Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Dịch vụ ngân hàng quốc tế – giải pháp hoàn thiện và phát triển trong hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh việt nam


72
lan) năm 1600. Cuối thế kỷ 17 xuất hiện ngân hàng lớn nhất thế giới, ngân
hàng Anh ở Luân đôn. Ngân hàng Anh là một công ty cổ phần lớn kinh doanh
tín dụng tư bản với mức lãi suất thấp 6% năm và điều này buộc các ngân hàng
cho vay nặng lãi phải hạ lãi suất theo và kinh doanh giống các ngân hàng tư
bản. Trong suốt thế kỷ 18, các ngân hàng tư bản khác ở châu Âu lục địa, Bắc
Mỹ lần lượt ra đờ
i. Từ giữa thế kỷ 19 trở đi, các nước đế quốc mới thành lập
các ngân hàng trên các nước phong kiến, thuộc địa, nửa thuộc địa như ngân
hàng Đông Dương của Pháp thành lập năm 1875 tại Sài gòn (Việt nam).
Trong thời đại hiện nay, việc kinh doanh tiền tệ không còn là độc quyền của
các ngân hàng. Cùng với ngân hàng, các tổ chức tài chính khác như công ty
bảo hiểm, các quỹ hưu trí, quỹ tín dụng, hội tín dụng cho vay. Tuy nhiên khi
nghiên c
ứu lịch sử dịch vụ ngân hàng cho thấy rằng có dịch vụ ngân hàng vẫn
là của riêng ngân hàng.
Dịch vụ Ngân hàng Quốc tế đã trải qua các giai đoạn phát triển sau:
Giai đoạn sơ khai, ngân hàng nhận bảo quản, giữ hộ tiền, gửi tiền và
cho vay tiền và hoạt động này diễn ra trên chiếc bàn dài (tiếng Lating là
Bancus). Hoạt động này là nghiệp vụ ngân hàng đầu tiên, tồn tại lâu đời nhất.
Theo thờ
i gian, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội các nghiệp vụ ngân
hàng ngày càng đa dạng, phát triển không ngừng.
Giai đoạn phát triển thứ hai Trong vòng năm thế kỷ - từ thế kỷ thứ V
đến thế kỷ thứ X, nhiều hoạt động mới được áp dụng và đạt được những bước
tiến mới về nghiệp vụ ngân hàng như:
♦ Ngân hàng bắt đầu ghi chép và theo dõi hoạt động c
ủa thân chủ qua
số hiệu tài khoản.
♦ Ngân hàng áp dụng phương pháp bù trừ. Những chủ nợ của cùng
một loại tiền hay tài sản thì được thanh toán chuyển nhượng lẫn nhau trong
mua bán giữa họ ở cùng một ngân hàng và kể cả đối tác ở ngân hàng khác, và
nợ đáo hạn được bù trừ.

73
♦ Nghiệp vụ chuyển ngân, tức là chuyển tiền từ nơi này sang nơi khác
cũng được áp dụng.
♦ Ngân hàng cũng làm nghiệp vụ bảo lãnh, là biểu hiện ban đầu của
hình thức chấp nhận các thương phiếu trong nghiệp vụ ngân hàng hiện đại
♦ Ngân hàng đã áp dụng chiết khấu thương phiếu.
Giai đoạn thứ ba: Ngân hàng đánh dấu sự phát triển vào giai đoạn th

ba với việc mạnh dạn cho vay tiền, tạo ra các khoản tiền mới trong lưu thông.
Ngân hàng từ lâu đã phát hành các chứng thư (như séc ngày nay) khi có người
gửi vào ngân hàng bằng tiền vàng hoặc tiền đúc - 100 tiền ngân hàng thay cho
100 tiền vàng đúc. Tuy nhiên vào cuối thế kỷ XVII khi chứng thư được chấp
nhận rộng rãi và nhu cầu tăng đột ngột, một số ngân hàng đã phát hành các
chứng thư tự do (không có tiền vàng bảo đả
m) và tiền ngân hàng ra đời. Tuy
nhiên tiền ngân hàng (Bank notes) chỉ được lưu hành rộng rãi từ đầu thế kỷ
XX sau khi nhà nước độc quyền phát hành giấy bạc pháp định. Ngày nay do
sự phát triển về kinh tế, đặc biệt là khoa học công nghệ, dịch vụ ngân hàng đã
phát triển về mọi mặt và ra đời những loại sử dụng công nghệ cao như thanh
toán bằng thẻ điện tử, ứng dụng mạng SWIFT…
Do s
ự đa dạng của dịch vụ ngân hàng nên không thể có định nghĩa cụ
thể, thống nhất về dịch vụ ngân hàng. Hiểu nôm na dịch vụ ngân hàng nói
chung là tất cả những việc mà ngân hàng thường làm trong khuôn khổ nghề
nghiệp của họ.
2. Lịch sử phát triển của dịch vụ ngân hàng quốc tế
Trong lịch sử phát triển lâu dài của hoạt động ngân hàng như nêu ở
phần trên, có xuất hi
ện mầm mống hoạt động ngân hàng quốc tế tại các nước
ở châu Âu vào thế kỷ 13. Vào thế kỷ 19, các nước thực dân đã mở rộng vùng
thuộc địa của mình, tìm kiếm thị trường ngoài lãnh thổ của mình. Các ngân
hàng thương mại của Anh và Pháp đã thiết lập nhiều chi nhánh ở nước ngoài.
Mạng lưới chi nhánh của họ bao trùm trên lãnh thổ châu Âu và các vùng lãnh

74
thổ thuộc địa. Ngân hàng Đông Phương của Anh thành lập tại Trung Quốc,
ngân hàng Đông Dương của Pháp thành lập ở Việt Nam.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các nước châu Âu rất cần tiền để tái
thiết nền kinh tế bị huỷ hoại nặng nề bởi chiến tranh và Mỹ là nhà tài trợ
chính. Ngoài ra sự tăng trưởng chưa từng có về đầu tư và thương mại qu
ốc tế
trên thế giới sau chiến tranh thế giới thứ II đã dẫn đến sự phát triển không
ngừng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại. Với
các hiệp định “Land Bank”, “Marshall”, các ngân hàng Hoa kỳ đã cho nước
ngoài vay hàng chục tỷ USD. Rất nhiều ngân hàng thương mại Hoa kỳ, trong
thập niên 60, tăng lên nhanh chóng về quy mô đã đưa đến chủ trương mở rộng
nghiệp vụ ngân hàng ra nước ngoài (c
ả các nước công nghiệp phát triển và
các nước đang phát triển), đó là phản ứng tự nhiên của việc phát triển nghiệp
vụ ngân hàng trong nước và đáp nhu cầu tham gia vào thị trường tài chính
quốc tế và những đổi mới trong lĩnh vực này đã tạo ra rất nhiều nghiệp vụ
ngân hàng mới. Lịch sử phát triển ngân hàng gọi đây là làn sóng phát triển
dịch vụ ngân hàng quốc tế thứ nhất.

 Một vài thập kỷ sau thế chiến thứ II kết thúc, bên cạnh sự phát
triển kinh tế vượt bậc của Mỹ, các quốc gia châu Âu như Anh, Pháp, Đức
các nước tư bản khác như Canada và đặc biệt là Nhật cũng giành được những
thành tựu kinh tế quan trọng. Lẽ tất yếu khi kinh tế phát triển kéo theo việc
các ngân hàng của các quốc gia công nghiệp hoá, đặc biệt là ngân hàng các
nước Canada, Nhật bản, Đức, Anh, Pháp c
ũng theo gương của các Ngân hàng
Hoa kỳ ra sức mở rộng nghiệp vụ của mình ra nước ngoài trong thập kỷ 70.
Lịch sử ngân hàng gọi đây là làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế
thứ hai.
Bên cạnh làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng ồ ạt của các nước tư
bản, có một làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ ba của các nước đang
phát triển diễn ra bình lặng vào cuối thậ
p kỷ 70.
Làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ tư bắt đầu bằng sự kiện ra

75
đời đạo luật nhất thể hoá châu Âu ban hành vào năm 1986; trong đó Cộng
đồng Châu Âu xoá bỏ mọi rào chắn đối với luồng vốn quốc tế. Điều này tạo
điều kiện cho dịch vụ ngân hàng quốc tế phát triển mạnh mẽ về chất lượng và
số lượng và vì vậy các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mang tính toàn cầu hoá.

76
3. Bản chất dịch vụ ngân hàng quốc tế
3.1. Định nghĩa dịch vụ ngân hàng quốc tế
Phần trên đã cho thấy một bức tranh tổng quát về dịch vụ ngân hàng và
dịch vụ ngân hàng quốc tế nói chung, nhưng để xây dựng định nghĩa dịch vụ
ngân hàng quốc tế cần:
♦ Căn cứ phân biệt nghiệp vụ ngân hàng quốc tế và nghiệp vụ ngân
hàng trong nước là lo
ại hoạt động kinh doanh mà ngân hàng cung cấp cho
khách hàng của họ có tính quốc tế hay không. Điều này được giải thích bởi ba
lý do sau
♦ Thứ nhất, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là loại hoạt động trợ giúp cho
hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng thông qua hoạt động tài trợ thương
mại quốc tế. Điều này có nghĩa là nghiệp vụ ngân hàng trong trường hợp này
gắn bó chặt chẽ v
ới thương mại quốc tế.
♦ Thứ hai, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là loại hoạt động đáp ứng nhu
cầu trao đổi ngoại tệ của khách hàng nhằm thực hiện các giao dịch thương
mại và đầu tư qua biên giới quốc gia.
♦ Thứ ba, vì các ngân hàng hoạt động kinh doanh quốc tế có điều kiện
thuận lợi kinh doanh ngoại tệ, họ cũng thường kinh doanh ngoại tệ cho chính
số tiền của họ.
♦ Một căn cứ nữa để phân biệt nghiệp vụ ngân hàng quốc tế và
nghiệp vụ ngân hàng trong nước của ngân hàng thương mại là nghiệp vụ ngân
hàng quốc tế diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia; còn nghiệp vụ ngân hàng
trong nước chỉ diễn ra trong nội bộ quốc gia và đối tượng khách hàng là
pháp nhân, thể nhân của quốc gia đó.
Như vậy ta có thể
đưa ra định nghĩa dịch vụ ngân ngân hàng quốc tế:
Dịch vụ ngân hàng quốc tế là các giao dịch ngân hàng liên quan tới
một hoặc nhiều bên đối tác ở ngoài biên giới nước có trụ sở chính của
ngân hàng cung cấp dịch vụ

77
Trên phương diện phân loại nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là một dạng
hoạt động kinh doanh quốc tế thì nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của ngân
hàng thương mại có thể được coi là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả
các công đoạn của quá trình hoạt động đầu tư và cung ứng dịch vụ tiền tệ và
tài chính quốc tế trên thị trườ
ng trong nước và quốc tế nhằm mục đích sinh
lời.
Việc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, các ngân hàng
thương mại tổ chức bằng hai phương thức sau:
 Tiến hành các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại nước ngoài bằng
cách thiết lập các chi nhánh, công ty con, văn phòng đại diện. v.v ở nước
ngoài.
 Tổ chức một bộ phận kinh doanh quốc tế được chuyên môn hoá
tại trụ sở chính để thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
3.2. Đặc điểm nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
Mặc dù ngày nay dịch vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại
phát triển đa dạng về hình thức cũng như nội dung, tuy nhiên sau khi nghiên
cứu về học thuật cũng như quá trình vận động phát triển của nó, chúng ta rút
ra những đặc điểm chung như
sau:
 Xu thế gia tăng nhanh hơn mức tăng tiềm lực sản xuất: Như đã
trình bày trong phần lịch sử phát triển, ngày nay xu thế quốc tế hoá hoạt động
ngân hàng đang diễn ra mạnh mẽ. Trong lĩnh vực kinh doanh và sản xuất
hàng hoá cũng diễn ra xu thế toàn cầu hoá nhưng thực tế cho thấy mức độ
thấp hơn của thị trường tài chính. Hàng ngày, lượng tiền tệ
lưu chuyển trên thị
trường tài chính thế giới cao gấp 30 lần khối lượng hàng hoá lưu chuyển trên
phạm vi toàn cầu. Đối với các nước đang phát triển, chỉ trong 8 năm (1990-
1997), dòng vốn đầu tư tư nhân đổ vào tăng hơn 5 lần. Trong khi mậu dịch
quốc tế của giai đoạn này chỉ tăng 5%/năm thì dòng vốn tư nhân lưu chuyển
tăng 30%/ năm.

78
 Dịch vụ ngân hàng quốc tế đề cao nhân tố con người: Đặc điểm
này do đặc điểm kinh doanh quốc tế hiện nay tạo ra. Ngày nay, do sự phát
triển mạnh mẽ về khoa học công nghệ và kinh tế cũng như sự phức tạp của
bối cảnh toàn cầu hoá, kinh doanh dịch vụ ngân hàng quốc tế đòi hỏi các nhà
hoạt động ngân hàng phải:
- Hiểu bi
ết sâu sắc về hoạt động kinh doanh, cả kinh doanh trong nước
lẫn khinh doanh đối ngoại, có kiến thức rộng và thường xuyên cập nhật về thị
trường trong nước và quốc tế, ngoài ra phải có kiến thức sâu rộng về tài chính
quốc tế.
- Hiểu biết và áp dụng thành thạo các ứng dụng của khoa học công
nghệ. Ngày nay, hầu hết các ngân hàng kinh doanh quốc tế đều sử dụng mạng
toàn cầ
u Swift, mạng giao dịch kinh doanh toàn cầu Reuter, và ứng dụng công
nghệ thông tin vào quản lý và kinh doanh. Do vậy việc sử dụng thành thạo
các tiện ích ngân hàng, máy tính và công nghệ thông tin là bắt buộc
- Phải hiểu biết thông thạo ít nhất một ngoại ngữ, tiếng Anh là bắt
buộc. Do là kinh doanh quốc tế nếu không thông thạo ngoại ngữ thì không
làm việc được
- Do bối cảnh hoạt động kinh doanh đòi hỏi rất nhiều về trình độ c
ủa
nguồn nhân lực, nên việc tập trung vào phát triển và bồi dưỡng nguồn nhân
lực là điều tất yếu
 Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế có tính rủi ro cao: Do sự phức tạp
của kinh doanh quốc tế nên thường xảy ra việc tăng, giảm đột ngột về ngoại
tệ, lãi suất, trục trặc trong thanh toán quốc tế, biến động chính trị….Vì vậy
nghiệp v
ụ ngân hàng quốc tế có mức độ rủi ro cao hơn nghiệp vụ ngân hàng
ở trong nước. Tuy nhiên, rủi ro càng cao lợi nhuận càng lớn nên các ngân
hàng vẫn phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế để có cơ hội và tiềm năng
phát triển lâu dài.
 Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế chịu ảnh hưởng nhiều bởi luật
pháp quốc tế và thông lệ quốc tế: Đặc điểm này do tính quốc tế
của dịch vụ

79
ngân hàng quốc tế quyết định. Do sự phức tạp trong môi trường hoạt động
kinh doanh quốc tế, do sự không thống nhất về luật pháp giữa các quốc gia,
do trình độ phát triển không đồng đều mà đòi hỏi phải có luật pháp quốc tế,
thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi và an toàn cho các ngân hàng thực
hiện dịch vụ ngân hàng quốc tế.
3.3 Động cơ tiế
n hành dịch vụ ngân hàng quốc tế
 Động cơ dễ hiểu nhất là mong muốn theo đuổi các khách hàng
khi các khách hàng của họ thực hiện hoạt động ra nước ngoài. Đây là một
nguyên lý Marketing truyền thống “theo chân khách hàng”. Các công ty của
Mỹ những năm 60, 70 của Nhật và châu Âu trong thập niên 70 hăng hái mở
rộng hoạt động ra nước ngoài thì các ngân hàng của họ cũng theo sau. Động
cơ này có phần mang tính phòng vệ, bởi vì các ngân hàng muốn duy trì và
củng c
ố các mối quan hệ với các khách hàng và muốn chứng tỏ một điều là họ
có kiến thức và chất lượng phục vụ cao hơn các ngân hàng địa phương.
 Động cơ khác thúc đẩy các ngân hàng mở rộng ra quốc tế là
nhằm đa dạng hoá cơ sở kinh doanh của họ. Các ngân hàng đầu tư vào các
khoản cho vay có đặc tính khác với các khoản vay nội địa. Loại nhu cầu về
các khoản vay nước ngoài có thể
bù đắp các biến động về nhu cầu khoản vay
nội địa vì vậy có tác dụng làm bình ổn thu nhập của ngân hàng. Hơn thế nữa
nhờ đa dạng hoá kinh doanh mà làm thu nhập ngân hàng tăng, khả năng cạnh
tranh mạnh, phân tán được rủi ro, thiết lập nhiều quan hệ kinh doanh tạo tiền
đề thực hiện đầu tư kinh doanh sau này.
4. Các hình thức tổ chức nghiệp vụ ngân hàng quốc tế và vai trò của các
trung tâm tài chính quốc tế

4.1. Các hình thức tổ chức nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
Như chúng ta đã biết, nét đặc trưng để phân biệt dịch vụ ngân hàng
quốc tế với dịch vụ ngân hàng trong nước đó là tính quốc tế. Xét về mặt
không gian thì khoảng cách địa lý giữa các đối tác là lớn, vượt ngoài phạm vi

80
biên giới quốc gia. Chính vì vậy ngân hàng thương mại ngoài trụ sở chính còn
phải sử dụng nhiều hình thức khác như :
Văn phòng đại diện: là đơn vị dịch vụ nhỏ do ngân hàng mẹ thành lập
ở nước ngoài nhằm trợ giúp cho các công ty trong nước kinh doanh ở nước
ngoài, là đối tác nước ngoài của ngân hàng mẹ, trong việc quan hệ với các
ngân hàng đại lý. Các văn phòng này thường có ít nhân viên, không nhận tiền
gửi, và chủ yếu thự
c hiện các công việc chuẩn bị cơ bản cho các khoản vay
đối với người đi vay từ trụ sở chính, phát triển hoạt động kinh doanh…
Việc thiết lập văn phòng đại diện ở nước ngoài thường là bước đầu tiên
trong quá trình phát triển hoạt động kinh doanh ở nước ngoài.
Chi nhánh ngân vỏ bọc: là các văn phòng nước ngoài được thiết lập
nhằm tham gia vào các thị trường tiền tệ châu Âu để dành các khoản n
ợ đồng
đô la châu Âu hay thực hiện các khoản vay ngân hàng nước ngoài. Chúng
nằm chủ yếu ở những nơi có nền tài chính chủ yếu, như Bahamas, nơi chúng
hoạt động mà không phải chịu thuế; họ không quan tâm đến công việc kinh
doanh ở địa phương. Loại hình này xuất hiện nhiều ở Mỹ.
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện dịch vụ trọn gói: Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện trọn gói là sự mở rộ
ng của ngân hàng
chính, hoạt động như các ngân hàng tại nước đó nhưng về mặt pháp lý chi
nhánh ngân hàng tại nước ngoài lại là một bộ phận của ngân hàng mẹ. Các
chi nhánh thực hiện kinh donh nghiệp vụ ngân hàng bán sỉ dựa chủ yếu vào
các khoản tiền gửi mua từ hệ thống ngân hàng quốc tế được biết đến như là
thị trường liên ngân hàng. Họ không thể phát triển một cơ sở tiền g
ửi địa
phương. Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài vừa chịu sự điều chỉnh của luật
ngân hàng trong nước vừa chịu sự điều chỉnh của luật ngân hàng nước ngoài
mà nó mở chi nhánh.

một số quốc gia, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị
cấm, ở một số quốc gia khác người ta không muốn lập chi nhánh vì có rủi ro
sung công. Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài thường được mở tại các trung
tâm tài chính và thương mại của thế giới.

81
Ngân hàng con ở nước ngoài: Ngân hàng con ở nước ngoài là một
định chế độc lập do ngân hàng mẹ sở hữu hoàn toàn hoặc gần như sở hữu
hoàn toàn để phù hợp với luật pháp của nước ngoài. Ngân hàng con ở nước
ngoài hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả
hoạt động kinh doanh của mình.
Ngoài ra còn hình thức Ngân hàng con ở nước ngoài nhưng ngân hàng
mẹ không kiểm soát chúng (ngân hàng m
ẹ chỉ đóng góp một phần vốn tối
thiểu, không đủ giành quyền kiểm soát). Nói chung, ngân hàng con ở nước
ngoài chịu sự điều chỉnh của luật pháp nước sở tại và hầu như không chịu
ảnh hưởng của luật pháp tại nước mà ngân hàng mẹ đặt trụ sở chính.
Trong thời gian gân đây, các ngân hàng kinh doanh quốc tế có xu
hướng mua các ngân hàng con thay vì lập chi nhánh ở nước ngoài. Việc sở
hữu một ngân hàng con, trách nhi
ệm của ngân hàng mẹ chỉ giới hạn trong số
vốn đầu tư vào ngân hàng con thấp hơn giới hạn trách nhiệm của ngân hàng
mẹ đối với chi nhánh mới thành lập. Ngoài ra việc lập chi nhánh cũng rất tốn
kém cả về chi phí thành lập lẫn chi phí quản lý.
Ngân hàng liên doanh: Đây là hình thức ngân hàng góp vốn để kinh
doanh giữa một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài với một hoặc nhiều ngân
hàng địa phương hoạt
động theo khuôn khổ của pháp luật địa phương. Cũng
giống như ngân hàng con ở nước ngoài, ngân hàng liên doanh định chế độc
lập đối với ngân hàng mẹ, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về kết quả
kinh doanh. Nhược điểm lớn nhất của ngân hàng liên doanh là sự khó khăn
trong quản lý.
Liên minh ngân hàng: Đây là hình thức liên minh tạm thời giữa các
ngân hàng. Các ngân hàng của các quốc gia khác nhau cùng nhau tham gia
hoạt động cho vay quốc t
ế. Nét đặc trưng chính của liên minh là cùng nhau
thực hiện các nghiệp vụ đặc biệt và phân chia thị trường theo vùng địa lý.
Trên thực tế, liên minh thường hoạt động tại các trung tâm tài chính và hoạt
động của họ chủ yếu diễn ra trên thị trường tài chính và tiền tệ quốc tế.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét