Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở giao dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
vụ, bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức
sống cho nền kinh tế.
Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay thường chiếm quá
nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 1/3 nguồn thu của ngân hàng.
Đồng thời, rủi ro của hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh
mục các khoản cho vay. Tình trạng khó khăn về mặt tài chính của một ngân
hàng thường phát sinh từ các khoản cho vay khó đòi, bắt nguồn từ một số
nguyên nhân như: quản lý yếu kém, cho vay không tuân thủ đúng nguyên tắc
tín dụng, chính sách tín dụng, chính sách cho vay không hợp lý và tình trạng
suy thoái ngoài dự kiến của nền kinh tế…
1.1.3 Đối tượng cho vay của NHTM.
Ngân hàng xem xét cho vay các đối tượng sau:
• Giá trị vật tư, hàng hoá, máy móc, thiết bị bao gồm cả
thuế giá trị gia tăng và các khoản chi phí để thực hiện các dự án đầu tư,
phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục
vụ đời sống…
• Nhu cầu tài chính của khách hàng: Số tiền thuế xuất
khẩu, nhập khẩu khách hàng phải nộp để làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu,
thuế giá trị gia tăng đối với lô hàng nhập khẩu…
• Các đối tượng cho vay khác như: Cho vay góp vốn thành
lập công ty liên doanh; Cho vay trả lãi tiền vay trong thời hạn thi công
1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1.1 Khái niệm
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
5
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
Ở mỗi nước khác nhau quan niệm về DNV&N cũng khác nhau.
Nhưng hiểu một cách chung nhất thì DNV&N là những doanh nghiệp có
quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Trong thực tế, phần lớn các nước đều sử dụng hai tiêu thức vốn điều
lệ và số lao động thường xuyên để xác định DNV&N. Chúng ta có thể thấy
rõ tiêu thức phân loại của các nước thông qua bảng sau đây:
Bảng 1.1. Tiêu thức xác định DNV&N tại một số quốc gia
Nước Số lao động Tổng vốn Doanh thu
Thái lan < 100 < 20 triệu Baht
Indonesia < 100 0.6 tỷ Rupi < 2 tỷ Rupi
Hàn Quốc < 300 trong công
nghiệp, xây dựng.
< 200 trong thương
mại, dịch vụ
<0.6 triệu USD
0.25 triệu USD < 1.4 triệu USD
Đài Loan < 300 trong công
nghiệp, xây dựng.
< 50 trong thương mại,
dịch vụ
1.4 triệu USD
< 1.4 triệu USD
Nhật Bản < 100 trong bán buôn.
< 50 trong bán lẻ.
< 30 triệu yên.
< 10 triệu yên
Canada < 500 trong công
nghiệp, dịch vụ
< 20 triệu đô la
Canada
(Nguồn: Kỷ yếu khoa học, dự án chính sách hỗ trợ phát triển DNV&N
ở Việt Nam, Học viện chính trị quốc gia HCM, Hà Nội, 1996)
Tại Việt Nam, theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001:
“DNV&N là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo
pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỉ đồng hoặc số lao động
trung bình hằng năm không quá 300 người”.
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
6
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
Với tiêu thức xác định DNV&N này thì ở Việt Nam hiện nay có
khoảng 80% các doanh nghiệp nhà nước thuộc nhóm các DNV&N và trong
khu vực kinh tế tư nhân, các DNV&N chiếm khoảng 97% về vốn và khoảng
99% về lao động.
1.2.1.2 Phân loại.
DNV&N có thể được chia thành ba loại căn cứ vào quy mô đó là
doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ
là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có
số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50
đến 300 lao động.
Một cách phân loại khác được các NHTM Việt Nam sử dụng hiện nay
để có thể dễ dàng hơn cho việc đánh giá, xếp hạng, quản lý khách hàng
doanh nghiệp là phân loại theo ngành nghề kinh doanh. Theo tiêu thức này
thì DNV&N được chia thành 4 loại:
- Doanh nghiệp hoạt động trong
ngành nông, lâm, ngư nghiệp.
- Doanh nghiệp hoạt động trong
ngành thương mại, dịch vụ.
- Doanh nghiệp hoạt động trong
ngành xây dựng.
- Doanh nghiệp hoạt động trong
ngành công nghiệp.
1.2.1.3 Vai trò của DNV&N
Ở mỗi nền kinh tế của mỗi quốc gia hay lãnh thổ khác nhau, các
DNV&N có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung
có một số vai trò tương đồng như sau:
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
7
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
• Góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn
việc làm
Các DNV&N thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng
số doanh nghiệp. Vì vậy đóng góp của của họ này vào tổng sản lượng và
việc tạo việc làm là rất lớn. Ngay như ở Mỹ - một đất nước mà ở đó có
những cái tên như Microsoft, IBM hay Ford nổi tiếng toàn cầu – các
DNV&N vẫn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Điều này thể hiện ở con
số 40% GDP của nước Mỹ là nhờ sự đóng góp của các doanh nghiệp thuộc
khu vực này.
Theo số liệu thống kê của các nước Châu Á cũng cho thấy tỷ trọng thu
hút lao động và tạo ra giá trị gia tăng của các DNV&N ở các nước này cũng
rất đáng kể. Các DNV&N thường chiếm khoảng 81% - 98% tổng số doanh
nghiệp trong cả nước, thu hút 30-60% lao động và tạo ra 20-40% giá trị gia
tăng trong nền kinh tế.
Bảng 1.2 Khả năng thu hút lao động và tạo ra giá trị gia tăng của các
DNV&N
Nước Thu hút lao động Giá trị gia tăng
Singapore 35.2% 26.6%
Malaisia 47.8% 36.4%
Hàn Quốc 37.2% 21.1%
Nhật Bản 35.2% 38*%
Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2007
cho thấy, các DNV&N hiện chiếm 96% trong tổng số gần 250 nghìn doanh
nghiệp đăng ký kinh doanh và hoạt động theo luật doanh nghiệp; 99% số
lượng cơ sở sản xuất kinh doanh của cả nước, tạo ra khoảng 49% việc làm
phi nông nghiệp (chiếm khoảng 25% tổng số lao động trong cả nước) đồng
thời cũng đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách quốc gia và chi phối
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
8
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
hầu hết các hoạt động phân phối (bán lẻ) của cả nước (chiếm tỷ trọng
khoảng 80%).
• Góp phần ổn định nền kinh tế
Ở phần lớn các nền kinh tế, các DNV&N là những nhà thầu của
những doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm
cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì thế, các DNV&N được ví như
là thanh giảm sốc cho nền kinh tế.
• Tác nhân giúp cho nền kinh tế năng động hơn
Vì có quy mô nhỏ về vốn và lao động, nên các DNV&N dễ điều chỉnh
(xét về mặt lý thuyết) hoạt động của mình. Khi ngành nghề kinh doanh mà
doanh nghiệp đang hoạt động gặp nhiều khó khăn, doanh nghiệp có thể
nhanh chóng chuyển hướng kinh doanh, thay đổi ngành nghề kinh doanh, cơ
cấu sản phẩm…Mặt khác, do quy mô nhỏ nên tốc độ tăng trưởng, mở rộng
quy mô hoạt động của doanh nghiệp thường cao, khả năng thu hồi vốn
nhanh chóng góp phần đáng kể trong việc tạo nên một nền kinh tế năng
động.
• Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan
trọng
Các DNV&N thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết
được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh, đây là cơ sở hình
thành nên ngành công nghiệp phụ trợ có tác động rất lớn đến sự phát triển
của ngành công nghiệp chính. Ví dụ: Có thể kể đến những tập đoàn lớn như
Boeing hay Microsoft, những tập đoàn này cũng không thể hoạt động đơn lẻ
mà phải có sự hợp tác với các công ty có quy mô vừa và nhỏ trong việc sản
xuất phụ kiện phụ trợ cho sản phẩm chính.
• Là trụ cột của kinh tế địa phương
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
9
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
Nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh
tế lớn của đất nước, thì DNV&N lại có mặt ở khắp các địa phương và chính
là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách của địa phương, vào sản
lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương.
Trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, các DNV&N còn đóng
vai trò quan trọng trong việc góp phần gìn giữ và phát triển những làng nghề
truyền thống, tích tụ vốn là cơ sở hình thành những doanh nghiệp lớn.
1.2.1.4 Đặc điểm của DNV&N
• Quy mô nhỏ về cả vốn và số lượng lao động
Một cuộc điều tra quy mô được Cục phát triển DNV&N (thuộc Bộ Kế
hoạch và đầu tư) tiến hành năm 2005 với sự tham gia của hơn 63 nghìn
doanh nghiệp tại 30 tỉnh thành phía Bắc cho thấy: gần 50% số doanh nghiệp
có mức vốn dưới 1 tỷ đồng, gần 75% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 2 tỷ
đồng và 90% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 5 tỷ đồng.
Và cho đến năm 2007, trong số 250 nghìn doanh nghiệp vẫn có đến
40% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 5 tỷ đồng.
Do có quy mô nhỏ bé về cả vốn và lao động nên các DNV&N còn có
hàng loạt các đặc điểm sau:
o Vì quy mô đầu tư vốn ban đầu nhỏ nên thời gian thu hồi vốn
của các DNV&N nhanh, hiệu quả sử dụng vốn cao.
o Các doanh nghiệp rất nhanh nhạy đối với những thay đổi của
thị trường, dễ dàng chuyển đổi loại hình kinh doanh cũng như cơ cấu
sản phẩm. Đây là một lợi thế của các DNV&N so với các doanh
nghiệp lớn.
o Tuy vậy, chính quy mô sản xuất nhỏ dẫn đến chi phí sản xuất
của các DNV&N lại khá cao, kiểu dáng sản phẩm đơn điệu, chất
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
10
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
lượng sản phẩm thấp và thiếu mạng lưới phân phối, tiếp thị nên các
DNV&N rất khó tiếp cận trực tiếp được với thị trường nước ngoài.
• Loại hình kinh doanh đa dạng
Các DNV&N tham gia kinh doanh với mọi hình thức trong mọi ngành
nghề khác nhau vì vậy có thể xen vào tất cả các “khe” của thị trường, phục
vụ mọi nhu cầu phát sinh của nền kinh tế, lấp vào khoảng trống của các
doanh nghiệp lớn, tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng.
• Bộ máy tổ chức gọn nhẹ
Với bộ máy tổ chức gọn nhẹ, cơ chế quản lý linh hoạt, các DNV&N
có thể áp dụng được nhiều mô hình quản lý khác nhau góp phần làm giảm
thiểu chi phí quản lý, giảm thủ tục hành chính và dễ dàng chuyển đổi hình
thức kinh doanh.
• Hạn chế về vốn
Hạn chế về vốn là đặc điểm chung của đại đa số các DNV&N. Trong
khi các doanh nghiệp lớn có khả năng thu hút vốn bằng nhiều cách khác
nhau như: phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn ngân hàng…thì các
DNV&N lại chỉ loay hoay trong việc sử dụng vốn chủ sở hữu. Một mặt vì
những khó khăn, trở ngại trong việc tiếp xúc với nguồn vốn vay. Mặt khác
thường là các DNV&N không đủ điều kiện để tham gia thu hút vốn trên thị
trường chứng khoán.
• Thiếu minh bạch trong việc xác định tài sản
cá nhân và tài sản pháp nhân
Rất nhiều DNV&N, nhất là các công ty trách nhiệm hữu hạn, tài sản
pháp nhân và tài sản cá nhân lẫn lộn, thiếu minh bạch nên ngân hàng rất khó
thẩm định, đánh giá về năng lực thực sự của doanh nghiệp. Nguyên nhân của
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
11
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
hiện tượng này chính là do trình độ học vấn và sự kém hiểu biết cán bộ quản
lý doanh nghiệp.
• Hệ thống báo cáo tài chính không có hoặc
thiếu minh bạch
Các DNV&N thường bán hàng không có hợp đồng kinh tế, không
tuân chủ chế độ phát hành hóa đơn bán hàng. Hệ thống sổ sách kế toán, nội
dung và phương pháp hạch toán kế toán của doanh nghiệp không đầy đủ,
thiếu chính xác và minh bạch. Các báo cáo tài chính của doanh nghiệp
thường được xây dựng chỉ mang tính chất đối phó với cơ quan thuế. Doanh
nghiệp không xác định được dòng tiền lưu chuyển bởi vậy nếu nộp đơn xin
vay vốn ngân hàng cũng không thể tính toán được đúng khả năng trả nợ
trong tương lai.
• Trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ thấp
Một thực trạng phổ biến trong các DNV&N hiện nay là hệ thống máy
móc, thiết bị lạc hậu, khoảng 15-20 năm trong ngành điện tử, 20 năm đối với
ngành cơ khí, 70% công nghệ ngành dệt may đã sử dụng được 20 năm. Tỷ lệ
đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm của Việt Nam chỉ ở mức 5-7% so
với 20% của thế giới. Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí tiêu hao 1,5 lần so
với định mức tiêu chuẩn của thế giới.
Thực trạng này dẫn đến tăng chi phí đầu vào, cao hơn từ 30 - 50% so
với các nước ASEAN, đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá
thành cao và năng suất thấp.
• Đội ngũ lao động thiếu trình độ
Một trong những khó khăn hiện nay của các DNV&N gặp phải là
thiếu đội ngũ lao động có trình độ, có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Có thể nói trình độ học
vấn của cả người lao động và của chủ các DNV&N là rất thấp.
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
12
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
Theo thống kê năm 2006, trong số hơn 25% lao động có chuyên môn
thì chỉ 6% lao động có trình độ cao đẳng và đại học. Chủ doanh nghiệp có
trình độ Đại học cũng chỉ khoảng 2%. Về cơ bản, đội ngũ này mới được
hình thành những năm 90, còn thiếu kinh nghiệm nhiều mặt, từ kỹ năng
quản lý đến hiểu biết về công nghệ và thị trường. Quy mô nhỏ lại luôn khó
khăn về vốn nên hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ kinh phí để
đầu tư, nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động.
Đây là một lực cản mà tất cả các doanh nghiệp đều gặp và cần phải
quyết tâm vượt qua vì sự tồn tại của bộ phận doanh nghiệp này trong điều
kiện hội nhập hiện nay.
1.2.2 Vai trò của hoạt động cho vay DNV&N
1.2.2.1 Đối với DNV&N
Thứ nhất, vốn vay NHTM là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ hỗ trợ sự ra đời
và phát triển của các DNV&N. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, bên
cạnh thông tin, nhân lực và công nghệ, một trong những nhu cầu không thể
thiếu của doanh nghiệp là vốn. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
thường dựa các nguồn chủ yếu là vốn chủ sở hữu, vốn vay ưu đãi, vốn vay
phi chính thức và vốn vay ngân hàng. Một mặt, do vốn chủ sở hữu của các
DNV&N thấp lại không đủ điều kiện để tham gia thu hút vốn trên thị trường
chứng khoán. Mặt khác, không phải DNV&N nào cũng nhận được nguồn
vốn vay phi chính thức từ người thân, bạn bè…và nếu có được nhận thì
nguồn này cũng rất ít ỏi; đối với nguồn vốn vay ưu đãi thì thủ tục xin vay
vốn lại khá rườm rà, phức tạp, yêu cầu có tài sản thế chấp và phí môi giới để
được hưởng khoản vay cao khiến các doanh nghiệp nản lòng. Vì vậy, có thể
nói vốn vay ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với các DNV&N,
không những trong việc hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình hoạt động và
phát triển mà ngay từ khi thành lập, nếu không có nguồn hỗ trợ tích cực của
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
13
GV hướng dẫn: Đào Hùng Chuyên đề tốt nghiệp
tín dụng từ ngân hàng thì nhiều doanh nghiệp cực kỳ khó khăn trong việc
thành lập và hoạt động ban đầu.
Thứ hai, vốn vay NHTM là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp nâng
cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Để được
vay vốn ngân hàng, buộc các doanh nghiệp phải nâng cao uy tín cũng như
hiệu quả hoạt động của mình đồng thời cũng phải xây dựng được những
phương án kinh doanh có hiệu quả hoặc dự án đầu tư khả thi. Bên cạnh đó
với áp lực của việc phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn cho ngân
hàng các doanh nghiệp cũng phải tính toán và lập ra được phương án trả nợ
hiệu quả nhất.
Thứ ba, hoạt động cho vay của NHTM góp phần hình thành đồng bộ
hệ thống các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” cho các DNV&N. Đa số các
DNV&N có vốn lưu động rất thấp so với nhu cầu cần thiết. Nguồn vốn để
mua vật tư, hàng hoá dự trữ cho sản xuất kinh doanh chủ yếu được bù đắp
bằng vốn vay NHTM. Mặt khác, hoạt động cho vay của NHTM cũng tác
động mạnh mẽ vào việc tiêu thụ sản phẩm cho các doanh nghiệp thông qua
mở rộng cho vay tiêu dùng, cho vay hoặc bảo lãnh để các tổ chức kinh tế, cá
nhân hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá.
1.2.2.2 Đối với NHTM
Hiện nay, ở Việt Nam, có nhiều ngân hàng đã rất tích cực tiếp thị vốn
ngân hàng đến cộng đồng các DNV&N qua các cuộc hội thảo hoặc đối thoại
trực tiếp với các doanh nghiệp ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.
Nguyên nhân là do các ngân hàng đã nhận thức được vai trò của việc mở
rộng cho vay đối với đối tượng doanh nghiệp này.
Thị trường khách hàng tiềm năng: Trước đây, những ngân hàng lớn
thường không chú trọng cho vay đối với các DNV&N vì họ tin rằng các
khoản cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này nói chung có quy mô nhỏ
Lê Thị Thu Trang Lớp: Ngân hàng 46A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét