Tác dụng đó đợc thể hiện:
- Ngời tham gia bảo hiểm (cá nhân hay tổ chức) đợc trợ cấp, bồi thờng
những thiệt hại thực tế do rủi ro, bất ngờ gây ra thuộc phạm vi bảo hiểm. Nhờ
đó họ nhanh chóng ổn định kinh tế, khôi phục đời sống và sản xuất kinh
doanh
- Nhờ có bảo hiểm những ngời tham gia đóng góp một số phí tạo thành
nguồn quỹ bảo hiểm lớn ngoài chi trả hay bồi thờng còn là nguồn vốn để đầu t
phát triển kinh tế
- Bảo hiểm, nhất là bảo hiểm thơng mại còn đóng góp tích luỹ cho ngân
sách
- Bảo hiểm cùng với ngời tham gia bảo hiểm thực hiện các biện pháp để
phòng ngừa tai nạn xảy ra nhằm giảm bớt và hạn chế hậu quả thiệt hại.
- Bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi ngời, mọi tổ chức; giúp họ yên
tâm trong cuộc sống, trong sinh hoạt sản xuất kinh doanh; bảo hiểm thể hiện
tính cộng đồng, tơng trợ, nhân văn sâu sắc.
- Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các n-
ớc, nhất là thông qua hoạt động tái bảo hiểm v.v
- Cuối cùng, hoạt động bảo hiểm thu hút một số lao động nhất định, góp
phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội (theo thống kê, bảo hiểm các n-
ớc thu hút 1% lực lợng lao động xã hội).
2. Các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ
Để không ngừng phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất n-
ớc, bảo hiểm phi nhân thọ đã luôn chú trọng phát triển các nghiệp vụ nhằm đa
dạng hoá sản phẩm Bảo hiểm, đáp ứng đợc nhu cầu da dạng và phong phú của
con ngời. Hiện nay nếu căn cứ vào đối tợng bảo hiểm phi nhân thọ đợc chia làm
3 loại:
- Bảo hiểm tài sản
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự
- Bảo hiểm con ngời phi nhân thọ.
2.1. Bảo hiểm tài sản
5
Đây là loại bảo hiểm mà đối tợng bảo hiểm là tài sản (cố định hay lu
động) của ngời đợc bảo hiểm. Ví dụ nh: Bảo hiểm cho thiệt hại vật chất xe cơ
giới, bảo hiểm cho hàng hoá của các chủ hàng trong bảo hiểm hàng hoá xuất
nhập khẩu, bảo hiểm tài sản của ông chủ nhà trong bảo hiểm trộm cắp.
Các bảo hiểm về tài sản đều có một số đặc điểm chung sau:
a) áp dụng nguyên tắc bồi thờng khi thanh toán chi trả bảo hiểm. Số tiền
bồi thờng mà bên đợc bảo hiểm nhận đợc trong mọi trờng hợp không đợc vợt
quá thiệt hại thực tế trong sự cố bảo hiểm. Ví dụ, một chủ xe máy tham gia bảo
hiểm cho toàn bộ chiếc xe của mình trị giá 20 triệu đồng. Trong một vụ tai nạn,
xe bị h hỏng giá trị thiệt hại là 8 triệu đồng, số tiền bồi thờng mà chủ xe nhận đ-
ợc trong bất kỳ trờng hợp nào cũng chỉ là 8 triệu đồng.
b) áp dụng nguyên tắc thế quyền hợp pháp khi xuất hiện ngời thứ ba có
lỗi và do đó có trách nhiệm đối với thiệt hại của ngời đợc bảo hiểm. Theo
nguyên tắc này, sau khi trả tiền bồi thờng, ngời bảo hiểm sẽ đợc hởng các
quyền và hành động của ngời bảo hiểm để thực hiện việc truy đòi trách nhiệm
của ngời thứ ba có lỗi. Nguyên tắc thế quyền hợp pháp nhằm đảm bảo quyền lợi
của ngời bảo hiểm, chống lại hành vi rũ bỏ trách nhiệm của ngời thứ ba có lỗi,
đồng thời đảm bảo cả nguyên tắc bồi thờng.
Lấy lại ví dụ trên, trong vụ tai nạn lỗi một phần là của xe ô tô đi ngợc
chiều (70%). Lúc này, thiệt hại 8 triệu đồng của chủ xe máy sẽ đợc truy cứu
rách nhiệm 5,6 triệu đồng của ông chủ xe ô tô (70% x 8 tr.đ = 5,6 triệu đồng).
Sau khi bồi thờng 8 triệu đồng theo hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cho chủ xe
máy, công ty bảo hiểm đợc thay quyền của chủ xe máy này truy đòi trách
nhiệm 5,6 triệu đồng đối với chủ xe ô tô. Nguyên tắc thế quyền đợc áp dụng, và
ngời đợc bảo hiểm trong ví dụ này (chủ xe máy) cũng không thể nhận số tiền
bồi thờng vợt quá 8 triệu đồng thiệt hại, nh vậy nguyên tắc bồi thờng đợc đảm
bảo.
Tuy nhiên, có một số ngoại lệ khi áp dụng nguyên tắc thế quyền hợp
pháp, đó là khi ngời thứ ba gây lỗi là trẻ em, hoặc là con cái, vợ chồng, cha
mẹ của ng ời đợc bảo hiểm.
6
c) Bảo hiểm trùng: Trong bảo hiểm tài sản, nếu một đối tợng bảo hiểm
đồng thời đợc bảo đảm bằng nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cùng một rủi ro với
những ngời bảo hiểm khác nhau, những hợp đồng bảo hiểm này có điều kiện
bảo hiểm giống nhau, thời hạn bảo hiểm trùng nhau, và tổng số tiền bảo hiểm từ
tất cả những hợp đồng này lớn hơn giá trị bảo hiểm của đối tợng bảo hiểm đó
thì gọi là bảo hiểm trung.
Trong trờng hợp có bảo hiểm trung, tuỳ thuộc vào nguyên nhân xảy ra để
giải quyết. Thông thờng, bảo hiểm trung liên quan đến sự gian lận của bên tham
gia bảo hiểm nhằm trục lợi bảo hiểm. Do đó, về nguyên tắc chung, công ty bảo
hiểm có thể huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm nếu phát hiện thấy gian lận. Ngợc lại,
nếu các công ty bảo hiểm chấp nhận bồi thờng thì lúc này, trách nhiệm của mỗi
công ty đối với tổn thất sẽ đợc phân chia theo tỷ lệ trách nhiệm mà họ đảm
nhận. Cụ thể:
= x
Trên thực tế, một trong số các công ty bảo hiểm đã cấp hợp đồng cho đối
tợng đợc bảo hiểm trùng này có thể sẽ đứng ra bồi thờng theo số thiệt hại thực
tế, sau đó sẽ đòi lại các công ty khác phần trách nhiệm của họ.
d) Một số chế độ bồi thờng bảo hiểm áp dụng trong bảo hiểm tài sản
- Chế độ bảo hiểm theo nguyên tắc trách nhiệm vợt giới hạn (theo mức
miễn thờng):
Ngời bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm đối với những tổn thất mà giá trị
thiệt hại thực tế vợt quá một mức đã thoả thuận (mức miễn thờng). Miễn thờng
là một hình thức từ chối bồi thờng của công ty bảo hiểm dựa trên một số tiền
quy định. Có hai loại miễn thờng: Miễn thờng có khấu trừ và miễn thờng không
khấu trừ.
Trong chế độ bảo hiểm miễn thờng có khấu trừ tổn thất đợc bồi thờng
phải đảm bảo yêu cầu lớn hơn mức miễn thờng quy định nhng khi bồi thờng sẽ
bị trừ đi mức miễn giảm này.
= -
7
Chế độ bảo hiểm miễn thờng không khấu trừ bảo đảm chi trả cho những
tổn thất vợt quá mức miễn thờng nhng số tiền bồi thờng không bị khấu trừ theo
mức miễn thờng:
=
Chế độ miễn thờng đợc áp dụng nhằm loại trừ các hao hụt tự nhiên thơng
mại thờng phát sinh trong quá trình chuyên chở đối với một số loại hàng hoá
đặc biệt ra khỏi trách nhiệm của ngời bảo hiểm. Tránh cho ngời bảo hiểm phải
bồi thờng những tổn thất quá nhỏ so với giá trị bảo hiểm đồng thời dành một tỷ
lệ không bồi thờng để bên đợc bảo hiểm cùng chịu trách nhiệm và có ý thức
hơn trong đề phòng hạn chế rủi ro.
- Chế độ bảo hiểm theo tỷ lệ
Có hai loại bảo hiểm đợc áp dụng: Tỷ lệ số tiền bảo hiểm/giá trị bảo hiểm
(STBH/GTBH) và tỷ lệ số phí đã nộp. Tỷ lệ STBH/STBH đợc áp dụng trong các
trờng hợp bảo hiểm dới giá trị:
= x
Còn trong trờng hợp có sự khai báo có sự khai báo không chính xác rủi
ro, bên bảo hiểm thờng áp dụng tỷ lệ thứ hai để thanh toán nếu chấp nhận bồi
thờng:
= x
- chế độ bảo hiểm theo rủi ro đầu tiên:
Số tiền bồi thờng bảo hiểm đợc trả sẽ dựa vào số tiền bảo hiểm đợc thoả
thuận , tức là:
số tiền bồi thờng số tiền bảo hiểm
2.2. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Bên cạnh các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản còn có các nghiệp vụ bảo hiểm
trách nhiệm dân sự nh : bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới ,bảo hiểm TNDS
của chủ lao động , Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm , bảo hiểm trách nhiệm công
cộng, Theo luật dân sự , trách nhiệm dân sự của một chủ thể ( nh chủ tài sản,
chủ doanh nghiệp, chủ nghề nghiệp ) đ ợc hiểu là trách nhiệm phải bồi thờng
các thiệt hại về tài sản, về con ngời gây ra cho ng ời khác do lỗi của ngời chủ
8
đó. Trách nhiệm dân sự bao gồm trach nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách
nhiệm dân sự ngoài hợp đồng. Thông thờng các dịch vụ bảo hiểm cung cấp sự
bảo đảm cho các trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
Vì đối tợng đợc bảo hiểm là phần trách nhiệm dân sự phát sinh của ngời
đợc bảo hiểm đối với ngời bị thiệt hại (một ngời thứ ba khác) nên trong loại bảo
hiểm này ngời đợc bảo hiểm là ngời có trách nhiệm dân sự cần đợc bảo đảm và
cũng thờng là ngời tham gia bảo hiểm. Còn ngời thụ hởng quyền lợi bảo hiểm
lại là những ngời thứ ba khác. Ngời thứ ba trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự là
những ngời có tính mạng, tài sản bị thiệt hại trong sự cố bảo hiểm và đợc quyền
nhận bồi thờng từ ngời bảo hiểm với t cách là ngời thụ hởng. Ngời thứ ba có
quan hệ về mặt trách nhiệm dân sự với ngời đợc bảo hiểm nhng chỉ có mối quan
hệ gián tiếp với ngời bảo hiểm.
Cần chú ý trong một số nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự, ngời thụ
hởng có thể xác định cụ thể hơn tên gọi của nghiệp vụ. Ví dụ, đó là ngời lao
động gặp tai nạn lao động trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ lao dộng đối
với ngời lao động.
Mặc dù, đối tợng đợc bảo hiểm của loại bảo hiểm này là một khái niệm
trừu trợng khi hợp đồng đợc ký kết. Tuy vậy, trách nhiệm bồi thờng của bảo
hiểm vẫn căn cứ vào các thiệt hại thực tế xảy ra cho ngời thứ ba. Vì vậy, bảo
hiểm trách nhiệm dân sự cũng đợc coi là bảo hiểm thiệt hại nh bảo hiểm tài sản
và cũng áp dụng một số nguyên tắc nh: nguyên tắc bồi thờng, nguyên tắc thế
quyền hợp pháp.
2.3. Bảo hiểm con ngời phi nhân thọ
Mặc dù cũng là loại hình bảo hiểm con ngời, nhng bảo hiểm con ngời phi
nhân thọ trong BHTM có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Hậu quả của những rủi ro mang tính chất thiệt hại vì rủi ro bảo hiểm
ở đây là tai nạn, bệnh tật, ốm đau thai sản liên quan đến thân thể và
sức khoẻ của con ngời. Những rủi ro ở đây khác với 2 sự kiện
sống và chết trong bảo hiểm nhân thọ và vì thế tính chất rủi ro
đợc bộc lộ khá rõ còn tính chất tiết kiệm không đợc thể hiện.
9
- Ngời đợc bảo hiểm thờng đợc quy địn trong một khoảng tuổi nào
đó, các công ty bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm cho những có
độ tuổi quá thấp hoặc quá cao tình trạng rủi ro diễn biến phức tạp,
xác suất rủi ro cao, việc kiểm soát và quản lý rủi ro rất khó thực
hiện. Chẳng hạn ở nớc ta, các công ty bảo hiểm không chấp nhận
bảo hiểm cho những em bé dới 12 tháng tuổi và những ngời trên 65
tuổi. Nhng ở nớc Anh lại quy định khác, những đứa trẻ dới 3 tuổi và
những ngời trên 65 tuổi không đợc các công ty bảo hiểm chấp nhận
bảo hiểm.
- So với bảo hiểm nhân thọ, thời hạn bảo hiểm con ngời phi nhân thọ
ngắn hơn và thờng là 1 năm nh: Bảo hiểm tai nạn 24/24, bảo hiểm
trợ cấp nằm viện phẫu thuật Thậm chí có nghiệp vụ, thời hạn bảo
hiểm chỉ trong vòng vài ngày, phí bảo hiểm thờng đợc nộp 1 lần khi
ký kết hợp đồng bảo hiểm.
- Các nghiệp vụ bảo hiểm con ngời phi nhân thọ thờng đợc triển khai
kết hợp với các nghiệp vụ bảo hiểm khác trong cùng một hợp đồng
bảo hiểm. Chẳng hạn: bảo hiểm tai nạn đợc lồng ghép trong bảo
hiểm nhân thọ hỗn hợp, bảo hiểm tai nạn lái phụ xe đợc triển khai
kết hợp với bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm vật chất thân
xe trong trờng hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới v.v Việc triển khai
kết hợp náy sẽ làm cho chi phí khai thác, chi phí quản lý của công
ty bảo hiểm giảm đi từ đó có điều kiện giảm phí bảo hiểm.
- ở hầu hết các nớc trên thế giới, trong giai đoạn đầu của sự phát triển
ngành bảo hiểm con ngời phi nhân thọ đợc triển khai, vừa rút kinh
nghiệm, đến khi điều kiện kinh tế - xã hội đã chín muồi mới tổ chức
triển khai bảo hiểm nhân thọ. Chính vì vậy, bảo hiểm con ngời phi
nhân thọ đợc coi là loại hình bảo hiểm bổ sung hữu hiệu nhất cho
các loại hình BHXH, BHYT. ở Việt Nam, hầu hết các nghiệp vụ
bảo hiểm con ngời phi nhân thọ đều ra đời trong những năm cuối
10
thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90,mãi đến năm 1996 mới tổ chức triển
khai bảo hiểm nhân thọ.
2.3.1. Các nghiệp vụ bảo hiểm con ngời phi nhân thọ
Bảo hiểm con ngời phi nhân thọ đợc triển khai rất đa dạng và linh hoạt tùy
theo tình hình cụ thể ở từng nớc và ngay trong phạm vi một nớc, cũng có sự
khác nhau giữa các thời kỳ, giữa các công ty bảo hiểm về một số nội dung cơ
bản nh: phạm vi bảo hiểm, phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm, thủ tục trả tiền
bảo hiểm v.v Điều này cũng thật dễ hiểu vì BHTM là hoạt động mang tính
kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên trong quá trình ký kết hợp đồng
hoặc triển khai một sản phẩm mới đều phải tuân thủ khung pháp lý của mỗi n-
ớc. Vì thế nội dung của phần này chỉ xin đợc đề cập đến một số nghiệp vụ chủ
yếu mang tính phổ biến.
2.3.2 Bảo hiểm tai nạn con ngời 24/24.
Bảo hiểm tai nạn cong ngời 24/24 là một nghiệp vụ của BHTM mà ở đây,
nhà bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm cho ngời đợc bảo hiểm (hay ngời đợc
hởng quyền lợi bảo hiểm) khi ngời đợc bảo hiểm bị tai nạn thuộc phạm vị bảo
hiểm đổi lại ngời đợc bảo hiểm (hay ngời tham gia bảo hiểm) phải nộp phí bảo
hiểm khi họ ký kết hợp đồng.
2.3.3. Bảo hiểm tai nạn hành khách
Đã trở thành quy luật , khi nền kinh tế - xã hội ngay càng phát triển, nhu
cầu đi lại của nhân dân ngày càng tăng và lu lợng hành khách tham gai giao
thông ngày càng lớn. Kéo theo đó là số lợng các loại phơng tiện tham gia giao
thông cũng ngày càng gia tăng và hết sức đa dạng, phong phú. Mặc dù các loại
phơng tiện tham gia giao thông ngày càng đợc cải tiến và hiện đại, cơ sở hạ tầng
giao thông ngày càng đợc mở rộng, nâng cấp và hoàn thiện, song tai nạn giao
thông vẫn ngày một gia tăng đã làm ảnh hởng trực tiếp đến tính mạng và tình
trạng sức khoẻ của mọi hành khách. Theo số liệu thống kê trên thế giới, hàng
năm có hơn 70% lợng hành khách tham gia giao thông đều là những ngời chủ
chốt trong trong gia đình, cơ quan và doanh nghiệp, mỗi khi tai nạn giao thông
không may đối với họ đã làm ảnh hởng trực tiếp đến cuộc sống của mỗi gia
11
đình, ngời dân, cơ quan, doanh nghiệp và toàn xã hội. Vì thế, bảo hiểm tai nạn
hành khách ra đời là hết sức cần thiết mà ở nhiều nớc trên thế giới đã đợc triển
khai dới hình thức bắt buộc.
2.3.4. Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật.
Các rủi ro ốm đau, bệnh tật phải nằm viện điều trị hoặc phẫu thuật thờng ít
ngời tránh khỏi. Khi tình trạng này diễn ra đã làm phát sinh các chi phí điều trị
và phẫu thuật, đồng thời còn làm ngời bệnh phải ngừng lao động hoặc mất khả
năng lao động. Trong khi đó, chi phí cho các dịch vụ khám chữa bệnh, điều trị
và phẫu thuật có xu hớng ngày càng tăng do kỹ thuật và phơng tiện chẩn đoán
của ngành y tế ngày càng tinh xảo và hiện đại, do các loại thuốc đặc trị ngày
càng đợc sử dụng phổ biến. Để đối phó với tình hình này, nhiều ngời đã tìm đến
bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật. Thực chất đây là loại hình bảo hiểm sức
khoẻ, nhng có phạm vi hẹp hơn, song nó đã mang lại lợi ích to lớn cho con ng-
ời.
2.3.5. Bảo hiểm học sinh
Bảo hiểm trẻ em và bảo hiểm sinh viên đại học là những nghiệp vụ đợc
nhiều nớc trên thế giới áp dụng. Đây là những nghiệp vụ bảo hiểm hỗn hợp cả
tai nạn" và "ốm đau, bệnh tật". Còn bảo hiểm học sinh thực chất là sự kết hợp
giữa 2 nghiệp vụ, song thực tế triển khai ở nớc ta lại tỏ ra rất phù hợp và có hiệu
quả.
II. Đại lý bảo hiểm phi nhân thọ
1. Sự cần thiết và vai trò của đại lý khai thác bảo hiểm
1.1. Khái niệm
Theo thuật ngữ pháp lý, đại lý là ngời làm việc một ngời khác trên cơ sở
hợp đồng đại lý.
Theo thuật ngữ bảo hiểm, đại lý bảo hiểm là ngời làm việc cho doanh
nghiệp bảo hiểm, thay mặt doanh nghiệp bán cho các sản phẩm bảo hiểm cho
ngời mua.
12
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam thì "ĐLBH là tổ chức, cá nhân
đợc doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng ĐLBH để thực hiện
hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật này và các quy định khác của
pháp luật có liên quan" (Điều 84, chơng IV).
Hoạt động đại lý là phơng thức bán bảo hiểm theo đó đại lý chịu trách
nhiệm thu xếp việc ký kết các hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm
và ngời mua bảo hiểm theo uỷ quyền của doanh nghiệp bảo hiểm trên cơ sở hợp
đồng đại lý để đợc hởng hoa hồng bảo hiểm.
Đại lý bảo hiểm là những ngời hoặc tổ chức trung gian giữa doanh nghiệp
bảo hiểm và ngời tham gia bảo hiểm, đại diện cho doanh nghiệp và hoạt động vì
quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm. Đại lý có thể là các tổ chức ngân hàng
hay luật s. Những tổ chức này làm đại lý bảo hiểm rất thuận lợi do có sự tiếp
xúc với nhiều khách hàng; đồng thời bảo hiểm là một dịch vụ bổ sung cho
khách hàng của họ. Đại lý có thể là một cá nhân hoạt động chuyên trách hoặc
bán chuyên trách.
Đại lý bảo hiểm hoạt động tại văn phòng hoặc đi đến từng nhà, từng
doanh nghiệp để bán bảo hiểm, thu phí bảo hiểm và đàm phán những thay đổi
về nhu cầu bảo hiểm của khách hàng thực tế và tiềm năng.
Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam quy định về điều kiện hoạt động đại
lý bảo hiểm nh sau:
a) Cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Là công dân Việt Nam thờng trú tại Việt Nam
- Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
- Có chứng chỉ đào tạo đại lý bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm hoặc
Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam cấp.
b) Tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Là tổ chức đợc thành lập và hoạt động hợp pháp
- Nhân viên trong tổ chức đại lý trực tiếp thực hiện hoạt động đại lý bảo
hiểm phải có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 điều này.
13
c) Ngời đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành
hình phạt tù hoặc bị Toà án tớc quyền hành nghề vi phạm các tội theo quy định
của pháp luật không đợc ký kết hoạt động đại lý bảo hiểm". (Điều 80, mục 1,
chơng IV).
Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm có thể quy định bổ sung các chỉ tiêu
khác để đảm bảo chất lợng và ràng buộc trách nhiệm của đại lý. Ví dụ, quy định
về kinh nghiệm hoặc sự thành công và ổn định trong các công việc cũ, bằng
cấp, hình dáng, khả năng giao tiếp, thái độ tích cực, tiền ký quỹ, thời gian học
việc doanh nghiệp bảo hiểm có thể không cho phép nhân viên của doanh
nghiệp làm đại lý cho chính mình; hoặc không cho phép tổ chức và cá nhân đợc
đồng thời làm đại lý cho doanh nghiệp bảo hiểm khác nếu không đợc sự chấp
thuận của doanh nghiệp bảo hiểm mà đại lý đang làm việc
1.2. Phân loại đại lý bảo hiểm
Đại lý đợc phân loại theo các tiêu thức sau:
Căn cứ vào t cách pháp lý, có hai loại đại lý là cá nhân và tổ chức. Cách
phân loại này giúp doanh nghiệp bảo hiểm quản lý tốt lực lợng bán hàng của
mình, đặc biệt là khâu tuyển dụng đại lý.
Căn cứ theo loại hình bảo hiểm và tính chất rủi ro, có hai loại đại lý là đại
lý bảo hiểm nhân thọ và đại lý bảo hiểm phi nhân thọ.
- Đại lý bảo hiểm nhân thọ: là ngời đợc doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
uỷ quyền thực hiện các hoạt động liên quan đến công việc khai thác bảo hiểm
nhân thọ, thu phí bảo hiểm và các hoạt động khác trong khuôn khổ về quyền và
trách nhiệm của đại lý đợc nêu trong hợp đồng đại lý.
- Đại lý bảo hiểm phi nhân thọ: là tổ chức hoặc cá nhân đợc doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ uỷ quyền thực hiện các hoạt động liên quan đến công
việc khai thác bảo hiểm phi nhân thọ, thu phí bảo hiểm và các hoạt động khác
trong khuôn khổ về quyền và trách nhiệm của đại lý đợc nêu trong hợp đồng đại
lý.
Do đặc điểm hoạt động kinh doanh bảo hiểm, cách phân loại này rất cần
thiết và đợc sử dụng phổ biến trên thị trờng bảo hiểm vì nó đáp ứng đợc yêu cầu
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét