. Biểu hiện, đó là khi giá cả của nhiên, nguyên liệu, vật
liệu, dụng cụ, đồ dùng hoặc giá cả của các lao vụ, dịch vụ thay đổi sẽ làm thay
đổi chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp . Nếu giá cả của nguyên liệu,
vật liệu, dụng cụ tăng lên thì chi phí sản xuất kinh doanh sẽ tăng lên và ngợc lại.
Vì vậy, lựa chọn việc thay thế các loại nguyên , vật liệu với giá cả hợp lý nhng
Trang 9
vẫn đảm bảo chất lợng sản phẩm sản xuất ra của doanh nghiệp cũng là yếu tố
quan trọng để giảm chi phí.
Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền kinh tế thị trờng. Cạnh tranh
một mặt thúc đẩy doanh nghiệp hạ thấp hao phí lao động cá biệt để tăng khả năng
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Mặt khác nó lại có tác động làm tăng chi
phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .Trong thị trờng xây dựng, cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp xây lắp diễn ra cũng không kém phần gay gắt và khốc liệt
nh trong thị trờng hàng hoá tiêu dùng thông thờng. Biểu hiện rõ nét nhất của cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp xây lắp trên thị trờng xây dựng đó là hoạt động tranh
thầu. Nh đã biết, đối với các doanh nghiệp xây lắp điều kiện tiên quyết cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đợc thực hiện là doanh nghiệp phải
ký đợc các hợp đồng xây dựng- tức là bằng mọi giá doanh nghiệp phải thắng
thầu. Vì thế doanh nghiệp phải bỏ ra những khoản chi phí để có dợc những hợp
đồng xây dựng đó nh: Chi phí trả cho dịch vụ môi giới, t vấn xây dựng, chi phí
quảng cáo Chính vì thế nó có tác động làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp .
Ngoài các nhân tố khách quan trên: Nhân tố tiến bộ của khoa học, kỹ thuật,
công nghệ cũng ảnh hởng tới chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi
những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, những quy trình công nghệ mới đợc ứng dụng
vào sản xuất cùng với xu hớng chuyên môn hoá sản xuất ngày càng tăng sẽ góp
phần tăng năng xuất lao động và chất lợng tốt nhằm giảm lao động chân tay
Đó cũng là nhân tố góp phần làm giảm chi phí.
Trong giai đoạn hiện nay, các khoản mục chi phí luôn có sự thay đổi. Nhất
là các khoản tiền lơng, chi phí nhiên liệu, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí trả
lãi tiền vay,chi phí công cụ lao động. Những khoản này nằm ngoài ý muốn của
doanh nghiệp và làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh.
2. Những nhân tố chủ quan bên trong doanh nghiệp.
Bên cạnh những nhân tố khách quan trên còn có những nhân tố chủ quan
ảnh hởng đến chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh: Năng xuất lao
động của con ngời, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý sản xuất
ảnh hởng đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Đây là những nhân tố thuộc về
chủ thể kinh doanh và nó mang tính chất bên trong hay còn gọi là những nhân tố
bên trong doanh nghiệp.
- Nhân tố năng xuất lao động con ng ời: Năng xuất lao động cũng là một
yếu tố ảnh hởng nhiều đến chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp.
Trang 10
Trong bất cứ doanh nghiệp sản xuất nào thì yếu tố con ngời là vô cùng quan trọng
mà không thể thiếu đợc, đi đôi với con ngời là năng suất lao động của họ. Nếu
năng xuất lao động của ngời lao động mà cao thì sẽ tiết kiệm đợc quỹ tiền lơng,
giảm chi phí tiền lơng trong một đơn vị sản phẩm tiêu thụ và điều này sẽ làm cho
tổng chi phí sản xuất kinh doanh giảm xuống.
- Nhân tố cơ sở vật chất kỹ thuật: Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đóng
một vai trò hết sức quan trọng đối với chi phí sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Bởi nếu doanh nghiệp có một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tốt thì nó
sẽ góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất cho doanh nghiệp. Nếu máy móc thiết bị
sản xuất, dụng cụ quản lý đầy đủ, hiện đại thì nó sẽ tạo điều kiện cho hoạt động
sản xuất đợc thông suốt và giảm dợc các khoản chi phí do thuê ngoài. Ngoài ra,
điều kiện kho bãi để bảo quản vật t, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị mà tốt sẽ
làm giảm chi phí hao hụt trong khâu bảo quản, đồng thời hạn chế đợc sự suy
giảm chất lợng, hao mòn của vật t, máy móc thiết bị
- Nhân tố tổ chức quản lý sản xuất và tài chính: Nhờ vào việc bố chí các
khâu sản xuất hợp lý có thể hạn chế đợc sự lãng phí nguyên vật liệu, chi phí về
ngừng sản xuất Bên cạnh đó, việc sử dụng vốn hợp lý, đáp ứng đầy đủ kịp thời
nhu cầu cho việc mua sắm vật t sẽ tránh đợc những tổn thất cho sản xuất nh việc
ngừng sản xuất do thiếu vật t Đồng thời, thông qua việc tổ chức sử dụng vốn sẽ
kiểm tra đợc tình hình dự trữ vật t, từ đó phát hiện ngăn ngừa kịp thời tình trạng ứ
đọng, mất mát hao hụt vật t Việc đẩy nhanh sự chu chuyển vốn có thể giảm bớt
nhu cầu vay vốn, giảm bớt đợc chi phí trả lãi tiền vay Tất cả sự tác động trên
đều làm giảm bớt chi phí sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.
Trên đây là các yếu tố chủ quan cũng nh khách quan ảnh hởng đến chi phí
sản xuất kinh doanh. Việc nghiên cứu các nhân tố này có ý nghĩa quan trọng
trong các doanh nghiệp sản xuất vì nó là cơ sở để các doanh nghiệp đề ra các ph-
ơng hớng và các biện pháp chung nhằm phấn đấu hạ thấp chi phí sản xuất, tăng
lợi nhuận cho doanh nghiệp.
III. Mục đích, ý nghĩa phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm ở một doanh nghiệp .
1. Mục đích phân tích chi phí và giá thành sản phẩm ở một doanh
nghiệp.
Mục đích phân tích chi phí: Phân tích tình hình chi phí nhằm mục đích
nhận thức và đánh giá chính xác, toàn diện và khách quan tình hình quản lý và sử
Trang 11
dụng chi phí, qua đó thấy đợc tác động ảnh hởng của nó đến quá trình và kết quả
kinh doanh. Qua phân tích chi phí có thể thấy đợc tình hình quản lý và sử dụng
chi phí có hợp lý hay không; có phù hợp với những nhu cầu kinh doanh, với
những nguyên tắc quản lý kinh tế tài chính và mang lại hiệu quả kinh tế hay
không? Đồng thời, tìm ra những mặt tồn tại bất hợp lý trong quản lý và sử dụng
chi phí. Từ đó, đề xuất những chính sách, biện pháp khắc phục nhằm quản lý và
sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh tốt hơn.
Mục đích phân tích giá thành: Là nhằm nhận thức, đánh giá một cách
chính xác, toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất gia công của doanh nghiệp
trong kỳ về mặt số lợng sản phẩm, giá thành sản phẩm và chất lợng sản phẩm sản
xuất ra ,qua đó thấy đợc mức độ hoàn thành và số chênh lệch tăng giảm. Đồng
thời qua phân tích cũng thấy đợc những mâu thuẫn trong việc tổ chức và quản lý
quá trình sản xuất gia công và tiêu thụ sản phẩm. Từ đó đề ra đợc những chính
sách và biện pháp cải tiến, hoàn thiện quá trình sản xuất và quản lý sản xuất
nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.
2. ý nghĩa phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở một
doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất là một chỉ tiêu chất lợng tổng hợp để đánh giá tình hình
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất trong quá trình kinh doanh.
Phân tích chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm có một ý nghĩa rất
quan trọng đối với doanh nghiệp.
-Giúp cho doanh nghiệp đánh giá một cách chính xác, toàn diện và khách
quan tình hình quản lý và sử dụng chi phí sản xuất ở doanh nghiệp. Qua việc
phân tích các khoản mục chi phí sản xuất để tìm ra những mặt còn tồn tại
bất hợp lý trong việc quản lý và sử dụng chi phí, từ đó xác định những
nguyên nhân khách quan cũng nh nguyên nhân chủ quan có ảnh hởng tới sự
biến động của chi phí, từ đó đề ra các phơng hớng và biện pháp khắc phục
nhằm quản lý chi phí sản xuất sao cho có hiệu quả hơn.
-Phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là cơ sở để đề ra các giải
pháp quản lí có căn cứ khoa học.
Một trong những phơng hớng quan trọng của việc hoàn thiện quản lí của các
doanh nghiệp là nâng cao tính có căn cứ của các giải pháp đợc chấp nhận. Bất kì
một giải pháp nào đợc đa ra trong quá trình quản lí chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm chỉ đợc chấp nhận trên cơ sở phân tích các thông tin có liên quan đến
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Phân tích chi phí sản xuất và giá thành
Trang 12

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét