Phòng thương mại Ấn Độ đang rất quan tâm đến việc canh tác những sản phẩm
hoa định hướng xuất khẩu và hiện nước này có 500 hecta hoa đang được trồng trong nhà
kính. Ngoài ra, ngành hoa Ấn Độ cũng đang nỗ lực cải tổ lại những cơ sở sản xuất và
kinh doanh hoa kém hiệu quả để tập trung vào những cơ sở có tiềm năng xuất khẩu lớn
và tạo nhiều việc làm cho nước này.
1.1.5. Trung Quốc:
Là nước sản xuất và tiêu thụ hoa cắt cành lớn nhất thế giới. Diện tích trồng
hoa ở Trung Quốc là 122.400 ha, với công suất sản xuất 2,7 triệu tấn mỗi năm, đạt trị giá
6,6 tỷ USD (tiêu thụ hoa toàn cầu đạt 25 tỷ USD mỗi năm) trong đó xuất khẩu đạt 32
triệu USD.
Năm 2006 giá hoa thế giới tăng cao đẩy kim ngạch xuất khẩu hoa cắt cành của
tỉnh Vân Nam - vùng trồng hoa chính của Trung Quốc tăng mạnh. Chỉ tính đến tháng
11/2006, lượng hoa xuất khẩu của tỉnh Vân Nam đã đạt 4.362 nghìn tấn, với kim ngạch
10,45 triệu USD, tăng 8,6% về lượng và tăng 85,9% về kim ngạch so với cùng kỳ năm
2005.
Theo thống kê, giá hoa xuất khẩu trung bình của tỉnh Vân Nam trong 11 tháng
đầu năm 2006 tăng trên 73%, đạt khoảng 2,37USD/kg. Hoa hồng, cẩm chướng và lyli là
những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu ở khu vực này. Hoa cắt cành của Vân Nam chủ yếu
được xuất sang Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc
Trong đó, thị trường xuất khẩu hoa lớn nhất của Vân Nam trong năm qua là Nhật
Bản, với kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm 2006 đạt 2,75 triệu USD, tăng 18% so với
cùng kỳ năm 2005.
Nhật Bản, Hồng Kông cũng là thị trường xuất khẩu hoa lớn của Vân Nam với kim
ngạch xuất khẩu trong 11 tháng năm 2006 đạt 2,71 triệu USD, gấp 3,5 lần so với cùng kỳ
năm 2005. Ngoài ra, xuất khẩu hoa sang thị trường ASEAN năm qua của Vân Nam cũng
tăng cao, đạt 3,62 triệu USD, tăng gấp 2 so với cùng kỳ năm ngoái.
Ngoài ra, trong năm 2006 kim ngạch xuất khẩu hoa tươi cắt cành của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 54,6% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này
của Vân Nam, tăng 26,1% so với năm 2005.
Yếu tố chính hỗ trợ kinh doanh hoa cắt cành ở Trung Quốc phát triển nhanh là
tăng trưởng kinh tế cao, làm tăng nhu cầu tiêu thụ hoa trong nước.
Trong giai đoạn tái thiết ngành nông nghiệp, Chính phủ Trung Quốc đã hỗ trợ cho
ngành trồng hoa. Ngoài ra, gia nhập WTO còn tạo cho Trung Quốc tham gia hợp tác quốc
tế để phát triển và học hỏi công nghệ hiện đại trong kinh doanh hoa. Đặc biệt trong kế
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 5
hoạch phát triển Quốc gia lần thứ 10, lĩnh vực nghiên cứu công nghệ mới được tập trung
mạnh cho kinh doanh hoa cành. Ngành này đã phát triển rất nhanh từ mấy năm nay, đây
vẫn là cơ hội hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, vì tới 70% hạt và củ giống hoa, và 80%
máy móc dùng trong kinh doanh hoa cành, được nhập từ nước ngoài.
Ngoài ra, Chính phủ cũng đang khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong gieo
trồng hoa như trồng trong nhà kính. Đây là nền tảng để dự đoán kinh doanh hoa cành ở
Trung Quốc sẽ rất khả quan trong những năm tới. Đây cũng sẽ là thị trường rộng lớn cho
hoa nhập khẩu, nhất là từ các nước trong khu vực như: Thái Lan, Việt Nam. Đồng thời,
ngành kinh doanh hoa cắt cành ở Trung Quốc cũng sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh lớn so
với các nước sản xuất hoa trong khu vực và thế giới. Vì giá sản phẩm của Trung Quốc
luôn rẻ.
Bắt đầu hoạt động từ 10/12/2002, Trung tâm đấu giá hoa tươi quốc tế Côn Minh -
tỉnh Vân Nam đã trở thành trung tâm giao dịch hoa lớn với khối lượng giao dịch hàng
ngày từ 600.000 đến 800.000 bông, có ảnh hưởng lớn tới giá hoa hồng, loa kèn, cẩm
chướng và hoa cúc châu Phi. Côn Minh có quy định chặt chẽ hơn nhiều so với các trung
tâm bán hoa khác, với quy định người có số hoa giao dịch tối thiểu 300.000 bông/ngày
mới được tham gia. Hiện nay có khoảng 100 doanh nghiệp kinh doanh hoa, 300 người
trồng hoa vừa và lớn cung cấp hoa thường xuyên cho trung tâm này và hơn 70 thương gia
mua hoa mỗi ngày.
Tỉnh Vân Nam cung cấp hơn 50% tổng sản lượng hoa Trung Quốc. Trên 80% sản
lượng hoa của tỉnh được bán cho hơn 70 thành phố trên toàn quốc, xuất khẩu 15% ra
nước ngoài. Vân Nam có 7.864,7 ha đất trồng hoa, cho sản lượng hoa trị giá 0,4 tỷ USD,
trong đó xuất khẩu hoa khoảng 18 triệu USD, chủ yếu sang Thái Lan, Singapore,
Malaixia, Philipin và Hàn Quốc.
Zhangzhou, tỉnh Phúc Kiến, đã đề ra kế hoạch phát triển ngành trồng hoa từ nay
tới năm 2010, theo đó sẽ xuất khẩu khoảng 26,9 triệu USD. Hiện Zhangzhou trồng 1.400
loại hoa, trong đó có 800 giống nhập từ nước ngoài. Zhangzhou là trung tâm sản xuất và
xuất khẩu hoa lớn nhất của tỉnh Phúc Kiến, đồng thời cũng là trung tâm thông tin và hợp
tác giữa Trung Quốc lục địa và Đài Loan.
Ngành kinh doanh hoa ở Trung Quốc phát triển mạnh từ mấy năm qua và Internet
có vai trò ngày càng quan trọng trong ngành này. Hiện Trung Quốc đã có trên 20.000
website của các vườn hoa cũng như nhà kinh doanh hoa chuyên nghiệp.
1.1.6. Các nước khác trong khu vực như:
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 6
Thái Lan, Việt Nam… cũng có tiềm năng để trở thành những cường quốc sản
xuất và xuất khẩu hoa tươi cắt cành lớn trong khu vực và thế giới dựa vào điều kiện khí
hậu thuận lợi, nguồn nhân lực rẻ, đặc biệt là sự phong phú của các chủng loại hoa…
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tươi trong nước.
1.2.1. Tình hình sản xuất:
Hoa cắt cành các loại là một trong những điểm mạnh của các nhà xuất khẩu hoa
Việt Nam trong những năm gần đây đã thu được một lượng ngoại tệ đáng kể cho quốc
gia. Mở rộng diện tích sản xuất trồng hoa của cả nước đạt 8000 ha với sản lượng 4,5 tỷ
cành trong đó mục tiêu xuất khẩu 1 tỉ cành hoa, trị giá trên 60 triệu USD vào năm 2010,
tương đương với Hà Lan. Trong đó Đà Lạt là nơi sản xuất hoa lớn nhất cả nước. Đó là
thông điệp của Bộ Thương mại đưa ra từ chiến lược phát triển hoa xuất khẩu.
Hiện nay, cả nước có khoảng 4.000 ha diện tích sản xuất hoa cắt cành với sản
lượng khoảng 3 tỷ cành hoa. Quy mô về diện tích này tương đương Tây Ban Nha, nước
đứng thứ 5 châu Âu về sản xuất hoa. Sản xuất hoa cắt cành ở nước ta hiện nay tập trung
xung quanh một số đô thị lớn. Ở Hà Nội và vùng lân cận có trên 1.000 ha trong đó vùng
hoa Tây Tựu- Từ Liêm- Hà Nội với diện tích trồng hoa đạt 330 ha chủ yếu là hoa hồng,
cúc, đào, lay ơn, cẩm chướng. Ở Hải Phòng có 300 ha. vùng trồng hoa hàng hóa Trung du
miền núi phía Bắc với diện tích gần 136ha gồm: vùng trồng hoa Lao Cai; vùng trồng hoa
Hoành Bồ- Quảng Ninh
Khu vực duyên hải Miền Trung mới bắt đầu sản xuất hoa cắt cành, chủ yếu phục
vụ thị trường tại chỗ. Vùng trồng hoa tập trung tp Hồ Chí Minh với diện tích 700ha, các
tỉnh Nam Bộ… là nơi sản xuất hoa và cây cảnh đáng kể nhưng chủ yếu là các loại hoa
nhiệt đới. Riêng tỉnh Lâm Đồng có diện tích hoa cắt cành trên 1.100 ha với sản lượng
không dưới 800 triệu cành mỗi năm. Với khả năng sản xuất quanh năm, Lâm Đồng có thể
được coi là trung tâm sản xuất hoa cắt cành lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, ngòai một số
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có ứng dụng các yếu tố công nghệ tiên tiến và
quan trọng hơn cả là có đầu ra, xuất khẩu (số này không nhiều), hoa của Lâm Đồng nói
riêng và cả nước nói chung hầu hết để phục vụ thị trường trong nước, lượng xuất khẩu
tiểu ngạch cho các nước láng giềng như Trung Quốc, Campuchia hầu như không đáng kể.
Tại các vùng trồng hoa tập trung này, hoa hồng và hoa cúc vẫn là hai loại hoa cắt
chủ đạo, với đa dạng chủng loại và phẩm cấp, từ hoa phục vụ trang trí hàng ngày, tặng
trong dịp lễ tết, hoa cúng, hoa khuôn viên cho đến các loại hoa xuất khẩu cao cấp.
Tại vùng trồng hoa Tây Tựu-Từ Liêm-Hà Nội, hoa hồng và hoa cúc là hai loại
hoa có diện tích trồng và sản lượng cao nhất. Hoa hồng cho thu hoạch quanh năm và tạo
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 7
thu nhập thường xuyên. Hoa cúc đứng hàng thứ hai với chu kỳ 3 tháng một lần cho thu
hoạch. Hoa cúc của vùng không chỉ được tiêu thụ tại các thị trường phía Bắc mà đang
được đưa dần vào thị trường phía Nam và xuất khẩu sang Nhật Bản,Đài Loan.
Vùng trồng hoa công nghệ cao Đà Lạt được mệnh danh là thiên đường hoa của
Việt Nam, hoa hồng và hoa cúc cũng là hai loại hoa chủ đạo. Hoa cúc có tới 40 loại khác
nhau, chia thành 3 nhóm lớn và cúc đại đóa màu vàng anh, tím, cúc giống nhỏ và cúc có
nhóm tia có muỗng. Hoa hồng cũng có tới trên 15 loại với chất lượng nổi trội. Hoa hồng
Đà Lạt không chỉ được đánh giá cao bởi người tiêu dùng Việt Nam mà còn bởi cả các bạn
hàng thế giới với ưu điểm hoa to, cành thẳng, bền, thơm, sinh trưởng và phát triển tốt,
khả năng kháng bệnh cao…
Trong diện tích gần 136 ha trồng hoa của vùng Trung du và miền núi phía Bắc,
diện tích trồng hoa hồng đã chiếm tới trên 55,27% với sản lượng 26,53 triệu bông/năm.
Diện tích trồng hoa cúc lớn thứ hai với 14,5 ha, sản lượng 5 triệu cành/năm.
Với tỷ lệ hoa hồng và hoa cúc khá cao, cơ cấu ngành hoa Việt Nam tương đối phù
hợp với thị hiếu của các thị trường cao cấp trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc và
Tây Âu. Tuy nhiên, đây đều là những thị trường khó tính với những yêu cầu về chất
lượng, mẫu mã và an toàn thực vật rất cao. Các tiêu chuẩn về hàm lượng thuốc trừ sâu,
thuốc bảo vệ, bảo quản thực vật được đặt lên hàng đầu. Bên cạnh đó, để có thể thâm nhập
các thị trường này, hoa Việt Nam còn phải cạnh tranh về hình thức, giá cả và độ tươi lâu.
1.2.2 Tình hình xuất khẩu - tiêu thụ:
Đà Lạt được xem là trung tâm sản xuất hoa lớn nhất của cả nước với sản lượng,
chủng loại hoa phong phú và đa dạng. Việc hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những cơ hội
thuận lợi cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu hoa tươi Việt Nam ra thị trờng thế giới.
Mà chủ yếu là xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản với các loại hoa chủ lực như: cúc, cẩm
chướng, hồng, lan, lys, kỳ lân.
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 8
Kim ngạch xuất khẩu hoa của Đà lạt từ năm 2004 đến 2006
năm 2004 2005 2006
Sản lượng (ngàn cành) 31000 29000 32000
giá tri xk (ngàn USD) 6920 7510 8100
Tỷ trọng % 11 9.5 7
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ vnnet)
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ vnnet)
Thị trường Nhật Bản:
Nhu cầu hoa tươi của thị trường Nhật Bản những năm gần đây liên tục tăng. Sự
gia tăng này đang mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trồng hoa Việt Nam. Cụ thể là
năm 2002, nhập khẩu hoa tươi của Nhật chỉ chiếm tỷ trọng 10,6%, nhưng đã tăng lên
11,4% trong năm 2003, 12,9% trong năm 2004 và kim ngạch nhập khẩu hoa tươi của
Nhật trong năm 2005 đã lên tới 500 triệu USD.
Những con số trên chứng tỏ hoa nhập khẩu ngày càng có ưu thế tại thị trường
Nhật do nhiều loại hoa không được trồng phổ biến hoặc rất khó trồng vào thời tiết thu và
đông ở quốc gia này.
Bình quân hàng năm, kim ngạch xuất khẩu hoa tươi của Việt Nam sang Nhật Bản
khoảng 6,2 triệu USD, chiếm 1,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hoa của Nhật. Con
số này đã tăng lên 6,5 triệu USD trong năm 2005, nhưng trên thực tế vẫn chưa tương
xứng với tiềm năng vốn có của Việt Nam và chưa phản ánh hết sự nỗ lực, tận dụng triệt
để mọi cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam.
Nguyên nhân là do các doanh nghiệp chưa hiểu được đặc điểm và tập quán tiêu
dùng của thị trường Nhật. Việc xuất khẩu hoa tươi của Việt Nam sang Nhật trong thời
gian tới có thể tăng tới hơn 8 triệu USD/năm, đặc biệt là hoa phong lan và các loại hoa
ghép cành.
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 9
Do nhu cầu phong phú về các loại hoa và giá nhân công tại Nhật cao, nên kim
ngạch nhập khẩu hoa của Nhật đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Bình quân mỗi
năm, Nhật Bản nhập khẩu khoảng 453 triệu USD hoa tươi. Các thị trường nhập khẩu hoa
chủ yếu của Nhật là Hà Lan (chiếm 27%), Trung Quốc (9,7%), Đài Loan (9%), Malaysia
(8,8%), Thái Lan (7,3%) và Colombia (6,3%).
Hiện tại, Hà Lan là nước cung cấp các loại hoa hồng, loa kèn, Freesia, các loại hạt và củ
hoa tuy-líp lớn nhất vào Nhật Bản. Trong khi đó, Thái Lan là nước cung cấp hoa phong
lan chủ yếu cho Nhật Bản. Đài Loan cung cấp các loại hoa cúc. Trung Quốc cung cấp các
loại cành, lá để phục vụ cho việc trang trí và bó hoa.
Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang bước đầu thăm dò, tìm hiểu nhằm đẩy
mạnh xuất khẩu hoa sang thị trường này. Hiện nay, ngoài Đà Lạt Hasfarm (đơn vị sản
xuất và cung cấp hoa lớn nhất nước), đang có thêm nhiều doanh nghiệp đầu tư lớn cho
việc trồng và sản xuất hoa phục vụ thị trường trong nước và tiến tới xuất khẩu.
Điển hình là vào đầu tháng 12/2005, với sự hỗ trợ của Thương vụ Việt Nam tại
Nhật Bản, hơn 200 doanh nghiệp Nhật Bản đã sang tìm hiểu thị trường hoa Việt Nam vào
đúng dịp Lễ hội hoa Đà Lạt tháng 12/2005. Sự kiện này là một cơ hội tốt để các doanh
nghiệp sản xuất hoa quảng bá về đất nước, con người Việt Nam, đặc biệt là giới thiệu hoa
tươi xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có hoa sen là loài hoa mà người Nhật đặc biệt yêu
thích. Đây được xem là mặt hàng
xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam, bởi điều kiện khí hậu nước ta rất thuận lợi cho việc
trồng loại hoa này.
Ở Nhật Bản mặt hàng hoa bao gồm rất nhiều chủng loại như hoa cắt, nụ hoa, lá,
cành, cây cỏ, rêu, cây sống, hoa khô dùng làm trang trí…. Do tính chất đặc thù của loài
hoa, hầu hết các loại hoa nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản được thực hiện bằng đường
hàng không và thông thường mất khoảng 4 ngày kể từ khi tiến hành xuất khẩu đến khi
bày bán tại các cửa hàng bán lẻ ở Nhật. Các doanh nghiệp nên nắm lấy những thông tin
này để lựa chọn sản xuất những loại hoa thích hợp để từng bước tạo vị thế cho hoa xuất
khẩu của Việt Nam trên thị trường Nhật.
Hiện nay, Nhật Bản có thể tự trồng và cung cấp hầu hết nhu cầu hoa trong nước.
Tuy nhiên, do nhu cầu trong nước về các loài hoa khá phong phú và chi phí nhân công tại
Nhật Bản khá đắt đỏ, không thể cạnh tranh với các nước khác, nên kim ngạch nhập khẩu
hoa của Nhật Bản ngày càng tăng trong những năm gần đây.
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 10
Nhìn chung giá các loại hoa xuất sang thị trường này khá ổn định. Hoa cúc là loại
có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất ( trên 193 nghìn USD) có đơn giá trung bình là 0,18
USD/bông.
Trong khi giá cẩm chướng xuất khẩu trung bình sang tất cả các thị trường là 0,175
USD/bông thì xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản với đơn giá là 0,14 USD/bông. Riêng
hoa kỳ lân có sự giảm nhẹ về đơn giá trung bình xuất khẩu. Cụ thể: trong tháng 05/2007
đơn giá xuất khẩu trung bình của loại hoa này là 0,10 USD/bông giảm so với tháng
04/2007 là 0,09 USD/bông.
Tham khảo các loại hoa xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản trong tháng 05/2007.
Chủng loại
Đơn giá xuất khẩu
(USD)
Kim ngạch xuất khẩu
(USD)
Cúc từ 0,14 đến0,43 193.619,38
Cẩm chướng từ 0,13 đến0,18 49.986
Hồng từ 0,15 đến 0,16 44.179,6
Lan từ 0,08 đến 1,00 13.944
Lys từ 0,77 đến 0,80 10.85
Kỳ lân từ 0,09 đến 0,10 879
(Nguồn từ vn net)
Nói tóm lại, Nhật Bản là một thị trường tiềm năng cho việc xuất khẩu hoa tươi
của Việt Nam trong thời gian tới. Do đó các doanh nghiệp của chúng ta cần quan tâm
hơn đến thị trường này đặc biệt là về phong cách tiêu dùng, sở thích của họ theo mùa
để đáp ứng nhu cầu kịp thời nhằm gia tăng kim ngạch xuất khẩu hoa tươi của nước ta.
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 11
CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CỦA
NGÀNH HOA TƯƠI VIỆT NAM
2.1. Những điểm mạnh và điểm yếu của ngành hoa tươi Việt Nam:
2.1.1. Những điểm mạnh của ngành hoa tươi việt nam:
Nước ta được thiên nhiên ban tặng cho có điều kiện thiên nhiên ưu đãi cho sản
xuất nông nghiệp đặc biệt là cho ngành hoa tươi. Có các vùng rất thuận lợi cho việc trồng
hoa tươi như: Đà lạt, Hà Nội, Hải Phòng…
Lực lượng lao động dồi dào, mức lương của lao động VN lại thấp hơn so với
các nước trong khu vực. Công nhân Việt Nam có thu nhập từ 0,2 – 0,6 USD/giờ. Trong
khi Trung Quốc từ 0,5 – 0,75 USD/giờ, Malaysia từ 1,25 – 1,4 USD/giờ, Thái Lan từ 1,5
USD/giờ trở lên và ở Đài Loan khoảng 5 USD/giờ.
Nằm trong nhóm hàng XK chủ lực của nước ta, nên được sự quan tâm và hỗ
trợ của NN chẳng hạn như: Bộ Thương mại đã phối hợp với Bộ Công nghiệp, Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài Chính và các địa phương để giải quyết về vấn đề
nguyên liệu, tài chính, mặt bằng sản xuất kinh doanh và các vấn đề đẩy mạnh xúc tiến
XK vào một số thị trường trọng điểm.
Chủng loại thì phong phú đa dạng: Hoa cúc có tới 40 loại khác nhau, chia
thành 3 nhóm lớn và cúc đại đóa màu vàng anh, tím, cúc giống nhỏ và cúc có nhóm tia có
muỗng. Hoa hồng cũng có tới trên 15 loại với chất lượng nổi trội.
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 12
2.1.2 Những điểm yếu của ngành hoa tươi việt Nam.
Kỹ thuật trồng hoa của Việt Nam tuy có phát triển nhưng chưa đạt đến tầm
chuyên nghiệp tối thiểu. Hiện tại, chỉ có một thiểu số nhà trồng hoa lớn tại Đà Lạt, Hà
Nội có khả năng đuổi kịp công nghệ sản xuất hoa của các nước phát triển, còn lại, đa số
vẫn làm theo phương pháp thủ công hoặc kỹ thuật bảo quản, vận chuyển còn thô sơ, khó
đáp ứng được những thị trường lớn và khách hàng khó tính.
Các doanh nghiệp xuất khẩu hoa chưa xây dựng mô hình sản xuất liên kết giữa
doanh nghiệp, hiệp hội để đủ năng lực tổ chức sản xuất theo yêu cầu thị trường.
Kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc vận chuyển, bốc dỡ hàng hoá, phương tiện
vận chuyển chưa đáp ứng được yêu cầu, chi phí dịch vụ xuất khẩu cao làm tăng chi phí
gián tiếp và giá thành lên cao…., Từ đó làm mất đi lợi thế cạnh tranh về giá so với các
nước xuất khẩu hoa tring khu vực như Malaysia, Trung Quốc…
Phương thức bảo quản sau thu hoạch còn nhiều yếu kém gây ảnh hưởng đến
chất lượng dẫn đến việc sản phẩm không đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của thị trường, nhất
là các thị trường khó tính như Nhật Bản, Bắc Mỹ, EU…
Sản xuất hoa vẫn chưa thoát khỏi tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, khả năng tài
chính thấp, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà cung ứng đầu vào – người sản xuất –
đơn vị phân phối sản phẩm vì vậy sản phẩm tạo ra chất lượng chưa thật ổn định, chưa đủ
uy tín trên thị trường, sản lượng không đủ cung ứng theo đơn đặt hàng, giá thành chưa có
tính cạnh tranh.
2.2. Cơ hội và thách thức đối với các nhà xuất khẩu hoa ở Việt Nam
2.2.1.Cơ hội:
Nhu cầu về hoa bó, hoa mùa hè và phụ liệu trang trí đang tăng. Nhu cầu
tiêu thụ các sản phẩm hoa cao cấp cũng ở mức cao.
Việc cắt giảm thuế xuất khẩu và nhập khẩu của các nước trong tổ chức
thương mại thế giới WTO. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu hoa tươi
của Việt Nam sang các nước trong khu vực và thế giới.
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Interflora (một hệ thống
phân phối hoa uy tín trên thế giới.
Các sản phẩm có đặc trưng riêng hoặc mới mẻ như: hoa Hồng Đà Lạt có
đặc trương bong to, có hương thơm đặc trưng, lâu tàn
2.2.2. Thách thức:
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 13
Người tiêu dùng có xu hướng chuyển sang tiêu thụ các loại quà tặng
khác như socola, hàng mỹ nghệ
Phong cách tiêu dùng thay đổi liên tục khó có thể dự đoán: ví dụ “màu
sắc gì và chủng loại hoa nào sẽ là sản phẩm chủ đạo trong tương lai?”
Những yêu cầu về chất lượng ngày càng khắt khe hơn.
Cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt.
Ma trận SWOT:
Ma trận kết hợp (SWOT)
của ngành hoa tươi Việt
Nam.
Các cơ hội (O)
1. Nhu cầu về hoa trang trí
tăng.
2. Cắt giảm thuế.
3. Thường xuyên tổ chức
các dịp lễ tết để quảng bá,
marketing.
4. Việt Nam chính thức trở
thành thành viên của
Interflora (một hệ thống
phân phối hoa uy tín trên
thế giới.
Những nguy cơ (T)
1. Những mặt hàng thay thế
như:Socola, hang mỹ nghệ.
2. Phong cách tiêu dùng
thay đổi liên tục.
3. Những yêu cầu về chất
lượng ngày càng khắt khe.
4. Cạnh tranh ngày càng
khốc liệt.
Các điểm mạnh (S)
1. Phong phú về chủng
loại.
2. Điêu kiện tự nhiên thuận
lợi.
3. Lực lượng lao động dồi
dào, giá rẻ.
4. Được sự hỗ trợ của các
tổ chức nhà nước.
Phối hợp (S/O)
1. Chiến lược phát triển thị
trường (S
1
O
1
,
3
,
4
).
2. Chiến lược tăng cường
quảng bá (S
1
O
2
,
3
)
Kết hợp (S/T)
1.Chiến lược đa dạng hoá
chủng loại (S
1
,
2
T
1
,
2
).
2. Chiến lược nâng cao chất
lượng (S
4
T
3
)
Các điểm yếu (W)
1. Kỹ thuật trồng
hoa,Quản lý yếu kém.
2. Quy mô còn manh mún
nhỏ lẻ.
3. Chưa có một hành lang
pháp lý để bảo hộ ngành.
4. Giá thành cao.
Kết hợp (W/O)
1. Chiến lược mở rộng quy
mô sản xuất (W
2
,O
4
).
2. Chiến lược xây dựng các
hiệp hội (W
2
,
3
O
4
).
Kết hợp (W/T)
1. Chiến lược giảm chi phí
(W
4
T
1
,
2
,
3
,
4
).
2. Chiến lược đào tạo
chuyên môn (W
1
T
3
,
4
)
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét