Khủng hoảng tài chính –tiền tệ Đông Á 1997-1999
5
Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà
kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời. Họ vừa cố định giá trị đồng
tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài
khoản vốn). Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa
đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ. Để bảo vệ tỷ giá cố định, các
ngân hàng trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Kết
quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát. Chính sách vô hiệu hóa (sterilization
policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô hình chung đẩy mạnh các dòng vốn
chảy vào nền kinh tế.
Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt
ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời
kỳ từ sau năm 1987. Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vì
giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng. Trong
hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái neo lỏng lẻo và
chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Vì thế, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù
đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đi vay nước ngoài mà phần lớn là
vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro.
1.1.5. Hệ thống tài chính yếu kém và vấn đề niềm tin bị tổn thương
Bài học đắt giá nhất cho kinh tế mỗi nước là nếu chỉ quan tâm đến tăng
trưởng nóng mà không chú ý kiện toàn hệ thống tài chính, hệ ủa tất yếu là ngân
sách nhà nước bị thâm hụt, lạm phát tăng, nền kinh tế sớm muộn gì củng lâm vào
khủng hoảng. Hệ thống ngân hàng tài chính là một lĩnh vực hết sức nhậy cảm và
chứa đựng nhiều rủi ro, chỉ cần một tổn thương cũng gây nên những xáo trộn lớn
trong quá trình điieù tiết kinh tế. Việc duy trì quá lâu tỷ gia hối đoái cố định đã tạo
nên kẻ hở trong hệ thống ngân hàng của các nước này. Hệ thống ngân hàng hoạt
động yếu kém dấn đến kẻ hở cho nhà đấu cơ tiền tệ vay vốn để mua ngoại tệ kiếm
lời. Sự tăng giá của đồng Yên Nhật so với USD khiến cho các ngân hàng đổ xô
mua nhau mua sau đó bán lại để mua USD hưởng chênh lệch giá.
Hiện tượng thất thoát vốn do đầu cơ tiền tệ ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Để duy trì tốc độ tăng trưởng và tỷ giá hối đoái cố định ngân hàng tiếp tục vay
nóng ngân hàng nước ngoài dẫn đến giới hạn nguy hiểm khi tỷ lệ nợ vượt xa dự trữ
ngoại tệ trong nước. Các chuyên gia IMF cho biết tỷ lệ nợ /dự trữ ngoại hối ở Thái
Lan, Indonêsia xấp xỉ 3 lần, Philippin gấp 4 lần, hấp nhất là Malaysia là 10 tỷ
USD. Nguy hiểm hơn khi nhà đầu tư nước ngoài khẩn trương rút vốn khi thấy có
sự bất ổn.
Khủng hoảng tài chính –tiền tệ Đông Á 1997-1999
6
Do thất thoát và khê đọng vốn ở thị trường bất động sản dấn đến hàng loạt
ngân hàng trong khu vực tuyên bố vỡ nợ. Điển hình như ở Thái Lan, 10 ngân hàng
lớn nhất đứng trước nguy cơ phá sản. Các Nhà đầu tư trong và ngoài nước bắt đầu
có hội chứng mất dần niềm tin, hàng loạt khách hàng rút vốn ra khỏi ngân hàng-tài
chính đã làm suy giảm thị trường chứng khoán ở các nước này.
Sau lời tuyên bố từ chức của Bộ trưởng Tài chính A. Vinavan vào cuối
tháng 6/1997 khi khủng hoảng xảy ra, giới kinh doanh đầu tư mất niềm tin làm thị
trường chứng khoán Băngkok giảm xuống ở mức thấp nhất với chỉ số 482,97
điểm, giảm 14,75 điểm so với giữa tháng 6/1997. Các nhà đầu cơ bán hạ giá các cổ
phiếu và chuyển tiền ra nước ngoài để mua USD.
1.2. Những nguyên nhân khách quan
1.2.1. Thị trường thương mại toàn cầu giảm sút, những thay đổi bất lợi của kinh tế
thế giới.
Từ năm 1995 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước công
nghiệp phát triển giảm sút dẫn đến lượng cầu cũng suy giảm. Đặc biệt, những nước
này là bạn hàng chủ yếu, là đối tác kích thích quá trình tăng trưởng nóng hướng về
xuất khẩu của các nước Đông Nam Á. Những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của khu
vực (điện tử, sợi, dệt) đang đứng trước nguy cơ bảo hòa của thị trường thế giới.
Năm 1996, thị trường bán dẫn quốc tế suy thoái mạnh, giá vi mạch giảm hơn 80%.
Các mặt hàng điện tử dân dụng của Nhật, các nước NICs Đông Nam Á giảm lượng
bán hơn 40% trên thị trường thế giới. Mặt khác tính hấp dẫn của thị trường Đông
Nam Á trước các đối tác Mỹ và Tây Âu đã giảm sút trước thị trường Trung Quốc,
SNG-Đông Âu và Mỹ Litinh. Nhật Bản củng đang lúng túng về những đồng vốn
cho vay quá lớn trước những biến động xấu của thị trường tài chính khu vực. Theo
báo cáo của ngân hàng D. M. Green Fell thì hơn một nửa số 70 tỷ USD Thái Lan
nợ ngân hàng là của Nhật Bản và chủ yếu là do vay nóng. Do vậy, khi lãi suất tăng
thì không chỉ chi phí vay nợ tăng mà đồng vốn vào Thái Lan cũng sẻ giảm đi hoặc
đổi chiều và dẫn đến khủng hoảng về thanh khoản của Thái Lan đồng thời gây áp
lực với đồng Peso và Rupiah.
Nhật Bản, một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của các nước châu
Á bị trì trệ từ đầu thập niên 1990. Nhân dân tệ được định giá thấp so với Dollar
Mỹ từ năm 1994 cùng nhiều nhân tố khác làm cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc
rẻ hơn so với hàng xuất khẩu cùng loại của Đông Nam Á. Trong khi đó, nền kinh
tế của Mỹ đang được khôi phục lại sau tình trạng suy thoái đầu những năm 1990,
Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Alan Greenspan bắt đầu nâng
lãi suất của Mỹ lên để ngăn chặn lạm phát. Việc này làm cho Mỹ trở thành một thị
Khủng hoảng tài chính –tiền tệ Đông Á 1997-1999
7
trường hấp dẫn đầu tư hơn so với các nước ở Đông Á, và do đó hấp dẫn những
luồng vốn đầu tư ngắn hạn thông qua lãi suất ngắn hạn cao và làm tăng giá đồng
Đô La Mỹ. Và do đồng tiền của các nước Đông Nam Á được neo vào Dollar Mỹ,
nên xuất khẩu của các nước này trở nên kém cạnh tranh. Từ mùa Xuân năm 1996,
tăng trưởng trong xuất khẩu của Đông Nam Á giảm xuống một cách nhanh chóng,
làm suy yếu tài khoản vãng lai của họ.
1.2.2. Hoạt động tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là
những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á. Khi
phát hiện những dấu hiệu suy thoái của hệ thống ngân hàng- tài chính khu vực,
nhiều nhà đầu cơ nước ngoài đã tăng cường hợt động đầu cơ tiền tệ. Theo nguồn
tin nước ngoài thì rất nhiều nhà đầu cơ trong tổng số 2300 quỹ tín dụng tư nhân ở
Mỹ, với tài sản trên 100 tỷ USD đã nhảy vào thị trường khu vực này trong 2 tháng
7-8/1997. Ngoài các quỹ do Soros kiểm soát còn có các quỹ tín dụng lớn như
Tiger, Orbis, Pumar, Panther và Jaguar. Họ mua đồng Baht sau đó Peso, Ringgit,
Rupiah kể cả SGD ước tính 10-15 tỷ USD để đầu cơ, cả dự trữ ngoại hối nhà nước
cạn kiệt càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài.
Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ. Thị trường bất động sản
của Thái Lan đã vỡ. Một số thể chế tài chính bị phá sản. Người ta không còn tin
rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định. Khi phát hiện thấy
những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu Á, một số thể chế
đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á Các nhà đầu tư nước ngoài
đồng loạt rút vốn ra.
Ngoại trưởng 10 nước ASEAN lúc đó tin rằng, việc liên kết các hệ thống
tiền tệ chặt chẽ là một nỗ lực thận trọng nhằm củng cố vững chắc các nền kinh tế
ASEAN. Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 30 diễn ra tại Subang Jaya,
Malaysia đã thông quan một Tuyên bố chung vào ngày 25 tháng 7 năm 1997 nêu
rõ mối quan ngại sâu sắc và kêu goi các nước ASEAN cần hợp tác chặt chẽ hơn
nhằm bảo vệ và tăng cường lợi ích của ASEAN trong giai đoạn này. Ngẫu nhiên là
trong cùng ngày này, các Ngân hàng Trung ương của hầu hết các nước chịu tác
động của khủng hoảng đã gặp nhau tại Thượng Hải trong Hội nghị cấp cao Đông
Á Thái Bình dương EMEAP, và thất bại trong việc đưa ra một biện pháp Dàn xếp
cho vay mới. Trước đó một năm, Bộ trưởng Tài chính của các nước này cũng đã
tham dự Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC lần thứ 3 tại Kyoto, Nhật Bản vào
ngày 17 tháng 3 năm 1996, và theo như Tuyên bố chung, các bên đã không thể
nhân đôi được Quỹ tài chính phục vụ cho Hiệp định chung về cho vay và Cơ chế
Khủng hoảng tài chính –tiền tệ Đông Á 1997-1999
8
Tài chính trong tình trạng khẩn cấp. Vì vậy, cuộc khủng hoảng có thể xem như
một thất bại trong việc xây dựng năng lực phù hợp kịp thời, thất bại trong việc
ngăn chặn sự lôi kéo tiền tệ.
Một số nhà kinh tế lại chỉ trích chính sách tài chính thắt chặt của IMF được áp
dụng ở các nước xảy ra khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng.
2. Diễn biến cuộc khủng hoảng ở một số quốc gia
2.1. Thái Lan
Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình
quân hàng năm là 9%. Trong suốt các năm 1991- 1996, cán cân thương mại của
Thái Lan luôn bị thâm hụt, tổng cộng là 35,26 tỉ USD. Thâm hụt tài khoản vãng lai
năm 1996 tới 14,7 tỉ USD. Để bù đắp khoản thâm hụt thương mại và để có vốn đầu
tư, Thái Lan đã vay nợ nước ngoài và đến năm 1996 khoản nợ tăng lên 89 tỉ USD.
Số nợ này được dùng cả để tăng tưng dự trữ quốc gia, từ 18,4 tỉ USD năm 1991
lên 38,7 tỉ USD năm 1996, song do đầu tư tài chính và tín dụng ngắn hạn chiếm tới
90% tổng vốn đầu tư nước ngoài hàng năm. Nợ ngắn hạn năm 1995 gấp gần 1,18
lần dự trữ ngoại tệ của quốc gia. Tức là thực tế Thái Lan đã mất khả năng thanh
toán thanh toán nợ nước ngoài từ năm 1995.
Từ đầu năm 1997 đến tháng 3/1997, người dân các nhà đầu tư bắt đầu rút vốn
của mình ở dạng tiền ra khỏi ngân hàng và các công ty tài chính, buộc Chính phủ
phải đóng cửa thị trường chứng khoán một ngày 3/3/1997 và yêu cầu mọi tổ chức
tài chính phải tăng thêm dự trữ tiền mặt và công bố 10 công ty tài chính đang hoạt
động ở trạng tháo không bình thường ( Unico Housing Co.Ltd, Thai- Fuji, Royal
International, Sri Dhana…)
Ngày 4 và 5/3/1997, hơn 21,4 tỉ baht đã được rút khỏi các ngân hàng và công
ty tài chính. Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn
công đầu cơ quy mô lớn. Trong 13 năm, đồng baht Thái được neo tỉ giá với 1
USD/25 Baht. Ngày 25/6/1997, Chính phủ ra lệnh đóng cửa 16 công ty tài chính,
nâng cao tổng số công ty tài chính bị đóng cửa lên 58/91 (64%) toàn quốc. Chính
phủ Thái phải bán ngoại tệ, làm dự trữ ngoại tệ giảm mạnh từ 38,78 tỉ USD tháng
6/1996 còn 31,4 tỉ USD vào 30/6/1997. Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan
Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thả nổi
baht vào ngày 2 tháng 7. Baht ngay lập tức mất giá gần 50%. Vào tháng 1 năm
1998, nó đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ. Chỉ số thị trường
chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối
năm 1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống
còn 23,5 tỷ USD. Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản.
Khủng hoảng tài chính –tiền tệ Đông Á 1997-1999
9
Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ
cho Thái Lan. Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ
dollar với yêu cầu chính phủ Thái Lan tăng thuế, cắt giảm chi tiêu công cộng, tư
nhân hóa một số doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước và tăng lãi suất. Trong tháng
12 năm 1997, chính phủ đã đóng cửa 56 tổ chức tài chính, sa thải 16,000 người.
Hậu quả trực tiếp của khủng hoảng kinh tế- tài chính ở Thái Lan là:
- Các ngân hàng, công ty tài chính, doanh nghiệp phá sản hàng loạt, kinh tế quốc
gia suy thoái. Tăng trưởng kinh tế từ 6,7% năm 1996 giảm còn -0,4% năm
1997, -8,3% năm 1998 và 1% năm 1999.
- Gần 2 triệu người lao động mất việc lamg, mất thu nhập.
- Các nhà đầu tư nước ngoài mất niềm tin, rút vốn ra khỏi đất nước, làm xấu đi
môi trường đầu tư. Năm 1995, 1996, mỗi năm có khoảng 20 tỉ USD vốn được
rót vào Thái Lan nhưng năm 1997, 15,8 tỉ USD được rút ra khỏi quốc gia, năm
1998, thêm 9,5 tỉ USD vốn chạy ra nước ngoài.
Sự rối loạn về kinh tế, mất niềm tin của dân chúng tất yếu làm rung động hệ
thống chính trị. Bốn tháng sau khi thả nổi đồng Baht, thủ tướng Thái Lan từ chức.
Trong tiến trình khủng hoảng, sau khi thả nổi đồng Baht, tỉ giá hối đoái đã
không ngừng tăng lên, từ tháng 7/1997 tới tháng 1/1998 đã đạt mức 53 baht/USD,
bằng 212% mức tháng 6/1997. Chỉ lúc này, 1/1998, khi chính phủ cam kết chính
thức sẽ trả tất cả các khoản nợ của ngân hàng thương mại, kể cả nước ngoài, thì tỉ
giá hối đoái mới giảm.
Bảng 2: Tỉ giá hối đoái bình quân năm 1996 và 1997
Thái Lan
Baht/USD
Philiippines
Peso/USD
Malaysia
Ringgit/USD
Indonesia
Rupiah/USD
Hàn quốc
Won/USD
1996 25,61 26,29 2,52 2308 844.2
1997 47,25 39,50 3,88 5400 1695,8
2.2. Hàn Quốc
Đầu năm 1996, tập đoàn Woosing phá sản. Ngày 23/1/1997, tập đoàn thép
Hanbo phá sản, để lại món nợ 5,9 tỉ USD cho 61 ngân hàng và công ty tài chính.
Ngày 19/3/1997, tập đoàn thép Sammi- Chaebeol đứng thứ 26 của Hàn Quốc phá
sản, kéo theo 27 công ty thành viên phá sản, để lại món nợ 2,2 tỉ USD. Từ 1/1997
đến 2/1998 có 8 Chaeboel phá sản, trong đó có công ty ô tô KIA, đứng thứ 3 trong
Khủng hoảng tài chính –tiền tệ Đông Á 1997-1999
10
công nghiệp ô tô. Năm 1998, Hyundai Motor mua lại Kia Motors . Quỹ đầu tư mạo
hiểm trị giá 5 tỉ USD của Samsung cũng giải thế do tác động quá mạnh của cuộc
khủng hoảng, tiếp đó Daewoo Motors phải bán lại cho General Motors. Từ
13/7/1997, hàng loạt ngân hàng được các công ty đánh giá cho xuống hạng “không
tin cậy”. Ngày 30/9, tỉ giá hối đoái đạt 914,8 won/ USD, tăng 8% so với mức
833,2% ngày 31/12/1996. Ngày 28 và 29/10/1997, tỉ gái hối đoái đạt mức giao
động cho phép, không ai bán ngoại tệ cho ngân hàng. Ngày 19/11/1997, giới hạn
giao động tỉ giá được mở rộng tới 10%.
Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh
nặng nợ nước ngoài khổng lồ. Các công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân
hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài. Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra. Khi thị
trường châu Á bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng
khoán của Hàn Quốc ở quy mô lớn. Ngày 28 tháng 11 năm 1997, tổ chức đánh giá
tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày
11 tháng 12 lại hạ tiếp xuống B2. Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của
Hàn Quốc thêm giảm giá. Riêng trong ngày 7 tháng 11, thị trường chứng khoán
Seoul tụt 4%. Ngày 24 tháng 11 lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc
phải áp dụng các chính sách khắc khổ. Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống
còn khoảng 1700 Won/USD từ mức 1000 Won/USD. Từ tháng 6 đến 12/1997,
Chính phủ đã phải bán ra 14 tỉ USD để kìm giữ tỉ giá, song đã phải từ bỏ nỗ lực
này khi dự trữ ngoại tệ giảm từ 34,1 tỉ USD xuống còn 20,4 tỉ USD. Ngày
14/12/1997, đồng Won được thả nổi. Ngày 23/12, tỉ giá tăng vọt tới 2000 Won/
USD, bằng 237% so với 31/12/1996. Việc đồng Won cuối cùng phải thả nổi chính
là do việc giảm sút nguồn vốn vay ngoại tệ từ nước ngoài và sự rút vốn đầu tư
nước ngoài ở Hàn Quốc ra khỏi quốc gia này trong năm 1997.
Ngày 29/12/1997, 10 trong số 14 ngân hàng thương mại có vấn đề bị đóng
cửa. Hai ngân hàng thương mại lớn bị Chính phủ quản lý. Cuối tháng 4/1998, kế
hoạch lành mạnh hóa bốn Ngân hàng thương mại bị bác bỏ, nhiều ngân hàng
thương mại bị đóng cửa. Ngày 29/6/1997, Chính phủ yêu cầu đóng cửa 5 ngân
hàng thương mại nhỏ và 2 ngân hàng khác được sát nhập. Ngày 24/8/1998, 2 ngân
hàng lớn nhất Hàn Quốc là ngân hàng thương mại Hàn Quốc và ngân hàng Hanil
tuyên bố sẽ sát nhập. Ngày 25/9/1998, Chính phủ công bố một đợt tái cấu trúc các
ngân hàng. Tổng cộng Chính phủ tài trợ 64 nghing tỉ Won cho các ngân hàng.
Trong năm 1997, có 14.000 doanh nghiệp phá sản và trong năm 1998, có tới
53.000 doanh nghiệp phá sản.
Khủng hoảng tài chính –tiền tệ Đông Á 1997-1999
11
Sự phá sản của hơn 70.000 doanh nghiệp và ngân hàng trong năm 1997 và
1998 đã làm cho số người thất nghiệp tăng từ 426.000 năm 1996 lên 1.461.000
năm 1998. Thất nghiệp, mất thu nhập với quy mô lớn làm nảy sinh hàng loạt vấn
đề xã hội. Số người nghiện ma túy tăng từ 6.819 người năm 1996 lên 10.589 người
năm 1998. Số vụ ly hôn tăng từ 80.000 năm 1996 lên 123.700 năm 1998. Nhằm
khắc phục hậu quả của thất nghiệp, Chính phủ đã mở rộng hệ thống bảo hiểm cho
các doanh nghiệp có từ 5 lao động trở lên, so với trước khủng hoảng chỉ dành cho
doanh nghiệp có 30 lao động trở lên. Thời gian tối thiểu được hưởng bảo hiểm
được tăng từ 1 thành 2 tháng, và tiền lương tối thiểu được bảo hiểm trả tăng từ
mức 50% lương trước khi thất nghiệp lên mức 70%. Một chương trình cho vay với
lãi suất thấp đối với người thất nghiệp được triển khai từ tháng 4/1998 để giúp họ
đảm bảo cuộc sống, việc hoạc hành của con cái, chuyển đổi nghề nghiệp và thuê
nhà. Chính phủ cũng triển khai các chương trình đào tạo nghề để giúp người thất
nghiệp chuyển đổi nghề và người không có học được việc làm. Trong vòng 2 năm
1998-1999, tổng cộng Chính phủ đã chi 10.000 tỉ Won để triển khai các biện pháp
chống thất nghiệp.
Sự thất nghiệp gia tăng và đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả sự dụng lao động
để tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao hơn đã dẫn tới sự biến đổi có tính đột
phá trong hệ thống tuyển dụng và trả lương của Hàn Quốc. trong đó lương được trả
theo thời gian làm với công ty, thời gian được đào tạo và tuổi của người lao
động.Từ năm 1997, các doanh nghiệp bắt đầu chuyển dang hệ thống trả lương theo
hiệu quả đóng góp của người lao động. Tháng 1/1999, 15% số doanh nghiệp có
trên 100 lao động đã áo dụng hệ thống trả lương mới này, và đến cuối năm 1999
hơn 50% doanh nghiệp đã áp dụng. Chính phủ có nhiều ưu đãi về thuế cho các
doanh nghiệp này.
Bảng 3: Tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp khi khủng hoảng
Tăng trưởng kinh tế (%) Tỉ lệ thất nghiệp (%)
1996 1997 1998 1996 1997 7/1998
Thái Lan 6,7 -0,4 -8,3 3,3 3,7
Malaysia 8,2 7,0 2,0 2,6 2,7 5,0
Indonesia 7,8 4,6 -13,7 2,2 3,0
Philippines 5,8 5,2 -0,5 9,5 10,4 13,3
Hàn Quốc 7,1 5,5 -5,8 2,3 2,5 8
Khủng hoảng tài chính –tiền tệ Đông Á 1997-1999
12
2.3. Malaysia
Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2 tháng 7 năm 1997), đồng
Ringgit của Malaysia và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập tức bị sức ép
giảm giá mạnh. Chỉ trong 12 ngày đầu tháng 7/1997, ngân hàng nhà nước phải bán
700 triệu USD để kìm giữ tỉ giá. Ngày 14/8/1997, Indonesia tuyên bố thả nổi tỉ giá.
Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/Dollar Mỹ xuống còn 4,20 Ringgit/Dollar.
Phần lớn sức ép giảm giá đối với Ringgit là từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị
trường tiền ở nước ngoài. Những người tham gia thị trường tiền duy trì tài khoản
bằng đồng Ringgit ở trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự tính về sử giảm
giá của đồng Ringgit trong tương lai. Kết quả là lãi suất trong nước của Malaysia
giảm xuống khuyến khích dòng vốn chảy ra nước ngoài. Lượng vốn chảy ra đạt tới
mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997.
Trước khủng hoảng, tài khoản vãng lai của Malaysia thâm hụt 5%. Malaysia
là quốc gia nhận được nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất, điều này phản ánh qua
việc KLSE (sàn giao dịch chứng khoán chính thức của Malaysia) được coi là sàn
giao dịch có hoạt động mạnh nhất trên thế giới (tổng giá trị giao dịch thậm chí
vượt qua cả NYSE mặc dù có mức vốn hóa thị trường thấp hơn rất nhiều). Ở thời
điểm đó, mọi người đều kỳ vọng quốc gia này tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng
và trở thành nước phát triển vào năm 2020.
Vào thời điểm trước khi xảy ra khủng hoảng, KLSE Index đang ở mức 1.200,
đồng ringgit được giao dịch ở tỉ lệ 2.5:1 so với USD, lãi suất qua đêm dưới 7%.
Lãi suất qua đêm tăng từ dưới 8% lên 40%, làm cho mức đánh giá tín dụng tụt
xuống và xảy ra làn sóng bán chứng khoán và tiền tệ ồ ạt.
Cuối năm 1997, mức đánh giá tín dụng tụt xuống dưới mức bình quân cho
các khoản đầu tư không đảm bảo, KLSE mất 50% điểm, tụt xuống dưới 600, đồng
ringgit cũng mất 50% giá trị, còn 3.8 đồng đổi 1 USD. Năm 1998, GDP giảm
6,2%, đồng ringgit mất thêm 4,7% giá trị và KLSE tụt xuống dưới 270 điểm.
Khủng hoảng đã làm cho tăng trưởng kinh tế giảm sút, từ mức tăng 8,2% năm
1996, còn 7% năm 1997 và -7,5% năm 1998. Tỉ lệ thất nghiệp tăng từ mức 2,5%
năm 1997 lên 3,2% năm 1998.
Ngày 7/1/1998, Chính phủ Malaysia thành lập Ủy ban hành động kinh tế
quốc gia (NEAC) là cơ quan tư vấn để giải quyết các vấn đề khủng hoảng. Cuối
tháng 7/1998, Ủy ban này đã đưa ra kế hoạch phục hồi kinh tế gồm 6 giải pháp
chính:
Khủng hoảng tài chính –tiền tệ Đông Á 1997-1999
13
- Ổn định giá trị đồng Ringgit (kiến nghị tỉ giá hối đoái linh hoạt nhưng hạn chế
giao động mạnh, chính sách lãi suất trong nước hợp lí hơn).
- Khôi phục niềm tin vào cơ chế thị trường ( công khai, minh bạch hơn, tăng
cường thông tin kinh tế cho công chúng).
- Duy trì ổn định thị trường tài chính (thành lập Công ty quản lý nợ Ngân hàng
Danahata, công ty tái cấp vốn Danamodal và Ủy ban tái cấu trúc nợ doanh
nghiệp).
- Tăng cường nền tàng kinh tế quốc gia (nâng cao tính cạnh tranh, thúc đẩy tăng
trưởng).
- Tiếp tục trương trình công bằng và kinh tế xã hội (giảm đói nghèo, nâng cao
chất lượng cuộc sống, giảm tác hại do khủng hoảng đem lại cho nhân dân).
- Khôi phục 12 ngành kinh tế bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi khủng hoảng .
Từ tháng 2/1999, kinh tế Malaysia đã tăng trưởng 1,4%, quý 2 tăng trưởng
4,1%, quý 3/1999 là 8,8%.
Bảng 4: Chỉ số lạm phát, dòng vốn vào
Lạm phát (%) Dòng vốn thuần (tỷ USD)
1996 1997 1998 1996 1997 1998
Thái Lan 4,8 5,6 8,1 19,5 -9,1 -9,5
Malaysia 3,8 2,8 7,0 9,5 2,7
Indonesia 6,6 11,6 47,0 10,8 -0,6
Philippines 7,1 7,3 10,3 43 45 47
Hàn Quốc 5,0 9,5 6,7 23,9 -9,2
2.4. Indonesia
Tháng 7, khi Thái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ của
Indonesia đã nới rộng biên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar
Mỹ từ 8% lên 12% vào ngày 11/7/1997 song cuối cùng, khi dự trữ ngoại tệ ngày
một giảm sút, ngày 14/8/1997, Chính phủ Indonesia phải thuyên bố thả nổi đồng
Pupiah , thay thế cho chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý. Tỉ giá hối đoái lập
tức tăng lên 2,87 Rupiah/USD so với mức 2,431 Rupiah/USD vào ngày 30/6. Ngày
12/12/1997 tỉ giá đạt 5.115 Rupiah/USD, 22/1/1998 là 17 Rupiah/USD. Dự trữ
ngoại tệ giảm từ 20,3 tỉ USD ngày 30/9/1997 xuống còn 15,8 tỉ USD ngày
31/3/1998.
Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia,
đặc biệt là làm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên. Trước
Khủng hoảng tài chính –tiền tệ Đông Á 1997-1999
14
tình hình đó, nhiều công ty đẩy mạnh mua Dollar vào (có nghĩa là bán Rupiah ra)
khiến cho nội tệ thêm mất giá và tỷ lệ lạm phát tăng vọt. Tháng 9/1997, 16 ngân
hàng mất khả năng thanh toán bị đóng cửa. Giữa tháng 12/1997, một nửa tài sản
của hệ thống Ngân hàng bị mất do người dân và doanh nghiệp rút tiền giửi. Ngày
31/12/1997, Chính phủ tuyên bố sát nhập 4 ngân hàng lớn và tư nhân hóa các ngân
hàng thương mại nhà nước. Ngày 13/1/1998, 54 ngân hàng yếu kém được đặt dưới
quyền điều khiển của Ủy ban quốc gia tái cấu trúc các ngân hàng (IBRA). Đến
giữa năm 1998, khoảng 80% doanh nghiệp của Indonesia phải ngừng hoạt động
hoặc phá sản do thiếu vốn hoạt động, giá vật tư cao, giá thành sản phẩm cao không
tiêu thụ được. Năm 1998, công nghiệp suy giảm -39,7%.
Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách tài chính khắc khổ theo yêu cầu của
IMF khiến chính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng đã khiến giá hai mặt hàng
này tăng lên. Tình trạng bạo động để tranh giành mua hàng đã bùng phát. Riêng ở
Jakarta đã có tới 500 người bị chết do bạo động. Khủng hoảng kinh tế và khủng
hoảng xã hội đã dẫn tới khủng hoảng chính trị. Giữa năm 1998, khoảng 80%
doanh nghiệp ở doanh nghiệp ở Indonesia phải ngưng hoạt động hoặc phá sản.
Năm 1996, tăng trưởng công nghiệp là 10,4%, năm 1997 giảm còn 5,6%, nhưng
sang 1998 đã suy giảm -15,6%. Ngành nông nghiệp năm 1996 tăng trưởng 12,8%,
năm 1997 còn 6,4%, và qua 1998 suy giảm -39,7%.
Cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính Indonesia đã làm tỉ lệ thất nghiệp ở đô
thị tăng từ 5% năm 1997 lên 11% đầu năm 1998, và trong cả nước từ 5% lên 7%.
Tỉ lệ nghèo đói tăng từ 11% năm 1996 lên 18- 20% dân số năm 1998, bằng 40
triệu người. Để giảm bớt khó khăn cho người dân, Chính phủ đã tiến hành một số
giải pháp cấp bách, tạm thời như bán gạo cho người nghèo với giá bù lỗ, khuyến
khích thành lập các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đảm bảo ngân sách cho đào tạo
không bị cắt giảm, cung ứng dịch vụ y tế miễn phí cho người nghèo ở các trung
tâm y tế nhà nước, bổ sung thức ăn cho trẻ em và phụ nữ có thai….
Bảng 5: Nợ nước ngoài, lãi suất cho vay
Nợ nước ngoài (tỷ USD) Lãi suất cho vay (%)
1996 1997 1998 1996 1997 1998
Thái Lan 89 97 15 18 11,5
Malaysia 33,9 31,0 33,2 9,2 8,4 11,05
Indonesia 115 129 140 19,2 21,8 34
Philippines 14,4 15,4 14,8 16,2 13,5
Hàn Quốc 112 137 154 8,8 9,0
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét