Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
SỰ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước đối với sự phát triển thương mại.
1.1.1. Thương mại và dịch vụ.
Thương mại theo nghĩa rộng được hiểu là toàn bộ hoạt động kinh doanh
trên thị trường; bao gồm quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích lợi
nhuận; thương mại chỉ diễn ra trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá.
Theo Các Mác, công thức của thương mại là: T-H-T’; T’=T+T.
Thông qua công thức, ta nhận thấy đặc điểm nổi bật của thương mại đó là
không tạo ra sản phẩm, tiền- hình thái độc lập của giá trị trao đổi là điểm xuất
phát, và tiền với giá trị gia tăng là điểm kết thúc.
Ở Việt Nam, tại điều 3 của Luật thương mại được quốc hội thông qua ngày
14/6/2005, quy định rằng: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương
mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” [36]. Ngày nay, Luật thương
mại quốc tế xem hoạt động đầu tư, tín dụng và chuyển giao công nghệ cũng là
hoạt động thương mại. Vì vậy, nghành thương mại bao gồm ba lĩnh vực chính:
Thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và thương mại đầu tư.
Như đã biết, nền kinh tế thế giới đang chuyển dịch theo cơ cấu: Thương
mại, dịch vụ- công nghiệp- nông nghiệp.Chính điều đó làm cho thương mại luôn
đặt ở vị trí trọng tâm đối với các nước phát triển và là sự tất yếu của tăng trưởng
và hội nhập ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng.
Dịch vụ là một khái niệm còn gây nhiều tranh cãi và chưa thống nhất.Tuy nhiên,
theo sự hiểu biết logic thì dịch vụ được định nghĩa là hàng hoá vô hình còn sản
phẩm hàng hoá là hàng hoá hữu hình. Một cách khác, dịch vụ là sản phẩm mà tại
đó hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ và tiêu dùng nó xảy ra đồng thời, không
thể dự trữ được. Hoặc theo Hill (1977), nhà kinh tế học người Anh đã định nghĩa
rằng: ”Một dịch vụ có thể được giải thích như một thay đổi điều kiện của một
người hoặc một hàng hoá của các đơn vị, cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp. Đó
là kết quả hoạt động của một đơn vị kinh tế nhưng đã có sự thoả thuận trước được
phục vụ cho người hoặc đơn vị kinh tế khác” [83].
Thương mại, dịch vụ hiện nay theo thông lệ quốc tế được hiểu là sự cung
cấp dịch vụ thông qua các phương thức khác nhau để đổi lấy tiền công cho sự
cung cấp dịch vụ đó. Trong đó, một số nghành dịch vụ công (y tế, giáo dục) phải
do nhà nước cung cấp do chứa đựng những thất bại của thị trường hay ngoại ứng
tiêu cực như ô nhiễm, dịch bệnh, hay thiếu bình đẳng. Do đó, nghành thương mại
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
luôn luôn cần sự quản lý của nhà nước, quan trọng nhất là Chính phủ, với sự phối
hợp cùng khu vực tư nhân, các tổ chức quốc tế và các đối tác khác.
Tóm lại, dịch vụ và thương mại chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu GDP
của mỗi quốc gia cũng như hoạt động thương mại quốc tế. Dịch vụ đóng vai trò là
đầu vào cho các nghành và hỗ trợ sản xuất, thương mại là dầu mỡ bôi trơn các
bánh xe vận hành trong nền kinh tế, làm tràn đầy các ống bơm, làm màu mỡ thêm
cho của cải dân tộc. “Ngoại thương là máy bơm, nội thương là ống dẫn cho nền
kinh tế”. Chính vì vậy, dịch vụ và thương mại góp phần quyết định khả năng cạnh
tranh trong tăng trưởng và phát triển kinh tế. Mặt khác, các nghành sản xuất gắn
liền với quá trình thương mại và dịch vụ nên những hạn chế của nghành dịch vụ
chắc chắn sẽ tác động tới tăng trưởng, phát triển và ổn định nền kinh tế vĩ mô.
1.1.2.Lý luận chung về quản lý Nhà nước đối với sự phát triển thương mại.
Quản lý được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng (khách
thể) quản lý nhằm đạt mục tiêu đặt ra. Quản lý hiểu theo nghĩa chung nhất là hoạt
động của con người và các tổ chức (bộ máy) quản lý để tác động lên khách thể
quản lý. Khách thể quản lý bao gồm cả con người, tổ chức, bộ máy cũng như mọi
hoạt động của chúng và các điều kiện vật chất tương ứng.
Quản lý Nhà Nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực
Nhà Nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy
trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực
hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà Nước trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc. Về mặt pháp lý, chủ thể quản lý Nhà nước là Nhà
Nước với hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước và cán bộ công chức trong
cơ quan đó.
Thực chất của quản lý kinh tế nói chung là quản lý con người, hoạt động
kinh tế thông qua con người để thực hiện mọi nhiệm vụ đặt ra cho các hệ thống
kinh tế. Hơn nữa, bản chất của quản lý Nhà nước về kinh tế là phục vụ lợi ích của
giai cấp thống trị, giai cấp nắm chính quyền (Nhà Nước). Nhà nước XHCN với
chế độ công hữu và chính quyền nắm trong tay nhân dân không có nghĩa là Nhà
Nước đó sẽ đem lại cuộc sống tươi đẹp cho mọi người bằng bất cứ cách quản lý
nào của mình. Điều đó còn phụ thuộc vào cách thức quản lý nền kinh tế như thế
nào. Nhà Nước quản lý bằng công cụ pháp luật, chi phối tất cả các đơn vị kinh tế
ràng buộc và tạo môi trường kinh doanh trên cơ sở pháp lý và trong mối quan hệ
lợi ích, hình thức quản lý chủ yếu của Nhà nước là văn bản quy phạm pháp luật.
Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự quản lý của Nhà Nước đối với toàn bộ
nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực Nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân, được
chủ yếu thực hiện thông qua cơ quan hành pháp là Chính phủ. Trong quản lý, Nhà
nước sử dụng tất cả các biện pháp có thể có để can thiệp vào nền kinh tế nhằm hạn
chế và khắc phục những khuyết tật của thị trường mà bản thân cơ chế tự điều tiết
của thị trường không khắc phục được, cũng như tạo nên sự ổn định kinh tế vĩ mô
và thúc đẩy công bằng xã hội. Thị trường không thể tự thân vận động có hiệu quả
mà nó đòi hỏi phải có khung pháp lý, quy chế và chính sách mà chỉ có Chính phủ
mới tạo ra được.Tuy nhiên, không phải Nhà nước hay thị trường có vai trò khống
chế mà là mỗi bên có vai trò, chức năng riêng. Hình thức hoạt động quản lý Nhà
nước được biểu hiện về sự hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính Nhà
nước trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình đối với
các quan hệ xã hội.
Đổi mới quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu là quá trình tác động qua
lại thường xuyên, các cơ hội khách quan và chủ quan mang lại, được điều tiết bởi
phương tiện và công cụ của Nhà Nước để đạt được các mục tiêu tăng trưởng và
phát triển. Đổi mới là một quá trình phức tạp bởi sự phối hợp của nhiều chính
sách, bởi không thể một chính sách có thể tạo nên sự phát triển. Đổi mới là một
quá trình có sự tác động qua lại giữa các yếu tố. Vấn dề cần nghiên cứu là liệu kết
hợp đan xen các chiến lước đó như thế nào để mang lại hiệu quả tốt nhất?
Việt Nam với đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN với
những đặc trưng cơ bản được xác định như sau: Mục đích của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, sử dụng cơ chế thị trường và áp dụng
các hình thức, phương pháp quản lý kinh tế thị trường để kích thích sản xuất;
Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta có nhiều hình thức sở hữư, nhiều
thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; Kinh tế thị
trường nước ta là có sự quản lý của Nhà nước XHCN, được quản lý bằng pháp
luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ quản lý khác.
Chức năng quản lý Nhà Nước về kinh tế là nội dung hoạt động của Nhà
nước trong lĩnh vực quản lý nền kinh tế, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà
Nhà nước phải thực hiện để quản lý nến kinh tế quốc dân, có nhiều cách tiếp cận
chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế như:
Cách tiếp cận theo các giai đoạn của quá trình quản lý, Nhà nước phải
thực hiện các chức năng sau: Chức năng định hướng nền kinh tế; Chức năng tổ
chức các hệ thống kinh tế hoạt động; Chức năng điều hành nền kinh tế; Chức năng
kiểm tra; Chức năng điều chỉnh nền kinh tế.
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo cách tiếp cận theo phương hướng tác động, chức năng quản lý Nhà
nước về kinh tế bao gồm: Tạo môi trường và các điều kiện cho sản xuất kinh
doanh; Dẫn dắt và hỗ trợ sự phát triển; Đảm bảo sự thống nhất giữa phát triển kinh
tế và phát triển xã hội; Quản lý các doanh nghiệp Nhà nước.
Đối tượng của quản lý Nhà nước về kinh tế là các quan hệ giữa một cơ
quan có quyền lực chính trị với những tập thể đại diện cho quyền sử dụng những
tài sản thuộc sở hữu toàn dân được giao phó (đất đai, biển, hầm mỏ, nhà máy…),
Nhà nước là người quản lý tài sản mang tính toàn dân và đem giao cho các doanh
nghiệp sử dụng. Cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế tiến hành các hoạt động tổ
chức trong phạm vi toàn bộ bộ máy quản lý với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Thiết lập các hệ thống quản lý các cấp và hệ thống các tổ chức kinh tế, điều hoà
bằng các biện pháp kinh tế - hành chính. Nhà nước phải thực hiện tốt công tác
kiểm tra kiểm soát đối với mọi hoạt động trong nền kinh tế quốc dân trên cơ sở
đảm bảo cho các dơn vị kinh doanh thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ được luật
pháp quy định.Vai trò của quản lý Nhà nước là hướng dẫn, trọng tài, kích thích,
phục vụ, kiểm tra…
Mục tiêu của quản lý kinh tế nhằm quản lý, phân phối và sử dụng một cách
có hiệu quả các nguồn lực sản xuất, kinh doanh, đảm bảo tăng trưởng một cách ổn
định bền vững; Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và công bằng
xã hội; Phát huy lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế; Giữ cho môi trường
sinh thái trong sạch.
Trong quản lý Nhà nước về kinh tế, Nhà nước sử dụng hệ thống các công
cụ cần thiết để thực hiện chức năng quản lý của mình như: công cụ định hướng (kế
hoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế…), công cụ kinh tế, tài chính tiền
tệ (chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư), công cụ pháp lý (hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản pháp quy ), công cụ tổ chức
Quản lý Nhà nước về thương mại là sự quản lý của Nhà nước đối với các
hoạt động thương mại trong nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực Nhà nước, thông
qua các thể chế pháp lý phù hợp nhằm đảm bảo cho sự phát triển thương mại trong
nền kinh tế quốc dân. Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, quản lý Nhà nước
về thương mại tập trung vào các nội dung chính sau: quản lý xuất nhập khẩu, phát
triển thương mại nội địa, giữ vững sự ổn định của thị trường hang hoá và dịch vụ,
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quản lý và phát triển thương mại điện tử, quản
lý thị trường, quản lý cạnh tranh, chống độc quyền và chống bán phá giá, công tác
xúc tiến thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế. Sự quản lý Nhà nước đối với
thương mại ở nước ta thể hiện bằng các công cụ như hệ thống luật pháp, chính
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sách, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển thương mại.
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại, chức năng và nhiệm
vụ sẽ quy định tại cơ cấu tổ chức của cơ quan đó. Tại điều 87, Luật tổ chức Hội
đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn
của UBND cấp tỉnh trong quản lý Nhà nước về thương mại như sau:
+.Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới thương mại, dịch vụ, du
lịch; hướng dẫn, sắp xếp mạng lưới thương mại, dịch vụ, du lịch trên địa bàn.
+.Tham gia hợp tác quốc tế về thương mại, dịch vụ, du lịch theo quy định
của pháp luật.
+.Cấp, thu hồi giấy phép kinh doanh du lịch, khu du lịch, điểm du lịch,
khách sạn, lữ hành nội địa theo quy định của pháp luật.
+.Tổ chức quản lý xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật; Chỉ
đạo công tác quản lý thị trường; Quy định các quy tắc về vệ sinh và an toàn trong
hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch;
+.Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật về
hoạt động thương mại, du lịch và dịch vụ.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì đổi mới quản lý Nhà nước có
vai trò hết sức quan trọng, và vai trò của quản lý Nhà nước về thương mại lại càng
rõ ràng hơn. Chính vì thế, đổi mới quản lý Nhà nước đối với sự phát triển thương
mại là một vấn đề cần phải được tìm hiểu thấu đáo và toàn diện cả về lý luận lẫn
thực tiễn. Tuy nhiên vai trò của Nhà nước lại phụ thuộc chính vào khả năng tạo ra
những quyết định hữu hiệu, vào năng lực quản lý hành chính và mặt bằng phát
triển của nền kinh tế. Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới, đòi hỏi Chính phủ cũng như các cấp các ngành luôn vươn tới các đối tác và
chuẩn mực quốc tế, đó là cách chuẩn nhất để quản lý những biến đổi của ngành
thương mại. Chính sách thương mại có vai trò rất lớn trong việc khai thác triệt để
các lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước, phát triển những ngành sản xuất
dịch vụ tối ưu, nên chính sách thương mại có vai trò quan trọng trong hệ thống
các chính sách của Nhà nước.
Chính sách thương mại là một hệ thống các quy định, công cụ và biện pháp
thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại trong và
ngoài nước ở những thời kỳ nhất định nhằm đạt mục tiêu đã đề ra trong chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội. Chính sách thương mại quy định các vấn đề: Thương
nhân và hoạt động của chính sách phát triển thương mại trong nước và quốc tế,
chức trách của các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại, tổ chức
lưu thông hàng hoá, phát triển thương mại các vùng khó khăn, chính sách thuế
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quan và bảo hộ, chính sách phi thuế quan, trách nhiệm và quyền hạn của thương
nhân khi kinh doanh trong nước hay với nước ngoài, hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực thương mại.
Quá trình đổi mới nền kinh tế và đổi mới quản lý Nhà nước về kinh tế ở
nước ta diễn ra được 20 năm. Tuy nhiên, cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước về
kinh tế vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, đổi mới quản lý Nhà nước cần xuất
phát từ chính thực tiễn phát triển của Việt Nam chứ không thể là hình mẫu sao
chép từ nước ngoài, được kiểm nghiệm qua thực tiễn cũng như đón bắt được xu
thế phát triển của đất nước trong quá trình hội nhập. Việt Nam đã trải qua một thời
gian dài hoạt động trong nền kinh tế kế hoạch hoá nên quản lý Nhà nước vẫn chịu
ảnh hưởng nhiều bởi cơ chế quan liêu, bao cấp nên đổi mới tư duy quản lý Nhà
nước về kinh tế cần phải có một quá trình thay đổi cả về nhận thức lẫn hành động,
được kiểm nghiệm, đúc kết từ thực tiễn. Hơn nữa, lý luận quản lý Nhà nước về
kinh tế là sự kết hợp của nhiều ngành khoa học và phụ thuộc vào nhiều nhân tố
như mặt bằng phát triển kinh tế, xuất phát điểm của nền kinh tế, những tác động từ
bên ngoài như cách mạng khoa học công nghệ, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế. Đổi mới quản lý Nhà nước đối với sự phát triển thương mại của
Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng trong giai đoạn tới cần tập trung vào
các nội dung chính như sau: Xây dựng và hoàn thiện thể chế thị trường, đổi mới
công tác tổ chức bộ máy và công tác cán bộ, cải cách thủ tục hành chính.
1.2. Những nhân tố tác động tới quản lý Nhà Nước về thương mại trong giai
đoạn mới.
1.2.1. Quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang
kinh tế thị trường.
Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường có nhiều khác biệt so với
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải
có năng lực đủ mạnh để can thiệp và điều tiết nền kinh tế hoạt động theo cơ chế
thị trường, điều đó sẽ dẫn đến quản lý Nhà nước về kinh tế sẽ phải có chuyển biến
mang tính căn bản.
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường tại Việt Nam là cơ sở cho
các thay đổi quan trọng trong các nguyên tắc quản lý. Đó là việc đổi mới doanh
nghiệp Nhà Nước đang diễn ra trong những năm vừa qua, giảm thiểu các thủ tục
hành chính. Muốn quản lý doanh nghiệp tốt thì nhất thiết quản lý hành chính phải
tốt nhưng đồng thời để quản lý hành chính được tốt thì quản lý doanh nghiệp cũng
phải hiệu quả.
Tư duy quản lý kinh tế trước năm 1986 là tư duy bao cấp trong một nền
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tư duy này biểu hiện ở cơ chế hành chính - mệnh
lệnh và cơ chế “xin – cho”. Do vậy, quá trình đổi mới nền kinh tế sang kinh tế thị
trường định hướng XHCN nhiều nhận thức về phát triển kinh tế không còn phù
hợp với thời kỳ mới. Để đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, trong
qua trình đổi mới nhất quyết phải đổi mới tư duy, trong đó đặc biệt là tư duy kinh
tế phải phù hợp với quy luật thị trường.
Nhà Nước không thể thay thế được vai trò của thị trường và các doanh
nghiệp. Tuy nhiên, trên nhiều phương diện, sự quản lý của Nhà Nước là không thể
thiếu cho sự vận hành có hiệu quả của nền kinh tế thị trường. Để hoạt động có
hiệu quả, cần có một Nhà Nước với năng lực đủ mạnh để đảm bảo sự tuân thủ các
nguyên tắc cạnh tranh, tuân thủ luật chơi của thị trường. Nếu thiếu các điều kiện
này thì quy luật cung cầu thị trường sẽ không đảm bảo được tính công khai, minh
bạch và không có sự phối hợp thông tin cần thiết.
Một chiến lược tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải có sự hợp tác có hiệu quả
giữa Nhà Nước với thị trường ( Stern và Stiglitz, 1997) cũng như xây dựng định
chế ( là các quy tắc, chuẩn mực và tổ chức phối hợp hành vi con người). Tuy
nhiên, sẽ là rất khó xác định Nhà Nước can thiệp đến mức nào là hợp lý.
Mục tiêu phát triển nền kinh tế Việt Nam định hướng XHCN là định hướng
cho sự phát triển của lâu dài của nền kinh tế, trong từng giai đoạn thì thể chế kinh
tế thị trường luôn có những thay đổi. Nhà Nước, doanh nghiệp, thị trường có vai
trò như thế nào trong quá trình phát triển không phải là mục tiêu bất biến mà
thường xuyên thay đổi, phụ thuộc vào từng giai đoạn của quá trình phát triển nền
kinh tế.
1.2.2. Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Khoa học công nghệ đã có những bước tiến thần kỳ đưa con người bước
vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức. Đối với Việt Nam, tăng
trưởng và phát triển kinh tế có sự đóng góp rất lớn của khoa học công nghệ, cụ thể
là sự lan truyền của công nghệ bằng việc thu hút đầu tư nước ngoài là hiển nhiên.
Tuy nhiên, điều kiện quan trọng để có thể tận dụng được những lợi ích do công
nghệ mang lại, biết sử dụng chúng có tốt không. Không có sự cải thiện công nghệ,
một quốc gia khó có thể duy trì tốc độ đâùu tư cao trong một thời gian dài.
Với sự trợ giúp của công nghệ thông tin và truyền thông, thương mại điện
tử đã làm tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Thương mại điện tử cho
phép các công ty cung cấp dễ dàng cho khách hàng sự hiện diện toàn cầu và có xu
thế tạo lợi nhuận cho các công ty lớn và nhỏ. Vì sân chơi bình đẳng nên thông qua
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các website của mình, các công ty lớn và nhỏ đều có thể đạt được một mức doanh
thu như năng lực, điều này là không tưởng ở các thị trường thương mại truyền
thống. Công nghệ thông tin cũng cho phép Chính Phủ có thể thông qua Internet để
cung cấp các dịch vụ công cho các tổ chức, doanh nghiệp, người dân với sự minh
bạch, thuận tiện, và nhanh chóng.
Dưới tác động của tiến bộ khoa học công nghệ và công nghệ thông tin, khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành/quốc gia không còn chỉ dựa vào tài
nguyên thiên nhiên và chi phí lao động mà còn cạnh tranh bằng hàm lượng tri thức
và chất xám. Theo Michel Porter cho rằng: sự gia tăng mức sống và sự thịnh
vượng của quốc gia phụ thuộc chủ yếu và khả năng đổi mới, khả năng tiếp cận
nguồn vốn và hiệu ứng lan truyền công nghệ của nền kinh tế cũng như đề cao vai
trò của các doanh nghiệp đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của các ngành
và rộng hơn là năng lực cạnh tranh quốc gia.Tổng quát hơn, năng lực cạnh tranh
một quốc gia phụ thuộc khả năng cạnh tranh của ngành trong nền kinh tế.
Khoa học công nghệ đã giúp các quốc gia, các doanh nghiệp chuyển từ
cạnh tranh về chi phí nhân công thấp và tài nguyên thiên nhiên sang cạnh tranh về
lợi thế so sánh của hàng hoá dịch vụ dựa trên giá trị tri thức có giá trị gia tăng cao.
Trong thời gian vừa qua, mặc dù đã có nhiều nỗ lực từ phía quản lý Nhà
Nước cũng như cộng đồng doanh nghiệp nhưng thương mại điện tử Việt Nam
cũng như Hà Nội chưa có sự khởi sắc xứng đáng bởi rất nhiều nguyên nhân. Xét
một cách tổng thể trong nền kinh tế thì lợi ích do thương mại điện tử mang lại đó
là năng suất và tăng trưởng kinh tế do sự lan truyền của công nghệ mang lại. Tuy
nhiên, trong quá trình ứng dụngvà phát triển vẫn có một số thách thức cần đối mặt
đó là:
+. Vấn đề bảo mật các thông tin khách hàng trên mạng internet khiến không
ít người cảm thấy lo ngại khi tham gia vào thương mại điện tử, nhất là việc bảo
mật thông tin cá nhân.
+. Việt Nam vẫn quen với tập quán kinh doanh và hành vi tiêu dùng cũ,
chưa quen mua hàng hoá trên mạng và các doanh nghiệp cũng chưa tạo được sự
tin tưởng khi bán hàng trên mạng.
+. Rào cản ngôn ngữ là một thách thức không nhỏ đối với sự phát triển của
thương mại điện tử, nhiều trang web thương mại sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ
chính, việc sử dụng tiếng Anh để giao dịch trên mạng không phải là lợi thế của
Việt Nam.
1.2.3 Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình lịch sử mang tính
tất yếu, dùng để chỉ sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa các nền kinh tế thế giới,
đặc biệt là các luồng trao đổi thương mại và tài chính hoặc sự di chuyển lao động,
công nghệ từ nước này sang nước khác. Không ai phủ nhận rằng toàn cầu hoá đã
mang lại rất nhiều cơ hội cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Tuy nhiên,
cũng có một thực tế một số nước nghèo lại trở nên nghèo hơn.
Chính vì thế có rất nhiều phân tích và tranh luận về tác động của toàn cầu
hoá đến nền kinh tế các quốc gia, theo Stiglitz (2003) là vì bản chất “không đối
xứng” của các thoả thuận thương mại trong quá trình toàn cầu hoá nên các nước
nghèo thường bị thua thiệt khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Theo Micheal
Todaro trong cuốn “Kinh tế học cho thế giới thứ ba” đã viết “số thu nhập chính
của mậu dịch trên thế giới được phân chia nhiều hơn cho những nước giàu,và bản
thân các nước nghèo thì phân chia nhiều hơn cho những người nước ngoài và
người bản xứ giàu” [47]. Trong quá trình hội nhập kinh tế, Việt Nam là một nước
đi sau nên phải đương đầu với nhiều thách thức và các cam kết mà các nước đi
trước đã đưa ra.
Hội nhập kinh tế quốc tế có tính cưỡng bức và không thể đảo ngược, một
quốc gia không thể tăng trưởng và phát triển nhanh nếu không tham gia vào
thương mại quốc tế. Chính vì vậy cần phải xây dựng chiến lược và chính sách cụ
thể, đón bắt cơ hội của quá trình hội nhập và phòng ngừa những nguy cơ có thể
gặp phải. Trong quá trình toàn cầu hoá các nước sẽ phải đối mặt với những lựa
chọn mang tính chiến lược như phải sử dụng công cụ nào nhằm mang tính bảo hộ
và làm giảm thiểu các tác động đến nền kinh tế trong nước hoặc mở cửa nền kinh
tế với sự tham gia rộng lớn của hệ thống quốc tế mang lại tính cạnh tranh cao đồng
thời đầu tư nước ngoài cũng tăng cao. Sự lựa chọn này đang là trọng tâm tranh cãi
trong chiến lược tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam.
Việt Nam một mặt phải tham gia một loạt tổ chức thương mại quốc tế, đặc
biệt đã trở thành thành viên chính thức của WTO, sẽ phải chấp nhận cuộc chơi
mang tính toàn cầu, sẽ phải mở cửa thị trường dịch vụ, phải dỡ bỏ một loạt rào cản
thương mại theo cam kết song phương và đa phương. Đồng thời các doanh nghiệp
Việt Nam dần dần phải chấp nhận cạnh tranh không cân sức với các doanh nghiệp
trên thế giới. Việc một nước đang phát triển phải mở cửa thị trường cho hàng hoá
nhập khẩu cạnh tranh với các sản phẩm nội địa trong những ngành công nghiệp
còn yếu có thể gây nên sự tổn thương và hậu quả nghiêm trọng đối với nên kinh tế
xã hội. Do đó, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước và hoạch định chính sách cần
được các nhà lãnh đạo từ trung ương đến dịa phương nhận thức rõ, nếu làm tốt
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
công tác này thì hội nhập kinh tế quốc tế là một cơ hội cho Việt Nam đi tắt đón
đầu trong tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Quá trình toàn cần hoá diễn ra mạnh mẽ trên trên thế giới, các nền kinh tế
bắt buộc phải mở cửa hội nhập, và phải năng động hơn, cạnh tranh quyết liệt hơn
và cũng phải đối mặnt với nhiều rủi ro và khủng hoảng của thị trường. Thị trường
hàng hoá và dịch vụ đã mang tính toàn cầu, cùng với sự phát triển như vũ bão của
công nghệ thông tin và điện tử đã xoá nhoà khoảng cách không gian, thời gian và
biên giới quốc gia; những rào cản thương mại truyền thống đã nhường chỗ cho
mậu dịch tự do. Sự ra đời và lớn mạnh của các tập đoàn xuyên quốc gia và các
công ty đa quốc gia là minh chứng hùng hồn cho xu thế đó. Trong bối cảnh như
vậy, vai trò quản lý truyền thống của Nhà nước đã dần dần mất đi nhường chỗ cho
sự đổi mới và nâng cao năng lực mới nhằm đáp ứng tính quốc tế hoá trong mọi
lĩnh vực của kinh tế xã hội. Trước hết, Nhà nước cần làm tốt hai chức năng cơ bản
là quản lý, điều tiết thị trường và thúc đẩy, tăng cường khả năng cạnh tranh của
nền kinh tế quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Thực tiễn tại các
nước đã chứng minh rằng các nước trong quá trình chuyển đổi kinh tế, Chính phủ
có vai trò đặc biệt quan trọng; Vai trò của Nhà nước không chỉ là hoạch định chính
sách, xây dựng cơ chế pháp luật mà còn là trong sự đổi mới của các doanh nghiệp
Nhà nước cho phù hợp với tình hình mới (như cổ phần hoá,bán khoán, cho thuê,
giải thể doanh nghiệp Nhà nước…). Thêm vào đó,các cơ quan quản lý Nhà nước
còn có vai trò quan trọng trong việc định hướng cho các thành phần kinh tế phát
triển theo đúng mục tiêu đã đặt ra, mặt khác cũng phải dự báo và cảnh báo những
nguy cơ trong quá trình hội nhập đảm bảo lợi ích về phát triển bền vững nhưng
vẫn giữ được ổn định về chính trị, an ninh và trật tự xã hội.
1.3 Sự cần thiết đổi mới quản lý Nhà nước về thương mại
1.3.1 Vai trò của ngành thương mại đối với sụ phát triển kinh tế
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, chính sách thương mại luôn là trọng
tâm đối với việc hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế đối với mỗi quốc gia.
Theo Krueger (1996), để phân biệt một cách rạch ròi về vai trò của thương mại là
động lực của sự phát triển hay chỉ là sự trợ giúp cho sự phát triển kinh tế thì vẫn
còn nhiều tranh cãi, nhưng chắc chắn có mối liên hệ giữa thương mại và tăng
trưởng kinh tế. Sachs và Warner (1995) cũng đã chỉ ra sự tương quan dương giữa
thương mại và tăng trưởng kinh tế. Nhiều nhà kinh tế chứng minh rằng mối tương
quan giữa mở cửa và tăng trưởng kinh tế được giải thích bởi hai nhân tố: đó là vai
trò độc quyền của Nhà nước trong xuất nhập khẩu và lỗ hổng trong thị trường tín
dụng đen. Mở cửa là điều kiện cần nhưng chưa chắc là động lực cho tăng trưởng
12
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét