Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

233 Một số ứng dụng của phương pháp định giá các công cụ phái sinh và một số gợi ý cho Việt Nam

ngời sở hữu chứng khoán (thẻ) có vốn vay âm (< 0) và tình thế đảo ngợc.
Ngoài ra trong xã hội còn rất nhiều loại chứng chỉ vay, cho vay khác và
chúng đều là chứng khoán nợ. Ví dụ tôi thờng xuyên ăn ở một nhà hàng và
ăn xong lại ký nợ vào một trang của quyển sổ của nhà ăn, thì trang sổ đó
cũng là chứng khoán nợ. Thị trờng mua bán nợ hiện nay đang đợc chú ý
phát triển ở nớc ta và theo nh lý luận trên đây thì thị trờng này là một bộ
phận của thị trờng chứng khoán. Theo định nghĩa nêu trên tín phiếu kho
bạc ngắn hạn cũng là trái phiếu, là chứng khoán vì nó hội đủ các tiêu chuẩn
của một chứng khoán theo định nghĩa trên đây. Nhìn chung đây là chứng
chỉ, công cụ chứng nhận ngời phát hành có nghĩa vụ nợ đối với ngời sở
hữu nó.
- Chứng khoán khác nh :
+ Quyền mua cổ phiếu (right): Quyền đợc mua cổ phiếu thờng của
một công ty trong một đợt phát hành cổ phiếu mới. Quyền này phát hành cho
những cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ vốn cổ phần của họ trong công ty và thời
gian thực hiện quyền thờng ngắn (thông thờng tối đa là 3 tháng). Gía bán cổ
phiếu mới theo quyền thấp hơn giá thị trờng hiện tại của nó. Ví dụ vừa qua
công ty Haphaco đã phát hành thêm 1 triệu cổ phiếu, ngời sở hữu 1 cổ phiếu
cũ có một quyền mua một cổ phiếu mới và thời gian thực hiện quyền này trong
3 tháng. Giá mua cổ phiếu mới theo quyền là 32 000đ trong khi đó giá thị
trờng của cổ phiếu này lúc phát hành quyền là khoảng 50 000đ
+ Chứng quyền ( warrant) là loại chứng khoán thờng đợc phát hành
kèm theo trái phiếu hoặc cổ phiếu u đãi, cho phép ngời nắm giữ chứng quyền
đó đợc quyền mua một khối lợng cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá
đã đợc xác định trớc trong thời kỳ nhất định. Thời kỳ đó thờng tơng đối dài
có khi là một năm, có khi vài năm, dăm năm ( nhng thờng lớn hơn 3 tháng).
Mức giá xác định thờng cao hơn giá hiện tại của cổ phiếu đó.
+ Quyền chọn : (option) Chúng ta phân biệt quyền chọn mua và quyền
chọn bán. Là thoả thuận để ngời có quyền đợc tự do lựa chọn mua (bán) một
loại hàng hoá ( chứng khoán) trong một thời kỳ trong tơng lai định trớc với
một số lợng quy định và theo giá thoả thuận trớc . Theo nghĩa này thì right
và warrant đều là quyền chọn.
+ Hợp đồng tơng lai ( futures) là hợp đồng ký thoả thuận trớc về việc
mua bán một loại hàng hoá (chứng khoán) trong tơng lai với số lợng và giá
cả đợc quy định khi ký hợp đồng. Hợp đồng tơng lai thờng đợc chuẩn hóa
và giao dịch sôi động ở các thị trờng chứng khoán.
Các loại chứng khoán kể trên sẽ đợc nghiên cứu kỹ trong các phần sau.
Nhng chúng ta cũng cần nói thêm rằng còn nhiều chứng khoán khác theo
khái niệm chứng khoán mà đề tài này đề xuất. Vi dụ Vé xổ số cũng có thể
đợc coi là chứng khoán vì nó là chứng chỉ vật chất chứng nhận quyền của
ngời sở hữu nó có quyền dùng nó để lĩnh thởng từ đơn vị phát hành khi trúng
số. Tơng tự một nắp chai bia báo trúng thởng ô tô BMW cũng là một chứng

15
khoán vì nó cũng là chứng chỉ vật chất chứng nhận quyền của ngời có nó đối
với hãng bia Tiger (đơn vị phát hành). Nhìn chung là công cụ, chứng chỉ công
nhận một quyền gì của ngời sở hữu nó đối với ngời phát hành đều là chứng
khoán theo định nghĩa mà chúng ta đã nêu ra.
Nh vậy khái niệm chứng khoán theo định nghĩa trên tơng đối rộng so
với cách hiểu hiện nay. Nếu vậy, thị trờng chứng khoán cũng đợc hiểu rộng
hơn và nó là thị trờng của tất cả chứng khoán nh đã liệt kê trên đây. Ví dụ thị
trờng vé xổ số cũng thuộc phạm trù thị trờng chứng khoán, vì vé xổ số cũng
là chứng khoán, thị trờng này chỉ có thị trờng sơ cấp là chính, thị trờng thứ
cấp cũng có, (ví dụ ngời ta săn lùng mua vé trúng thởng để hợp thức hoá thu
nhập bất chính) nhng không đáng kể. Thị trờng tín phiếu kho bạc ngắn hạn
cũng tơng tự là thị trờng chứng khoán, vì tín phiếu kho bạc cũng là chứng
khoán. Thị trờng chứng khoán mà chúng ta thờng hiểu chỉ là một mảng trong
tổng thể thị trờng chứng khoán theo định nghĩa trên đây. Đó là thị trờng
chứng khoán của các công cụ tài chính có thời hạn trên một năm hoặc thị
trờng chứng khoán tập trung.
Trên đây là định nghĩa đầy đủ của chứng khoán. Những chứng khoán có
thời hạn ngắn hơn 1 năm (nh tín phiếu kho bạc) thờng đợc giao dịch trên thị
trờng tiền tệ. Những chứng khoán không chuẩn hoá, nh chứng chỉ công nhận
tiền góp vào công ty trách nhiệm hữu hạn (có thể gọi là công cụ chứng
khoán)thì không thể giao dịch trên thị trờng chứng khoán tập trung. Bởi vậy
chúng ta có thể đa ra một định nghĩa hẹp, dễ hiểu về chứng khoán nh tinh
thần Nghị định 144 :

Định nghĩa đơn giản về chứng khoán: Chứng khoán là chứng chỉ vật
chất, bút toán ghi sổ, hoặc bút toán điện tử xác nhận các quyền và lợi ích
hợp pháp của ngời sở hữu chúng đối với tài sản hoặc vốn cuả tổ chức phát
hành, bao gồm :
Cổ phiếu
Trái phiếu

Chứng chỉ quỹ đầu t

Chứng khoán phái sinh, nh Chứng quyền, Quyền mua cổ
phần, Hợp đồng quyền chọn, Hợp đồng tơng laivv
Nhìn chung chứng khoán có thời hạn dài hơn 1 năm và có thể giao
dịch đợc tại các Sở giao dịch tập trung.

1.1.2. Công cụ phái sinh và chứng khoán phái sinh.

Trong tài liệu tham khảo (1) đã nghiên cứu khá kỹ về các công cụ phái
sinh. Chúng ta hiểu công cụ phái sinh là công cụ xuất phát từ công cụ gốc nào

16
đó. Theo tổng kết của tài liệu đã dẫn thì các công cụ phái sinh có thể đợc tổng
kết trong bảng sau:
6

Biểu 1.1 : Các công cụ phái sinh

Tài sản cơ
sở
(Underlying
Asset)
Hợp
đồng
tơng lai
(Futures)
Quyền
chọn
(Option)
Hợp
đồng
hoán đổi
(Swaps)
Hợp đồng
kỳ hạn
(Forward)
Sản phẩm
tổng hợp
(Synthetic
Product)
Tiền gửi
(Deposit)
Hợp
đồng
tơng lai
lãi suất
Mũ, sàn
và cổ
(caps,
floors,
collars)
Hoán đổi
lãi suất
Kỳ hạn lãi
suất
Quyền chọn
về hợp đồng
tơng lai lãi
suất, hợp
đồng hoán đổi
Trái phiếu
Hợp
đồng
tơng lai
trái
phiếu
Quyền
chọn trái
phiếu (tiền
mặt)
Quyền chọn
về hợp đồng
tơng lai trái
phiếu
Ngoại tệ
Hợp
đồng
tơng lai
tiền tệ
Quyền
chọn tiền
tệ
Hoán đổi
tiền tệ
Kỳ hạn
trao đổi
ngoại tệ
Quyền chọn
về hợp đồng
tơng lai tiền
tệ, hợp đồng
hoán đổi tiền
tệ
Vốn, cổ
phiếu
Hợp
đồng
tơng lai
chỉ số
vốn; Hợp
đồng
tơng lai
về cổ
phiếu
khác
7
Quyền
chọn vốn
Hoán đổi
vốn
Quyền chọn
về hợp đồng
tơng lai chỉ
số vốn, hợp
đồng tơng lai
mua bán cổ
phiếu
Hàng hoá
Hợp
đồng
tơng lai
hàng hoá
Hoán đổi
hàng hoá
Quyền chọn
về hợp đồng
tơng lai hàng
hoá

6
Tài liệu (1) trang 4,5
7
Phần chữ nghiêng là phần đa thêm của đề tài này.

17
Nh vậy, khái niệm công cụ phái sinh khá rộng bao gồm cả công cụ phái
sinh từ những tài sản không phải là chứng khoán và chứng khoán. Nhờ phái
sinh chúng mới trở thành loại chứng khoán đặc biệt. Theo nghĩa rộng, theo
định nghĩa chứng khoán ta đã có ở phần trớc thì tất cả công cụ phái sinh đều
là chứng khoán và là chứng khoán phái sinh. Bởi vì thông thờng chúng là
chứng chỉ vật chất, bút toán ghi sổ và hiện nay có thể là bút toán điện tử (khi
hợp đồng có thể ký nhờ phơng tiện điện tử ) đảm bảo cho ngời sở hữu nó có
quyền gì đó đối với ngời phát hành.
Trong tài liệu đã dẫn (1)
8
đã có định nghĩa về chứng khoán phái sinh:
Chứng khoán phái sinh là một loại công cụ tài chính mà giá trị của nó phụ
thuộc vào giá trị của một thứ khác, cơ sở và dễ thay đổi. Chứng khoán phái
sinh, bản thân nó không có giá trị nội tại , mà giá trị của nó bắt nguồn từ giá trị
của một công cụ khác. Giá trị của nó thay đổi cùng với sự thay đổi giá của công
cụ cơ sở. Định nghĩa này là một định nghĩa mang tính khoa học hơn về chứng
khoán phái sinh có thể chấp nhận đợc. Tuy vậy, yếu tố dễ thay đổi cha
thật chính xác vì nếu giá trị chứng khoán gốc (ví dụ trái phiếu) khó thay đổi thì
giá trị chứng khoán phái sinh cũng khó thay đổi chứ không luôn luôn dễ
thay đổi.
Trong cuốn từ điển tài chính và đầu t của John Downes và Jordan Elliot
Goodman
9
có định nghĩa công cụ phái sinh : Derivative short for devirative
instrument, a contract whose value is based on the performance of an
underlying financial asset, index, or other investment. For example an ordinary
option is a devirative because its value changes in relation in the performance
of an underlying stock. A more complex example would be an option on a
futures contract, where the option vulue varies with the value with the futures
contract which, in turn, varies with the value of an underlying commodity or
security. Derivatives are available based on the performance of assets, interest
rates, currency exchanges rates, and various domestic and foreign indexes.
Derivatives afford leverage and, when used properly by knowledgeable
investors, can inhance returns, and be useful in hedging portfolios. they gained
notoriety in the late 80s, however, because of problems involved in program
trading, and in the 90s, when the mutual funds, municipalities, corporations,
and leading banks suffered large losses because unexpected movements in
interest rates adversely affected the value of derivatives . Trong định nghĩa này
công cụ phái sinh đợc định nghĩa là một hợp đồng và giá trị của nó phụ thuộc
vào tài sản cơ sở. Tài sản cơ sở có thể là tài sản, lãi suất, tỷ giá hối đoái, các chỉ
số .
Trong cuốn Từ điển Thị trờng chứng khoán của Đặng Quang Gia
10

định nghĩa devirative instrument : Công cụ phái sinh . Công cụ tài chính có

8
Tài liệu (1) trang 3
9
Dictionary of Finance and Investment Terms USA- 1995 p. 136
10
Nhà xuất bản thống kê- 1996 trang 307

18
giá trị dựa trên chứng khoán khác. Ví dụ một hợp đồng Option là một công cụ
phái sinh vì giá trị của nó bắt nguồn từ một chứng khoán cơ sở , chỉ số chứng
khoán hay hợp đồng futures . Định nghĩa này coi công cụ phái sinh chỉ bắt
nguồn từ chứng khoán.
Trong giáo trình đào tạo của Học viện chứng khoán úc về công cụ phái
sinh có định nghĩa sau
11
: A derivatives is a date specific contract to buy or
sell an underlying physical asset ( such us wheat or wool) or , more typically, a
finacial instrument (such as an index or stock). The contract ( whether its a
forward, futures or option contract) is derived from underlying asset and
therefore would not exist without it. ( There are some exceptions to this where
there is no underlying asset or finacial instrument such us weather derivaties ).
Trong định nghĩa này công cụ phái sinh ( đợc coi là chứng khoán phái sinh
trong đề tài này) đợc định nghĩa là một hợp đồng mua bán một hàng hoá cụ
thể hay công cụ tài chính có xác định thời gian thực hiện. Nh vậy, tài sản cơ
sở có thể là chứng khoán gốc (cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán khác ) hoặc
cũng có thể không phải chứng khoán, mà là hàng hoá hoặc ngay cả những sự
kiện ngẫu nhiên không có giá trị gì cả, nh thời tiết chẳng hạn. Ví dụ nh ngời
ta có thể ký hợp đồng tơng lai mua, bán gạo theo thời tiết ma thuận gió hoà
chẳng hạn : Nếu thời tiết không thuận lợi Ma không thuận, gió không hoà ở
Phillipin, thì Việt nam sẽ bán cho Phillipin 1 tr. tấn gạo vào tháng 7vv. Điều
kiện ở đây là ma thuận gió hoà không có giá trị gì cả.
Qua nghiên cứu một số tính chất, bản chất, định nghĩa, khái niệm về
chứng khoán, công cụ phái sinh và chứng khoán phái sinh nh trên, chúng ta có
thể đi đến định nghĩa chứng khoán phái sinh với nghĩa rộng sau đây:

Định nghĩa theo nghĩa rộng của chứng khoán phái sinh : Chứng
khoán phái sinh là một loại chứng khoán đặc biệt xuất phát từ một tài sản,
công cụ cơ sở và giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị, trạng thái của tài sản,
công cụ cơ sở đó.
Trong định nghĩa trên chúng ta đã kế thừa kết quả nghiên cứu và định
nghĩa, khái niệm chứng khoán trong phần trớc của đề tài. Chứng khoán phái
sinh trớc tiên phải thoả mãn những đặc điểm của chứng khoán (là chứng
khoán) và một số đặc điểm đặc thù của chứng khoán phái sinh.

Một ví dụ nhỏ về chứng khoán phái sinh theo định nghĩa này:

Ví dụ 1 : Nh trên ta đã lý luận vé số là một loại chứng khoán. Giả sử tôi
ký một hợp đồng mua lại vé trúng thởng của một ngời chơi xổ số chuyên
nghiệp với giá tăng 2%; 5%; 10% so với mức trúng thởng của các loại vé trúng
thởng tơng đơng dới 100 triệu đồng, trên 100 triệu đồng và dới 500 triệu

11
SIA- 5204- Fundamentals of derivatives Sysney 2003 p. PR-3

19
đồng, và trên 500 triệu đồng . Hợp đồng này thực chất là hợp đồng tơng lai và
là một chứng khoán phái sinh vì nó là chứng chỉ vật chất đảm bảo cho tôi đợc
mua vé trúng thởng của ngời chơi xổ số. Hợp đồng này chỉ có giá trị khi
ngời chơi xổ số có vé đúng số, nếu không đúng thì hợp đồng của tôi không có
giá trị. Tức là giá trị hợp đồng phụ thuộc vào giá trị vé số trúng thởng của
ngời chơi xổ số và đây là tài sản cơ sở.
Chúng ta có thể hiểu chứng khoán phái sinh qua ví dụ có tính chất so
sánh tơng tự sau: Cây ký sinh là một sinh vật ( hay một loại cây) mà nó lấy
nớc, dinh dỡng từ một cây khác gọi là cây gốc ( cơ sở) và đời sống của nó
phụ thuộc vào đời sống của cây gốc đó. Nếu theo luồng suy nghĩ này thì chứng
khoán phái sinh chỉ có thể là những chứng khoán lấy chứng khoán gốc ( cổ
phiếu, chứng chỉ quỹ đầu t và trái phiếu) làm nền tảng. Nh vậy sẽ bỏ qua một
mảng lớn những chứng khoán phái sinh mà gốc không phải là chứng khoán nh
hợp đồng tơng lai, hợp đồng quyền chọn hàng hóa (gốc là hàng hóa), swaps
Theo khái niệm chứng khoán phái sinh của đề tài này thì khái niệm chứng
khoán phái sinh rộng hơn, cây gốc ở đây không chỉ là cây mà nó có thể là
nguồn khác nh món đất trên một gò đá chẳng hạn, miễn là sinh ra một loại cây
có một số đặc tính riêng
Trong tiếng Anh ngời ta cũng có hai từ riêng biệt: Derivative và
devirative instrument, nhng họ cho hai là một (Derivative short for devirative
instrument) và không phân biệt chứng khoán phái sinh và công cụ phái sinh.
Theo quan điểm của đề tài này chúng ta nên phân biệt Công cụ phái
sinh và Chứng khoán phái sinh. Công cụ phái sinh bao gồm nghĩa rộng
hơn bao gồm tất cả các chứng khoán phái sinh theo định nghĩa trên đây. Còn
chứng khoán phái sinh chỉ nên định nghĩa cho một bộ phận của các công cụ
phái sinh, công cụ đợc, hoặc có thể đợc giao dịch tại thị trờng chứng khoán
tập trung.
Theo quan niệm này chúng ta sẽ đa ra định nghĩa dề hiểu hơn, đơn giản
hơn về chứng khoán phái sinh :

Định nghĩa đơn giản về chứng khoán phái sinh: Chứng khoán phái
sinh là một loại chứng khoán đặc biệt, bao gồm:
- Quyền mua cổ phiếu (right)
- Chứng quyền (warrant)
- Hợp đồng tơng lai (Futures)
- Hợp đồng quyền chọn (Option)
- Chứng khoán phái sinh khác
Các chứng khoán này đợc hay có thể đợc giao dịch tại thị trờng
chứng khoán tập trung

Thực tế quyền mua cổ phiếu và chứng quyền đều là hợp đồng quyền
chọn mua cổ phiếu. Việc mua cổ phiếu ở đây không bắt buộc

20
1.2. Phân loại và đặc điểm của chứng khoán phái sinh

Chúng ta hiểu chứng khoán phái sinh theo nh định nghĩa theo nghĩa hẹp
trên đây. Trớc tiên nó phải là chứng khoán và sau đó thỏa mãn thêm các điều
kiện về đặc tính là xuất phát từ một tài sản cơ sở và giá trị của nó phụ thuộc
vào giá trị tài sản cơ sở. Chứng khoán phái sinh trong quan niệm hẹp của đề tài
này là chỉ những công cụ phái sinh đợc hoặc có thể đợc giao dịch trên thị
trờng chứng khoán tập trung.

Sau đây chúng ta hãy xem xét một số chứng khoán phái sinh điển hình
nhất và đang đợc giao dịch rất sôi động trên thị trờng chứng khoán của các
nớc trên thế giới, Nó cũng có khả năng phát triển nhanh trong tơng lai ở
nớc ta khi nền kinh tế thị trờng và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của ta
đi vào quỹ đạo phát triển.
- Hợp đồng kỳ hạn
- Hợp đồng tơng lai (Futures)
- Hợp đồng quyền chọn (Option)
- Quyền mua cổ phiếu (right)
- Chứng quyền (warrant)
- Một số chứng khoán phái sinh khác

Về bản chất hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tơng lai rất giống nhau. Có
thể nói hợp đồng kỳ hạn là cha đẻ của hợp đồng tơng lai, hợp đồng kỳ hạn là
chứng khoán có trớc và do mặt hạn chế của nó nh khó tìm đối tác trong việc
ký hợp đồng, rủi ro trong thanh toán, giao hàng, khả năng chuyển nhợngvv
nên hợp tơng lai đã ra đời và phát triển. Hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tơng
lai có một số điểm khác nhau trong thao tác kỹ thuật.
Sau đây, chúng ta sẽ làm rõ bản chất và đặc điểm của từng loại chứng
khoán phái sinh kể trên thông qua các ví dụ cụ thể. Để dễ hiểu các cộng tác
viên của đề tài đã cố gắng lấy các ví dụ Việt Nam hoá và trình bày theo cách
hiểu của riêng mình, không chỉ dịch thuật, sao chép rập khuôn, khó hiểu.

1.2.1. Hợp đồng kỳ hạn (Forwards)

Hợp đồng kỳ hạn (Forward) là hợp đồng thoả thuận trớc để mua
hoặc bán một lợng tài sản, chứng khoán ( chứng khoán cũng là một loại tài
sản) tại một thời điểm nhất định trong tơng lai với một mức giá xác định
tr
ớc.
Hợp đồng kỳ hạn là một loại công cụ phái sinh. Hợp đồng kỳ hạn
Forward khác với loại hợp đồng giao ngay, khi hợp đồng giao ngay là sự thoả
thuận mua hoặc bán một tài sản vào ngày hiện tại. Trong trờng hợp hợp đồng
kỳ hạn thì một bên đối tác sẽ ở vào vị thế mua khi đồng ý mua một tài sản cơ

21
sở vào một thời điểm nhất định trong tơng lai với một mức giá nhất định. Bên
đối tác còn lại sẽ ở vào vị thế bán, tức là đồng ý bán tài sản vào ngày nói trên
và với mức giá nói trên. Giá quy định trong hợp đồng kỳ hạn đợc gọi là giá
giao hàng. Thông thờng ngòi ta dùng hợp đồng kỳ hạn để phòng tránh rủi
ro. Hợp đồng kỳ hạn khác với hợp đồng tơng lai ở thời điểm giao hàng, hợp
đồng kỳ hạn quy định thời điểm cụ thể cho việc giao hàng, còn hợp đồng
tơng lai thì thời gian thờng đợc quy định vào một hoặc một số khoảng thời
gian và một số điểm khác sẽ liệt kê sau.
Ví dụ 2- Tôi cần 15 000 US$ vào ngày 15/11/2004 cho một mục đích nào
đó, để đề phòng tỷ giá có thể tăng cao tôi ký một hợp đồng kỳ hạn 6 tháng vào
15/5 với một Ngân hàng, theo đó tôi sẽ mua 15 000 $ từ Ngân hàng này vào
ngày tôi cần tiền là 15/11 với giá là 15800đ/1$. Nh vậy tôi ở vị thế mua và
Ngân hàng ở vị thế bán. Giá 15800đ/1$ là giá kỳ hạn 6 tháng và cũng là
giá giao hàng khi đến hạn thực hiện hợp đồng. Có nhiều yếu tố quyết định giá
kỳ hạn, nhng thời gian là một trong những yếu tố quan trọng. Đến ngày
15/11 tôi buộc phải thực hiện hợp đồng và phải mua 15 000$ theo giá đã thỏa
thuận là 15800đ/1$ cho dù tỷ giá thị trờng vào ngày đó nh thế nào. Ví dụ
vào ngày đó tỷ giá thị trờng cao hơn 15800đ/$ thì tôi đợc lợi vì tôi cần bỏ ít
tiền việt hơn để có 15000$ so với phải mua tại thị trờng giao ngay không theo
hợp đồng kỳ hạn. Nếu tỷ giá thấp hơn 15800 đ/$ thì ngân hàng đợc lợi vì họ
đợc bán cho tôi theo hợp đồng với giá cao hơn nếu nh họ bán ra thị trờng
giao ngay. Vấn đề quan trọng ở đây là tôi có thể kế hoạch hóa hay biết trớc để
chuẩn bị lợng tiền mặt cần thiết để mua $ và phòng tránh đợc rủi ro. Đây
cũng là tác dụng cơ bản và quan trọng của công cụ phái sinh này.

Trong tài liệu (2)
12
trang 2 có ví dụ sau :
Tỷ giá ngoại tệ kỳ hạn và giao ngay đối với đồng sterling, ngày 8/5/1995

Biểu 1.2 : Giá kỳ hạn và giao ngay của sterling
Giao ngay 1.6080
Kỳ hạn 30 ngày 1.6076
Kỳ hạn 90 ngày 16056
Kỳ hạn 180 ngày 1.6018

Qua ví dụ trên ta thấy nếu kỳ hạn càng ngắn thì giá kỳ hạn càng cao, kỳ
hạn càng dài thì giá càng thấp, bởi vì rủi ro của khoản đầu t càng dài thì
càng lớn và tất nhiên giá cả của nó phải hạ hơn.

Nếu gọi giá giao ngay vào thời điểm đáo hạn hợp đồng là S và giá kỳ hạn
là E, thì có thể xẩy ra ba trờng hợp :

12
John C. Hull Options, Futures and other derivatives- University of Toronto 1997

22
a) S > E- Trong trờng hợp này ngời có vị thế mua quyền mua có lợi là
S - E cho mỗi đồng ngoại tệ
b) S < E - Ngời có vị thế bán quyền mua có lãi là E - S cho mỗi đồng
ngoại tệ
c) S = E - Không có ai thua và thiệt. Trờng hợp này rất ít xẩy ra.
Trong trò chơi này nhìn chung có ngời thắng và ngời thua, hay ngời
lãi và ngời lỗ. Tổng của chúng phải bằng không. Tuy nhiên trò chơi này
vẫn rất có ý nghĩa là phòng tránh đợc rủi ro, tạo thế chủ động cho ngời
chơi nh đã phân tích trong ví dụ ở trên.
Bên cạnh đó có nhiều ngời không vì mục đích phòng ngừa rủi ro nh
bản thân nguyên nhân gốc cỗi đẻ ra chính chứng khoán phái sinh mà họ
lợi dụng chúng để kinh doanh kiếm lời thậm chí đầu cơ chúng. Đây cũng
là cơ hội tạo ra trò chơi, tạo việc làm cho nhiều ngời và tạo ra sự sôi
động cho thị trờng chứng khoán phái sinh. Xét trên phơng diện toàn
xã hội, thị trờng chứng khoán phái sinh cấp hai có rất nhiều điểm tích
cực, ví dụ nh giúp cho chứng khoán phái sinh có khả năng lu thông tốt
hơn, tạo khả năng thanh khoản hơn giúp việc đổi chủ hợp đồng đễ hơn,
khả năng cung ứng hàng hoá, dịch vụ đa dạng hơn và nh vậy tạo điều
kiện thuận lợi cho thị trờng sơ cấp phát triển tốt hơn. Tuy nhiên, cũng
nh chứng khoán nói chung chứng khoán phái sinh cũng chứa đựng
những yếu tố tiêu cực, nh nạn đầu cơ, trục lợi và bản thân thị trờng
chứng khoán phái sinh mang tính đánh bạc nhiều hơn chứng khoán
thông thờng.

Hợp đồng kỳ hạn( tơng lai) mua, bán cổ phiếu

Sau đây chúng ta hãy xem xét bản chất của hợp đồng kỳ hạn mua, bán cổ
phiếu qua ví dụ sau đây.
Ví dụ 3: Giả sử giá hiện tại của một lô cổ phiếu AGF là 400 000đ/lô và
lãi suất không có rủi ro đối với đầu t trong năm trớc đó là 7%/ 1 năm. Vậy
thì giá trị hợp lý của giá kỳ hạn 1 năm của lô cổ phiểu này bao nhiêu?
Đầu tiên hãy giả định rằng giá kỳ hạn 1 năm là 440000đ/ 1lô. Ngời giao
dịch chứng khoán có thể có hành động sau:
1. Vay 400000đ trả lãi 7% trong 1 năm
2. Mua 1 lô cổ phiếu AGF
3. Tham gia vào hợp đồng kỳ hạn vị thế bán, để bán với giá 440000đ sau
1 năm.
Lãi suất phải trả cho việc vay 400000đ là 28000$. Ngời giao dịch, do
vậy, có lợi nhuận là 120000đ . Bất kỳ giá kỳ hạn 1 năm nào lớn hơn 428000đ
đều làm cho chiến lợc giao dịch trên có lãi. (giả sử chúng ta bỏ qua phí giao
dịch và quyền lợi khác nh quyền lợi nhận cổ tức)

23
Hãy giả định tiếp tục rằng giá kỳ hạn một năm của lô cổ phiếu AGF là
380000đ/lô ( ở đây chúng ta cũng giả sử chúng ta bỏ qua phí giao dịch và quyền
lợi khác nh quyền lợi nhận cổ tức). Một ngời đầu t có một danh mục đầu t
trong đó có cổ phiếu AGF có thể:
1. Bán cổ phiếu với giá 400000đ/lô
2. Đầu t để có lãi suất 7%
3. Tham gia vào hợp đồng kỳ hạn vị thế mua để mua cổ phiếu AGF sau 1
năm với giá 380000đ/lô.
Tổng số tiền lãi gộp là 20000đ+ 7%x400000đ= 48000đ
Trong bất kỳ tình huống nào, nơi có giá kỳ hạn thấp hơn 428000 đ, các
nhà đầu t nắm giữ cổ phiếu AGF đều có lợi khi bán cổ phiếu và tham gia vào
hợp đồng kỳ hạn vị thế mua theo cách vừa trình bày.
Chiến lợc đầu t đầu tiên sẽ có lợi khi giá kỳ hạn 1 năm của cổ phiếu
AGF cao hơn 428000đ/lô. Vì có rất nhiều ngời giao dịch muốn tận dụng cơ
hội này, nên nhu cầu về các hợp đồng kỳ hạn vị thế bán sẽ tăng và giá kỳ hạn
1 năm của cổ phiếu AGF sẽ rơi xuống. Chiến lợc thứ hai sẽ có lợi đối với
những ngời đầu t giữ AGF trong danh mục đầu t của mình khi giá kỳ hạn 1
năm của cổ phiếu AGF thấp hơn 428000đ/lô. Vì những ngời đầu t cố gắng
tận dụng lợi thế này nên cầu về hợp đồng kỳ hạn vị thế mua sẽ tăng và giá
kỳ hạn 1 năm của cổ phiếu AGF sẽ tăng lên. Giả thiết rằng các cá nhân sẽ luôn
muốn tận dụng lợi thế cơ hội chênh lệch giá khi giá tăng, chúng ta có thể kết
luận rằng những hành vi của các nhà giao dịch sẽ làm cho giá kỳ hạn 1 năm
của cổ phiếu AGF tiến đến giá trị chính xác là 428000đ/lô. Nếu hình thành ở
bất kỳ một giá nào khác cũng sẽ dẫn tới cơ hội kinh doanh chênh lệch giá. Quy
luật cung cầu về hợp đồng kỳ hạn sẽ điều tiết để giá kỳ hạn luôn hớng tới giá
trị của nó là 428000đ/lô. Tuy nhiên giá này (428000 đ) là giá giao hàng (hay
giá thực hiện), còn giá thực tế tơng lai của hàng hoá đó (cổ phiếu) hình thành
ra sao còn là một ẩn số. Mức giá thực tế trong tơng lai của cổ phiếu sẽ quyết
định mức lãi trong phi vụ làm ăn này và chính vì thế nó sẽ quyết định phần lớn
giá hợp đồng tơng lai. Với suy luận nh vậy, giá trị của hợp đồng tơng lai
cũng là một ẩn số không ai có thể dự báo chính xác đợc.

1.2.2. Hợp đồng tơng lai (Futures)

Hợp đồng t
ơng lai là một hợp đồng thoả thuận trớc để mua hay
bán một lợng tài sản, hàng hoá hoặc một khoản tài sản tài chính tại
một mức giá cố định vào một thời gian trong tơng lai.
Các hợp đồng tơng lai có từ rất sớm khi thị trờng sản phẩm nông
nghiệp cần đợc bảo vệ khỏi rủi ro. Ngời nông dân đã có hợp đồng theo
ngôn ngữ Việt nam là bán lúa non, bán cà phê non, bán nhãn, vải
non vv. Đó là những hợp đồng ký trớc thoả thuận họ sẽ bán sản phẩm

24

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét