Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

131 Hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách xã góp phần thực hiện chương trình phát triển nông thôn Cà Mau

Đề TàI NGHIÊN CứU KHOA HọC
________________________________________________________________________________________
Đến buổi đầu kỷ nguyên tự chủ ( đầu thế kỷ X ), nhà cải cách Khúc Hạo
(với đờng lối chính trị gói trong chữ Khoan - Giản - An - Lạc) đã chia cả nớc
thành những đơn vị hành chính gồm các: lộ, châu, giáp, xã. Trên thực tế chỉ thấy
sử cũ nói cụ thể về các cấp giáp và xã. Giáp chính là hơng ngày trớc.
Khúc Hạo đặt thêm, ở thời của mình, đợc 150 giáp, cộng với số giáp có từ tr-
ớc, thành tất cả 314 Giáp. Mỗi Giáp có một quản giáp và một phó tri giáp
để trông nom việc thu thuế. Còn mỗi xã thì đặt xã quan, gồm một Chánh lệnh
trởng và một tá lệnh trởng ( về sau trong tổ chức giáp ở các làng xã, vẫn còn
bảo lu hiệu: lềnh, Ông lềnh, Cai lềnh ).
Sang thời Trần (thế kỷ XIII-XIV), triều đình ra lệnh phân bổ các chức Đại
t xã và tiểu t xã, cùng với các xã trởng, Xã giám (đều là xã quan) nắm
quyền ở cấp hành chính cơ sở. Đại t xã là chức quan từ ngũ phẩm trở lên, Tiểu
t xã là chức quan từ lục phẩm trở xuống, cùng với các xã trởng, xã giám chịu
trách nhiệm quản lý hộ khẩu, đôn đốc binh dịch, thuế khoá.
Thế là từ việc đặt định và quản lý làng xã thời xa xa (thời cổ đại và trung
cổ),thực thể làng xã và văn minh làng xã đã hiện hình. Đó là - nh nhà dân tộc học
Nguyễn Đức Từ Chi hình dung: sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định c và
cộng c của ngời Việt trồng trọt làm nông nghiệp lúa là chủ lực, từ cái nôi đầu tiên
của ngời Việt là đồng bằng và trung du bắc bộ, mà nhân ra trên cả nớc. Việc nhà n-
ớc cấp cao (dân tộc tự chủ hoặc ngoại bang đô hộ) trải qua các đời, luôn tìm cách
với xuống/ và với tới/ cái thực thể - sản phẩm làng xã và văn minh làng xã ấy trong
đó có vấn đề thu chi - ngân sách - thuế khoá - tiền tệ đã cho thấy cái thế lỡng
trong suốt lịch sử, vốn là một trong những đặc trng quan trọng của làng xã và văn
minh làng xã, và một trong những biểu hiện quan trọng nhất của cái thế lỡng ấy
chính là: sự tự tồn (tự trị, bảo lu truyền thống ) Trong quan hệ gắn bó giữa
làng nớc của các làng xã.
Sống ở làng, sang ở nớc - ngời của các làng xã, ngày xa biểu đạt cái lẽ
sống của mình theo quan hệ diú đôi nh thế. (đồng thời sự gắn bó hữu cơ, thờng hằn
và sâu sắc, đến độ thốt lên lời cảm thán, kêu, cầu, thì cùng với trời đất ơi !). tuy
nhiên từ đáy lòng (tâm thức), ngời dân xã nào cũng coi làng xã của mình mới là cái
cơ bản: Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn !.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra các cơ sở và điều kiện để cho các làng xã cổ
truyền trở thành một thực thể luôn giữ vai trò cơ bản trong lịch sử Việt Nam
(Hằng số của lịch sử và văn minh). Đó là:
Xét về mặt kinh tế: Sự định hớng làm ăn để sống còn đã từ cái hích ban
đầu ở thời xa xa mà thành đờng lối không thay đổi, là nông nghiệp trồng lúa nớc,
____________________________________________________________________________________
MAI HữU CHINH
5
Đề TàI NGHIÊN CứU KHOA HọC
________________________________________________________________________________________
gắn liền với chế độ ruộng đất công (Công điền công thổ, Ruộng công làng xã,
Chế độ công điền Là hàng loạt vấn đề - liên kết kết và đồng thời - tạo cơ sở
kinh tế cho sự tự tồn của làng xã và văn minh làng xã).
Về mặt tinh thần: Tín ngỡng thành hoàng và hệ thống phong tục tin thờ vị
thần riêng của từng làng, mở rộng thành văn hoá làng, trong đó có yếu tố ngôn
ngữ (thổ ngữ, phơng ngữ). Vừa là sợi dây hết sức thiêng liêng và quan trọng, gắn
bó những ngời cùng làng xã, vừa khu biệt các làng xã với nhau, làm nổi nét sắc
thái địa phơng của các làng xã: Thánh làng nào, làng ấy thờ, chửi cha không
bằng pha tiếng
Về mặt thiết chế: từ những hình thức tự quản sơ khai, trong tiến trình lịch sử
lâu dài đã dần dần vừa bảo lu vừa xây dựng - hình thành nên một bộ máy quản trị
làng xã khá đặc biệt, mà đến cuối thời trung cổ thì đọng thể thức lại thành hai hội
đồng là:
- Hội đồng kỳ mục, tức bộ máy quản lý xã thôn cổ truyền (gồm một số chức
sắc của làng đứng đầu là một viên Tiên chỉ và một hai Thứ chỉ) là cơ quan có
toàn quyền quyết định các công việc làng xã.
- Hội đồng lý dịch, tức đại diện cho bộ máy nhà nớc phong kiến ở làng xã
(đứng đầu là một lý trởng và một hai phó lý) do dân cử ra và nhà nớc công
nhận, chịu trách nhiệm thi hành các công việc (Chủ yếu là su thuế binh dịch) của
làng xã.
Với bộ máy quản lý làng xã này và ở chỗ bộ máy này, cái này gọi là tính tự
trị làng xã (Một vơng quốc nhỏ trong vơng quốc lớn) và cả tính dân chủ của
làng xã nữa, thấy thể hiện ra rõ nhất. Đây còn là và chính là chỗ tập trung những
vấn đề của cái gọi là quỹ làng, chi tiêu của làng, phụ thu lạm bổ - Chính là
những vấn đề của ngân sách xã trong xã hội văn minh và làng xã cổ truyền. [4]
Đến cuối thời Tự Đức, tức là thời nớc ta còn rơi vào sự thống trị của thực
dân Pháp, quan của triều đình bổ ra chỉ có đến phủ, huyện, còn tổng trở xuống
thuộc quyền tự trị của dân. Dân tự chọn lấy ngời của mình mà cử ra coi mọi việc
trong hạt. Tổng là một khu có mấy làng hay xã, có một cai tổng hay phó tổng do
hội dồng kỳ dịch các làng cử ra coi việc thuế khoá, đê diều và mọi việc trị an của
tổng[2]. Theo nhà viết sử Trần Trọng Kim, thì: làng hay xã là phần tử cốt yếu của
dân. phong tục lệ luật của làng nào riêng làng ấy, triều đình không can thiệp đến,
cho nên tục ngữ có câu phép vua thua lệ làng. Làng có hội đồng kỳ dịch do dân
cử ra để trông coi hết cả mọi việc. Hội đồng ấy có ngời tiên chỉ và thứ chỉ đứng
đầu rồi có lý tổng và phó lý do hội đồng kỳ dịch cử ra để thay mặt làng mà giao
thiệp với quan t, có tuần định coi việc cảnh sát trong làng. Khi một ngời nào can
____________________________________________________________________________________
MAI HữU CHINH
6
Đề TàI NGHIÊN CứU KHOA HọC
________________________________________________________________________________________
phạm việc gì thì quan trình cứ ở làng, cho nên ai đi đâu hay làm việc gì cũng phải
lấy làng làm gốc.
Sự hình thành của làng xã ở miền Nam là kết quả trực tiếp của quá trình di
dân lập ấp từ phía Bắc vào Nam. Tuy vậy, khi bàn đến làng xã ở đây ngời ta
không thể đồng nhất với hình ảnh Luỹ tre làng hoặc một khái niệm tơng tự nào
đó, vì làng xã ở phía Nam đợc trải rộng ra theo cảnh sông nớc mênh mông của
thiên nhiên tại đây chứ không cụm lại nh cảnh làng, xã phía Bắc.
Vấn đề hình thành làng xã ở miền Nam, nhà nghiên cứu Sơn Nam có những
dòng ghi nhận sau đây:
Xã, thôn là là đơn vị cơ sở của xã hội thời trớc. Thờng phân biệt xã là làng
lớn, thôn là làng nhỏ. Dân c xã, thôn ghi vào bộ đinh, không ghi đàn bà trẻ con.
để thành lập một xã chỉ cần năm, sáu ngời dân đinh, theo nghĩa có vốn, có
đất đứng đơn, bảo đảm với triều đình về nghĩa vụ thuế đinh, thuế điền. Thời phong
kiến, tấc đất ngọn rau ơn Chúa, muốn lập công phải xin phép vua. Bỗng dng mà
lập làng, tự tiện xử kiện, thâu thuế, đóng mộc v.v bị ghép tội làm loạn.
Ngời giầu, có thế lực đứng ra lập làng, có nhiều cái lợi: vừa có địa vị, vừa
bóc lột nhân công dễ dàng, ban ơn bố đức cho ngời đến c ngụ. Khi chết đợc dân
thờ nh một tiên triều, hậu triều trong đình. Khi cúng đình con cháu đợc ăn một
mâm riêng, sang trọng; nhằm lúc sa sút cũng đợc làng nâng đỡ. Làng mới lập dễ
thu hút ngời nghèo, thất nghiệp, vỡ nợ từ nơi khác đến. Thông thờng thì thời gian
đầu ngời đứng ra lập làng phải ra tay giúp đỡ những ngời mới tới để lấy tiếng tốt.
đơn xin ra lập làng thành hai bổn, nộp quan Bố chánh, trong đơn phải ghi
rõ:
a- Ranh giới bốn bên của làng (tứ cận);
b- Tên họ ngời đứng lập, những ngời chịu đóng thuế. Đúng ra là tên của chủ
nhà (xa là điền hộ, nay là chủ hộ);
c- Ranh giới những số đất xin trởng khẩu, tên chủ đất, diện tích loại tốt,
xấu;
d- Tên làng, do những ngời thành lập đề nghị (Đề nghị phạm huý, gợi ý
phản nghịch, hại đến phong thuỷ hoặc cuộc đất, đem hoạ cho làng);
e- Xin miễn thuế, miễn su, miễn đi lính trong ba năm;
f- Tên những dân đinh chịu đóng thuế đinh.
.
____________________________________________________________________________________
MAI HữU CHINH
7
Đề TàI NGHIÊN CứU KHOA HọC
________________________________________________________________________________________
Sau đó ngời xin lập làng đợc quan phủ cấp cho con dấu nhỏ, bằng cây(vì
vậy, mãi đến nay còn quen gọi con mộc, đúng chữ là mộc ký)
.
Lập làng là một việc tốn kém nhng hấp dẫn giới bá hộ thích kinh doanh, nhờ
đó họ mặc nhiên làm thôn trởng. Một khi thôn đã lập rồi, ai muốn khuẩn đất phải
có lễ lộc, bù vào tốn kém ban đầu của viên bá hộ.
Nhà văn Sơn Nam còn ghi lại nh sau: Việc cai trị làng do hơng chức ở
ngoài Bắc có hơng ớc, có tham tích. ở nam bộ su tầm lại rất khó khăn, không ai
biết đến hơng ớc, nhất là những làng mới lập sau này. Bản hơng ớc còn tìm thấy đ-
ợc là của làng Minh Hơng, soạn thảo lần đầu năm 1800, Trịnh Hoài Đức duyệt lại,
thêm bớt năm 1821, tới năm 1823 lại thêm nhiều khoản mới. Làng này qui tụ
những ngời gốc Hoa (theo nhà Minh), không theo qui chế nớc ngoài (không gia
nhập các bang) mà sinh hoạt nh làng xã Việt Nam. Lời mở đầu bản hơng ớc ghi:
Nớc có pháp luật nhà có châm quy, một kiểu với bản hơng ớc của làng Dơng
Liễu ở Sơn Tây, lập năm 1739, đời Lê Nớc có pháp luật quy định, dân có điều ớc
riêng.

Gia Định thành thông chí, hoàn tất vào đầu Minh Mạng, ghi: Mỗi làng có
dựng một ngôi đình, tuỳ làng cúng tế hàng năm vào tháng giêng, hoặc tháng 8,
tháng 9 hoặc vào ba tháng cuối năm. Làng nào có ngời học thức thì nhân ngày ấy
giảng quốc luật và hơng ớc, và báo cáo về tình hình thâu thuế, bầu cử và bàn giao
giữa hơng chức cũ và mới Làng không đình, làm sao trọn vẹn ý nghĩa truyền
thống [3]
Làng xã nơi đâu trên thế giới hoặc Việt Nam, tựu trung lại, đều giống nhau
ở chỗ tính cộng đồng rất cao. Vì vậy, xét về mặt từ nguyên học, từ tiếng Anh
commune, hoặc tiếng Pháp commune có nghĩa nguyên gốc là cộng đồng.
Chẳng hạn, từ điển Le petit Larousse có định nghĩa xã nh sau: Collectivité
territoriale administrée par un maire assisté du conseil municipal.
Nhiều công trình nghiên cứu về sử học, nhân chủng học, đã chỉ rõ tính
cộng đồng là đặc thù quan trọng của các tập đoàn ngời từ khi rời bỏ cách sống theo
kiểu vợn ngời. ở miền Bắc nớc ta, đặc thù này còn để lại dấu ấn đậm nét qua
hình ảnh: luỹ tre làng bao bọc, nhằm không những chỉ tạo ra quan hệ tơng trợ để
cùng nhau khắc phục sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên mà còn để đối đầu với
ngời khổng lồ phơng Bắc và các lân bang ở phía Nam, nh đã nêu trên, do cảnh
____________________________________________________________________________________
MAI HữU CHINH
8
Đề TàI NGHIÊN CứU KHOA HọC
________________________________________________________________________________________
rừng và sông nớc mênh mông, làng mới có vào thời khai hoang, đợc nhà văn, nhà
nghiên cú Sơn Nam mô tả rất đặc sắc nh sau: Nhà không rào, làng không luỹ tre,
con ngời khẩn hoang cần có sự tơng trợ đùm bọc với nhau. Đất hoang còn cha có
ngời khẩn, hoặc cha khẩn tới mức. Nhân công thiếu [3]
Đại Nam Nhất Thống Chí ghi: Con trai chuyên nghề nông, đánh cá. Con
gái chăm việc canh cửi, có khi kiêm nghề buôn bán. Hạng tuấn tú chuyên theo đèn
sách, hạng khoẻ mạnh chuyên theo kỹ nghệ, khuôn dệt đúng phép, làng lụa bắt
bông hoa tinh xảo có tiếng, phong tục thuần mà rộng rãi Ưu đãi khách mà không
sợ tốn phí.
1.2- lịch sử ra đời của ngân sách x ở việt namã
Theo nhà sử học Lê Văn Lan, ngân sách xã ở Việt Nam có quá trình phát
triển rất lâu đời.
Bản hơng ớc của làng Phú Thôn, tổng Phú Lão, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam
Định ngày trớc ghi: Nớc có thuế nớc, nh thuế đinh, điền, môn bài, để chi công
việc công ích trong nớc. Dân phải đóng thuế ở dân, nh: thuế trâu, bò, ngựa, nhà
cửa, để lo công việc cho dân. (Trong câu văn cổ này, thuật ngữ và khái niệm
dân chính là dùng với làng xã).
Đó chính là một tuyên ngôn cho sự ra đời và tồn tại ngân sách xã trong xã
hội và văn minh làng xã ngày xa. Với lý do: Làng xã là một đơn vị có tính tự tồn -
tự trị - tự quản cao, nên cũng cần phải có quỹ làng xã, sự ra đời và sự tồn tại ngân
sách xã là hiển nhiên và thành một tất yếu truyền thống, không những không thể
phủ định - phủ nhận mà còn hằn nếp lại - dới nhiều hình thức - trong thiết chế làng
xã các đời sau. Vấn đề bây giờ là nhận diện các đặc trng của quỹ làng ngày xa, để
xem có những gì bảo lu trong vấn đề ngân sách xã, ngày nay nói riêng, cũng nh
trong nếp sống - nếp nghĩ làng xã, nói chung với các hình thức quỹ làng bây giờ.
Đặc trng nổi nét là tính tuỳ tiện, gắn bó và nằm ngay trong một thuộc tính
lớn của văn minh làng xã, vốn là sản phẩm của lối sống và c dân nông nghiệp
truyền đời: cha ăn bữa sáng đã lo bữa tối - cái lo nghĩ - lo toan của dân làng xã
thờng chỉ đến mức nh thế cho nên giật gấu vá vai, đợc chăng hay chớ, chín
bỏ làm mời là những chuyện thờng hằng. Vì thế, về phơng diện tạo nguồn cho
quỹ làng qua các đời, do Sống ở làng, chết ở làng, nên xoay sở đủ cách trăm
dâu đổ đầu tằm, ngời xa cũng chỉ quẩn quanh một số phơng sách mà ngay cả đến
khi cố định đợc thành lệ làng (tức hơng ớc, khoán ớc ) chặt chẽ, ráo riết,
cũng chủ yếu là phạt vạ. Đáng chú ý là do kinh tế hàng hoá kém phát triển, nên
bằng cách phạt (vạ) để đa đầu vào cho quỹ làng (và cũng tiện cho cách sử dụng
____________________________________________________________________________________
MAI HữU CHINH
9
Đề TàI NGHIÊN CứU KHOA HọC
________________________________________________________________________________________
nguồn thu theo phong tục của văn minh làng xã cổ truyền), thấy cùng với loại tiền
tệ cổ, rất phổ biến là hiện vật, đặc biệt là thức ăn, đồ uống. Khoán ớc làng Phú
Cốc, Thanh Oai, Hà Tây ghi: ai chửi mắng nhau phạt gà rợu và 3 mạch tiền.
Cũng về tội này, làng Mộ Trạch (Hải Dơng) quy định: nặng thì phạt một trâu giá
5 quan 2 mạch, nhẹ thì phạt một lợn giá 1 quan (Hơng ớc làng Mộ Trạch lập năm
1772). Còn lý do để bị phạt vạ thì vô vàn, miễn là nó tuỳ tiện góp đợc vào việc thu
quỹ cho làng: gặp hoạn lạc mà ngời làng bỏ đi, không giúp đỡ dân, khi trở về, bị
phạt 20 quan tiền (Hơng ớc làng Quỳnh Đôi - Nghệ An, lập năm 1802); có ngời
làng khác vào làng mình để tìm hoa màu mà họ bị mất trộm, ai không cầm gậy ra
đánh mạnh theo hiệu lệnh, bị phạt 1 quan tiền (Hơng ớc làng Đông L, Hà Tây, lập
năm 1774). Trong làng có kẻ phạm lỗi, đến khi làng có việc ăn uống, ai để phần
cỗ cho kẻ vi phạm đó, bị phạt 3 quan tiền (Hơng ớc làng Dơng Liễu, Hà Tây, lập
năm 1691)
Thu đã vậy, mà chi cũng càng tuỳ tiện. Một số làng xã dùng quỹ làng để trả
lơng cho các chức dịch, nhng mỗi làng trả một cách: làng Hành Thiện (Nam
Định): Lý trởng 24 đồng/năm, Phó lý-Th ký-Thủ quỹ 12 đồng/ năm; làng Dơng Xá
(Gia Lâm): Lý trởng 50 đồng/ năm, phó lý 12 đồng/năm; làng Phù chuẩn (Bắc
Ninh): Lý trởng 18 đồng/năm, phó lý 15 đồng/năm. Nhiều làng có khoán ớc sử
dụng quỹ làng để khen thởng, nhng việc khen thởng này cũng rất tuỳ tiện. Làng
Lộc D, (Thừơng Tín, Hà Tây) quy định: ngời nào tố cáo việc cờ bạc trong làng đợc
thởng 6 mạch tiền; làng Mộ Trạch (Hải Dơng) thởng cho ngời tố giác kẻ ăn trộm 2
quan tiền; làng Kiều trì (Hà Tây) thởng 7 quan tiền cho cả phiên tuần, nếu trong
nhiệm kỳ không để xảy ra trộm cắp; làng Yên Sở (Hà Tây) cấp cho ngời đánh cớp,
nếu bị chết: 100 quan tiền đen, nếu bị thơng nặng: 50 quan, bị thơng nhẹ: 10
quan Còn phần lớn quỹ làng thì thờng ở đâu cũng dùng chủ yếu vào việc ăn uống
(nếu số quỹ là ít, thì cho ngay ngời đảm nhận các công việc có kẻ vi phạm hởng;
còn nếu có nguồn thu lớn thì cả làng (có nơi, làng là các chức dịch, có nơi làng
là toàn thể nam giới) đợc ăn vạ).
Cùng với tính tuỳ tiện, thì tính hà lạm cũng là dấu hiệu đặc trng của quỹ
làng ngày xa, và điều này cũng nằm ngay trong mặt trái của cái gọi là tinh thần
dân chủ; trong Văn minh làng xã cổ truyền công trình nghiên cứu của giáo s Cao
Văn Biền về làng xã thời cận đại, đã cho biết: thực tế, đầu vào của quỹ làng là vơ
vét từ rất nhiều nguồn: ngoài phép phụ thu lạm bổ (thu dôi ra để dự phòng, thuế
ruộng đất nói chung nộp cho nhà nớc (chỗ dôi ra đó, thuộc về quỹ làng, thì ngay
đối với Quốc gia công điền công thổ, các làng xã cũng thờng xén ra một phần,
đấu giá lấy tiền bỏ quỹ làng (Làng có ruộng công ở xứ Trng Nữ, cho thuê đồng
niên, lấy tiền bỏ công quỹ- Hơng ớc làng ốc Nhiêu, tổng Hoà Bình, huyện Yên
Mỹ, tỉnh Hng Yên cũ. Làng có 5 mẫu ruộng ký tại làng Thủy T, nay lấy ra bán
đấu giá để sung công- Hơng ớc làng Thờng Sơn, tổng Thuỷ T, huyện Thuỷ
____________________________________________________________________________________
MAI HữU CHINH
10
Đề TàI NGHIÊN CứU KHOA HọC
________________________________________________________________________________________
Nguyên, tỉnh Kiến An cũ ); còn đối với loại bản xã công điền công thổ thì các
làng xã đều sử dụng nh một thứ tài sản riêng để cho thuê lấy tiền bỏ quỹ làng.
Ngoài những khoản thu nh thế, ngoài khoản thu về phạt vạ, quỹ làng còn vắt lấy từ
nguồn cheo (cheo nội, cheo ngoại): Lấy chồng trong làng, phải nộp cheo 1
đồng, một mâm xôi, một con gà, hai chai rợu, 100 khẩu trầu; gả chồng cho ngời
làng khác, nộp cheo 5 đồng, còn sửa lễ cũng nh ngời trong làng. Tiền ấy để sung
vào công quỹ- Hơng ớc làng An Xá, tổng Đan Tràng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải
Dơng. Thu từ lệ Khao vọng (tiền chiết can) Trong làng có ngời nào thi đỗ có
văn bằng cử nhân chữ Tây và ngời có quan hàm ra làm quan, thì biện (tiền chiết
can) là 100 quả cau, 1 chai rợu để lễ thần trình dân và nộp 30 đồng để sung công -
Điều 187, Hơng ớc làng Liêu Xá, Mỹ Hào, Hng Yên) thu từ lệ phí bán danh các
chức sắc, ngôi thứ trong làng. khi có việc công ích phải chi tiêu thì hơng hội có
thể bán vị thứ để lấy tiền chi dùng (Hơng ớc làng Liêu Hạ, Mỹ Hào, Hng Yên)
Từ rất nhiều nguồn thu nh thế, vấn đề đặt ra là: ai sẽ sử dụng quỹ làng? Dĩ
nhiên, trên danh nghĩa, thì đây là việc công của làng. Các văn bản xa cũng thờng
hay dùng chủ ngữ dân ở chỗ này ( Dân cho ngời ngoài làng đến ở (tại khu đất ở
đầu làng) đồng niên lấy mỗi lô là 3 đồng (Quy định của làng Phú Thọ); Dân lấy
mỗi sào 1 đồng (tiền bỏ thầu 27 mẫu 9 sào hoang thổ) - Quy định của làng Hà
Tây ). Nhng trên thực tế, thì toàn bộ quỹ làng xa đều do bộ máy quản trị làng
(chức sắc, chức dịch) thao túng, nếu không phải là nuốt gọn. Những kẻ nắm quyền
ở làng xã này là ai? Trớc đây, từ một cái nhìn giản đơn, nhiều ngời cho rằng đó là
những kẻ hào phú (nhà giàu) trong làng (quyền lực kinh tế). Gần đây, công
trình nghiên cứu về Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ Của giáo s
Trần Từ đã cho thấy một thực tế uyển chuyển và phức tạp hơn: những ngời nắm
quyền điều hành công việc làng xã, do đó, hởng dụng - chiếm dụng quỹ làng, th-
ơng lại ở tầng lớp trung gian (Trung nông) - những kẻ khôn khéo linh hoạt, biết
đi dầy giữa một bên là dân làng, và một bên là tầng lớp phú hào, để trục lợi. Học
giả Pháp (Philippe Papin) nghiên cứu đề tài Làng xã ở Hà Nội và vùng phụ cận
cũng thấy nh vậy và còn chứng minh rằng đó là do chế độ dân cử và chính quyền
cấp cao hơn tri huyện thơng thoả hiệp chứ không can thiệp vào việc dân cử này.
Tính dân chủ làng xã - đặc trng quan trọng của văn minh làng xã, ở đây
có mặt tráicủa nó, nếu không phải là con dao hai lỡi. Ngời chịu chém cắt ở
đây, nếm vị đắng mặt trái cái mề đay không ai khác hơn, chính là nhân dân làng
xã.
Đối với tình hình tiêu cực nghiêm trọng của quỹ làng ngày xa nh thế, lịch
sử cho thấy đã có những ứng xử gì ?
____________________________________________________________________________________
MAI HữU CHINH
11
Đề TàI NGHIÊN CứU KHOA HọC
________________________________________________________________________________________
Từ trong nội bộ làng xã và văn minh làng xã, phát huy mặt phải của tính
dân chủ làng xã, thấy cũng có đấy những cố gắng để hạn chế những lạm quỹ
làng và điều này cũng đợc ghi vào bản hơng ớc (Ai cỡng hiếp dân chúng, yêu
sách trong kỳ thu thuế, phu) (kẻ đó bị phạt 10 quan tiền cổ và bị xoá bỏ ngôi thứ ở
đình) ( Hơng ớc làng Dơng Liễu); khi thu thuế ai đòi hỏi yêu sách thêm, thì ngời
ấy chết làng không đến đa tang (Hơng ớc làng Quỳnh Đôi); Ai lấy tiền thuế làm
của riêng, hay tiêu lạm, phải trả lại và bị phạt 10 quan (Hơng ớc làng dơng Liễu);
Xã trởng, giáp trởng thu lạm tiền từ 1 quan trở lên, phạt 3 quan tiền cổ, bồi thờng
1 thành 2 (Hơng ớc làng Đồng L-1744).
Tuy nhiên, trên thực tế, những ngời dân ngu khu đen, thấp cổ bé họng
trong làng xã, chẳng mấy khi thực hiện đợc những điều qui định trên giấy tờ này.
Đến thời cận đại, chính quyền thực dân cũng có những can thiệp để kiểm
soát làng xã (tính tự trị làng xã) và cả vấn đề ngân khố làng xã (tính tuỳ tiện,
tính hà lạm). Cụ thể trong các nghị định về cải lơng hơng chính, chẳng hạn
kèm theo văn bản số 1950 (ký cùng ngày) về việc lập sổ dự toán chi tiêu của các
làng xã An Nam xứ Bắc kỳ, quy định các làng có 500 suất đinh trở lên, phải lập
ngân sách và có sổ chi thu. Nhng trong tổng số 7000 xã của Bắc kỳ ngày ấy, chỉ có
khoảng 600 làng (cha đến 10%) thuộc diện 500 suất đinh trở lên. Vì thế văn bản
năm 1927 quy định thêm, không chỉ căn cứ vào số đinh (500 trở lên) mà còn căn
cứ vào múc thu (500 đồng trở lên) buộc làng xã trong diện phải có sổ thu chi. Tuy
vậy trên thực tế, ngời ta không tìm thấy một quyển sổ nào nh thế cả.
Trong thời Pháp thuộc, ngân sách xã ở là một bộ phận hợp thành của hệ
thống ngân sách đợc hình thành khá hoàn chỉnh và nó đóng vai trò cực kỳ phản
động trong việc vơ vét của cải thuộc địa và nô dịch nhân dân ta (các bộ phận còn
lại là: a/ Ngân sách Đông Dơng và các ngân sách phụ thuộc của nó là: ngân sách
đặc biệt về tiền vay nợ và ngân sách riêng của sở hoả xa; b/ Ngân sách các xứ bên
trong liên bang: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao, Cao Miên và Quảng Châu
Văn (Một vùng đất Trung Quốc dới quyền uỷ trị của Pháp trong 99 năm); c/ Ngân
sách các tỉnh và thành phố).
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến ngày ký hiệp định Geneve tháng
7/1954, các nghiên cứu về lịch sử tài chính đều có chung nhận định rằng: là một bộ
phận hợp thành của hệ thống ngân sách, ngân sách xã cũng góp phần quan trọng
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam. Từ khi có
Điều lệ ngân sách xã ban hành ngày 8/5/1972, ngân sách xã đã thực sự quản lý
theo luật lệ thống nhất của nhà nớc, góp phần quan trọng trong sự nghiệp giải
phóng miền Nam, xây dựng miền Bắc XHCN. Sau ngày giải phóng, sau một thời
gian khá dài vẫn tiếp tục duy trì chế độ quản lý theo cơ chế cũ, với sự ra đời của
____________________________________________________________________________________
MAI HữU CHINH
12
Đề TàI NGHIÊN CứU KHOA HọC
________________________________________________________________________________________
nghị quyết số 138 - HĐBT ngày 19/11/1983, hệ thống ngân sách nhà nớc khẳng
định bao gồm bốn cấp: trung ơng, tỉnh, huyện, xã. Nhiều địa phơng thực hiện tốt
công tác lập và chấp hành tốt ngân sách xã kiểm soát đợc mục đích và khối lợng
các khoản chi tiêu của chính quyền xã. Một báo cáo cho thấy: tính đến năm 1993,
có khoảng 8.000 xã đã xây dựng đợc ngân sách, quy mô thu, chi ngân sách xã tăng
nhanh, đợc công nhận cấp ngân sách, chỉ còn khoảng 786 xã là đơn vị dự toán. Số
xã biết quản lý ngân sách xã khá, có phơng hớng cụ thể ngày một tăng (ớc trên
12%). Ngân sách xã đảm bảo chi tiền lơng và sinh hoạt phí, phụ cấp hu trí cho
khoảng 550.000 ngời làm việc và công tác tại xã và chi thờng xuyên về nghiệp vụ
phí, công tác phí, mua sắm tài sản và chi sự nghiệp văn xã. Các xã đã giành khoảng
30% tổng số chi ngân sách cho việc đầu t xây dựng trụ sở, trờng học, trạm y tế,
nhà văn hoá, đờng liên thôn. Tại thời điểm đầu năm 1993, ở xã đã có cơ sở vật chất
khá lớn, tuy chất lợng chỉ mới đáp ứng đòi hỏi những việc phục vụ cấp thiết với
8.616 trụ sở, 13.855 trờng phổ thông cơ sở, 41.292 lớp mẫu giáo, nhà trẻ, trên
8.000 trạm y tế, nhà hộ sinh, 650 nhà và 350 phòng văn hoá, 3640 chợ, hàng chục
vạn km đờng liên thôn, hàng nghìn km đờng dây điện
Chi ngân sách xã đã đảm bảo duy trì hoạt động của ngành giáo dục, y tế đạt
đợc một số kết quả nhất định, 54,7% số cán bộ y tế xã và 40,7% số cô nuôi dạy trẻ
đã đợc ngân sách xã chi lơng và sinh hoạt phí theo mức quy định của nhà nớc.
Điều này cho thấy, trớc khi có luật NSNN, ngân sách xã đã có một vai trò nhất
định trong việc phát triển nông thôn và đẩy mạnh quá trình đô thị hoá ở Việt Nam.
[8]
1.3- vai trò của ngân sách x đối với phát triển nôngã
thôn ở việt nam
1.3.1- Xây dựng ngân sách xã vững chắc là điều kiện quan trọng trong
quá trình xây dựng nông thôn mới, giảm sự cách biệt giữa nông thôn và thành
thị
Theo Hiến pháp năm 1992, hệ thống các đơn vị hành chính hiện nay đợc tổ
chức nh sau:
- Nớc chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng;
- Tỉnh chia thành huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Thành phố trực thuộc trung ơng chia thành quận, huyện;
- Thành phố thuộc tỉnh chia thành phờng;
- Thị xã chia thành phờng, xã;
- Quận chia thành phờng;
____________________________________________________________________________________
MAI HữU CHINH
13
Đề TàI NGHIÊN CứU KHOA HọC
________________________________________________________________________________________
- Huyện chia thành xã, thị trấn.
Trong hệ thống nói trên, xã là đơn vị hành chính cơ sở, có vai trò đặc biệt
quan trọng; điều đó đợc giải thích nh sau:
- Xã không chỉ là nơi mà ngời dân sống trong cộng đồng này gắn bó với
nhau bằng quan hệ ruột thịt, bằng truyền thống tơng thân tơng ái mà còn là nơi trực
tiếp sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
- Khi bàn đến xã, ngời ta hình dung đến hình ảnh nông thôn Việt Nam còn
qúa cách xa về trình độ phát triển so với thành thị - nơi mà bằng với cơng lĩnh của
Đảng đợc khẳng định ngay từ đầu, cần đợc đầu t và phát triển để tiến tới một ngày
mai tơi sáng, cùng sánh bớc với thành thị trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.

Để đạt đợc mục tiêu nói trên, các cấp xã phải có ngân sách đủ mạnh để điều
chỉnh các hoạt động ở xã đi đúng hớng, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển
kinh tế của Đảng và Nhà nớc. Ngân sách xã, đợc xác định là có vai trò quan trọng
đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nông thôn, đặc biệt đối với các
khu vực có nhiều tiềm năng nh Minh Hải chẳng hạn.
Minh Hải là một vùng đất còn non trẻ, đợc khai phá muộn, cơ sở vật chất
cha đợc xây dựng là bao, tiếp theo là chiến tranh kéo dài, khu vực nông thôn hầu
nh bị hoang phế. Khi hoà bình lập lại, làn sóng di dân trở về nông thôn tăng nhanh.
Tốc độ khai khẩn đất hoang đợc đẩy nhanh, diện tích đất nông nghiệp tăng dần,
sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản tăng vọt, thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh phát triển
mạnh vào những năm đầu sau giải phóng. Tuy vậy, sự phát triển theo chiều rộng
đó đã dẫn đến hậu quả:
- Rừng bị chặt phá nặng nề, nhằm mục đích khai thác lâm sản, lấy đất làm
ruộng, nuôi tôm. Điều này làm ảnh hởng đến sản xuất, và tài nguyên cũng bị cạn
kiệt. Đồng thời, làn sóng di dân từ thành thị về nông thôn và di dân từ các tỉnh
khác đến để khai mở đất hoang đã làm cho dân số ở khu vục nông thôn tăng nhanh
có tính chất cơ học, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu ngời giảm, đẩy nhanh
tiến trình nghèo khó, tạo gánh nặng cho việc giải quyết các vấn đề xã hội và phát
triển kinh tế khu vực nông thôn.
- Điều kiện tự nhiên: Minh Hải là vùng đất thấp, nền đất yếu, nhiều kênh
rạch, đất bùn do bồi đắp tự nhiên, nên việc đầu t phát triển kinh tế hạ tầng rất khó
khăn, đòi hỏi nhiều chi phí lớn. Bên cạnh đó có khả năng đầu t từ ngân sách vào
các năm sau giải phóng lại ít, nên từ đó cơ sở hạ tầng nông thôn rất yếu kém, trớc
hết là hệ thông giao thông đờng bộ, điện, nớc sinh hoạt, trụ sở, trờng học, trạm
____________________________________________________________________________________
MAI HữU CHINH
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét