cho việc đánh giá về tác giả, tác phẩm; cũng có thể đa ra một bài văn, bài thơ về
tác giả, tác phẩm nhằm mở rộng trờng liên tởng hoặc tạo điều kiện cho ngời đọc
nhìn nhận vấn đề từ nhiều phơng diện.
*
* *
Có thể nói : mục đích tìm hiểu và đặc trng, tính chất của tthể loại sẽ quy định
phơng thức đọc. Phơng thức đọc hiểu văn bản Ngữ văn chắc chắn không chỉ là
điều quan tâm của một cá nhân. Rất mong các thầy, cô giáo và các bạn học sinh
trong quá trình sử dụng cuốn sách này góp cho những ý kiến quý báu để chúng
tôi có dịp bổ khuyết.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, thu 2007
Chủ biên
ts. nguyễn trọng hoàn
5
Bản quyền thuộc Nhà xuất bản Giáo dục.
022007/CXB/3171951/GD Mã số : TyV25M7
6
Vào phủ chúa trịnh___________________________Lê hữu trác
(Trích Thợng kinh kí sự)
I Gợi dẫn
1. Lê Hữu Trác (1724 1791) là ngời làng Liêu Xá, huyện Đờng Hào, phủ
Thợng Hồng, trấn Hải Dơng (nay thuộc huyện Yên Mĩ, Hng Yên). Ông là danh y
lỗi lạc, nhà văn tài hoa, một nho sĩ coi thờng danh lợi. Khi xã hội rối ren, ngời ng-
ời đua chen danh lợi, ông đã lánh về quê mẹ là đất Hơng Sơn, Hà Tĩnh để sống
cuộc đời ẩn sĩ thanh cao, làm nghề bốc thuốc chữa bệnh. Vì vậy ông tự nhận mình
là Hải Thợng Lãn Ông (ông già lời đất Thợng Hồng). Với t cách thầy thuốc, ông
đã để lại cho y học rất nhiều bài thuốc quý. Với t cách nhà văn, ông đã đa thể kí
trung đại trở thành một thể văn xuôi tự sự nghệ thuật, với cái Tôi nghệ sĩ trữ tình
và bản lĩnh.
2. Kí là một thể văn xuôi tự sự khá phát triển từ thời kì văn học trung đại. Tác
phẩm kí thờng lấy chất liệu từ là sự thực cuộc sống. Ngời viết kí trung thành với sự
thật, khai thác sự thật theo quan điểm cá nhân. Kí có sự kết hợp nhuần nhuyễn
giữa sự thực lịch sử và cảm xúc của ngời viết. Một số tác phẩm kí tiêu biểu của
văn học trung đại : Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Thợng kinh kí sự
(Hải Thợng Lãn Ông Lê Hữu Trác), Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ), Công d
tiệp kí (Vũ Phơng Đề), Đại Việt sử kí toàn th (Ngô Sĩ Liên), D địa chí (Nguyễn
Trãi), Nam triều công nghiệp diễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm), Nhị Thanh động kí
sự (Ngô Thời Sĩ)
3. Thợng kinh kí sự là tập kí sự viết bằng chữ Hán của Lê Hữu Trác, ghi lại
chuyện tác giả lên kinh đô chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm từ
ngày 12 tháng Giêng năm Nhâm Dần (1782) đến ngày trở về Hơng Sơn mùng 2
tháng 11 năm đó.
Tác giả đang sống cuộc sống ẩn dật ở quê mẹ (Hơng Sơn, Hà Tĩnh) thì bỗng
có chỉ triệu ra kinh chữa bệnh cho cha con Trịnh Sâm. Tác giả miễn cỡng lên kinh.
Ông đã ghi lại cảnh sắc thiên nhiên đất nớc và cả những tâm sự của bản thân trên
đờng đi. Đến kinh, vào khám bệnh, tác giả đã ghi lại tỉ mỉ quang cảnh kinh đô và
7
cảnh trong phủ chúa. Ông cũng ghi lại những cuộc gặp gỡ giao du của mình với
công khanh nho sĩ chốn kinh thành. ở kinh đô, ông luôn thơng nhớ và mong trở về
quê hơng. Cuối cùng, ông lên đờng trở về quê nhà với tâm trạng hân hoan, ung
dung. Về đến nhà đợc vài ngày, ông nhận đợc tin phủ chúa đã bị kiêu binh nổi
loạn tràn vào phá phách, quan Chánh đờng Hoàng Đình Bảo oai phong là thế đã bị
kiêu binh giết chết.
Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh ghi lại chi tiết việc tác giả vào phủ và khám
bệnh cho thế tử ngày 1 tháng 2 năm 1782.
4. Đọc phần văn bằng giọng trần thuật. Phần bài thơ đọc chậm, nhấn giọng
ngân nga.
II Kiến thức cơ bản
Cuối thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII, các vua Lê mải ăn chơi hởng thụ, tinh thần
bạc nhợc, không đủ sức lo việc đất nớc. Cuộc sống của nhân dân vô cùng khổ cực,
nạn quan tham nổi lên khắp nơi. Họ Trịnh đã nổi lên lấn át vua Lê, biến vua Lê
thành bù nhìn. Bên cạnh triều đình bù nhìn của nhà Lê là phủ chúa đầy uy quyền.
Cung vua phủ chúa đã song hành tồn tại. Kinh thành một lúc tồn tại hai hoàng
cung. Quyền lực của chúa Trịnh lấn át vua Lê. Đất nớc luôn đứng trớc nguy cơ nội
chiến. Nhân dân một lúc còng lng cung tiến phục dịch hai triều đình. Hiện thực rối
ren và suy đồi luân lí ấy đã khiến nhiều nhà nho biết suy nghĩ, có tự trọng rút lui
vào ở ẩn. Họ tìm đến chốn thâm sơn cùng cốc, chốn nhà quê thanh tịnh để sống
cuộc sống ẩn dật, lánh đời. Nhng dù ở đâu những nho sĩ đầy lòng tự trọng ấy vẫn
không gạt bỏ mọi nỗi đời, họ vẫn luôn hớng lòng mình và căng tai mình để nghe
những âm thanh vang vọng của cuộc sống lầm than của ngời lao động. Và họ đã
gửi gắm tâm sự trong những dòng thơ, những trang văn đầy trăn trở. Đó là một
trong những lí do làm cho văn học Việt Nam giai đoạn này phát triển rực rỡ với sự
ra đời của nhiều tác phẩm văn học có giá trị nghệ thuật cao và chứa đầy giá trị
nhân văn.
Hải Thợng Lãn ông Lê Hữu Trác là một trong những nhà nho nặng lòng với
đất nớc. Ông đã luôn cố gắng vận hết sức mình để giúp đời. Ông học võ, luyện văn
rồi lại dồn tâm huyết cho nghề thuốc. Sự cố gắng ấy của ông đã để lại cho đời
những sản phẩm thật đáng trân trọng. Đó là những bài thuốc hay, những trang văn
luôn căng đầy nhiệt huyết và hơn hết đó là một nhân cách cao quý của một con
ngời. Với tập kí Thợng kinh kí sự, Lê Hữu Trác đã thể hiện tài năng của mình với
8
nhiều t cách : thầy thuốc, nhà sử học và nhà văn. Với t cách là nhà văn, ông đã đa
thể văn xuôi tự sự trung đại lên một tầm cao mới. Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh
là một đoạn trích đặc sắc, tiêu biểu của tác phẩm. Nó cũng đã thể hiện khá đầy đủ
những nét riêng trong cách viết kí của Lê Hữu Trác.
Đoạn trích đã tái hiện chi tiết và cụ thể hành trình tác giả vào phủ chúa để
khám bệnh cho thế tử. Thế nhng nội dung kể chuyện không đơn giản là tờng thuật
một cuộc khám bệnh. ẩn đằng sau lời kể chuyện rất tự nhiên và có vẻ khách quan
ấy là rất nhiều điều mà ngời đọc có thể thu nhận và khám phá.
Thứ nhất, ngời đọc hình dung đợc trình tự một cuộc bắt mạch và kê thuốc của
một thầy thuốc đối với một bệnh nhân đặc biệt, vị thế tử nhỏ tuổi của phủ chúa.
Thứ hai, ngời đọc hình dung đợc một phủ chúa sang trọng, xa hoa và đầy uy
quyền. Đó không phải là một phủ chúa mà là một hoàng cung. Từ đó, ngời đọc
phần nào nhận ra đợc bộ mặt xã hội phong kiến Việt Nam thời kì vua Lê chúa
Trịnh.
Thứ ba, ngời đọc thấy đợc một thầy thuốc, một ngời kể chuyện có một phong
thái rất ung dung mặc dù ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ đối thoại của ông rất
khách quan và đúng mực một kẻ bề tôi.
Tất cả những điều trên, có lẽ đều nhằm vào một mục đích duy nhất, mục đích
cuối cùng và mục đích nghệ thuật sâu xa của nhà văn : đó là thể hiện thái độ của
mình đối với triều đình phủ chúa.
Vốn con nhà quan lại nên cũng không mấy lạ lẫm với cảnh xa hoa của hoàng
cung, vậy mà khi đợc triệu vào phủ chúa, tác giả đã không khỏi ngỡ ngàng trớc
cảnh lộng lẫy nơi đây. Mặc dù bị mời đi vội vã, ngồi trên chiếc cáng chạy nh
ngựa lồng, bị xóc một mẻ, khổ không nói hết nhng bớc chân vào phủ, ông vẫn
có đủ thời gian để quan sát, để ngạc nhiên.
Có bao nhiêu sự làm ông thầy thuốc ẩn sĩ vừa từ Hơng Sơn ra kinh thành, dù
vốn con quan, sinh trởng, chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành mình cũng đã
từng biết vẫn phải ngạc nhiên. Cảnh thì đẹp nh chốn đào nguyên, ngời đi lại
phục vụ nhà chúa đông nh mắc cửi, vào đến chỗ ở của thế tử thì phải qua bao
nhiêu lần cửa. Nơi thế tử dùng trà (uống thuốc) cũng là gác tía với cột và đồ
nghi trợng đều sơn son thếp vàng. Phòng ở của thế tử thì ngào ngạt hơng hoa. Một
cậu bé năm sáu tuổi sống nh bậc đế vơng. Trịnh Cán là con trai của Trịnh Sâm với
Tuyên phi Đặng Thị Huệ (ngời thiếp yêu của chúa Trịnh Sâm). Căn nguyên căn
9
bệnh của thế tử chính là sự quá xa hoa và thừa thãi.
Khung cảnh và cảnh sinh hoạt nơi phủ chúa qua miêu tả của tác giả đã chứng
minh một điều rằng, phủ chúa là một hoàng cung. Và vì thế, Trịnh Sâm mới chính
là một ông vua, còn vua Lê chỉ là bù nhìn. Tác giả cũng đã bộc lộ đánh giá này
của mình khi rất nhiều lần ông nhắc đến những từ thánh chỉ, thánh giá, thánh
thợng vốn chỉ đợc dùng chỉ vua, kể cả việc miêu tả rất tỉ mỉ căn phòng của thế
tử và chiếc ghế đặt cạnh giờng thế tử. Chúa Trịnh đã quá lộng hành, đã tự coi mình
là vua. Chỉ là kể, là tả thôi nhng tác giả đã thể hiện rất rõ thái độ, quan điểm của
mình. Cách kể chuyện nhẹ nhàng, thâm thuý, nghe nh không mà gợi thật nhiều.
Nhân vật tôi đã quan sát và tả rất tỉ mỉ, từng đờng đi lối lại, qua từng cánh
cổng Miêu tả chi tiết sự thực là một đặc điểm nổi bật của thể kí, song kí của Lê
Hữu Trác không đơn giản chỉ là tờng thuật sự việc nh nhiều tác phẩm kí trung đại
khác. ở đây, tác giả tả, kể, tờng thuật chi tiết và rất tự nhiên xen vào đó những lời
bình luận nhẹ nhàng mà sâu cay, nh : Ông san mâm cơm cho tôi ăn. Mâm vàng,
chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà
đại gia.
Nhìn bề ngoài, cách nói, cách tiếp đón, các nghi lễ, ngời hầu có vẻ nh chúa
Trịnh Sâm có một uy quyền thật lớn, phủ chúa thật mạnh, thật nghiêm trang. Thế
nhng, tất cả chỉ là một vở chèo hài hớc. Đã có rất nhiều cái chệch choạc, uể oải,
nhốn nháo và bệnh hoạn trong phủ chúa. Sự rệu rạo của nhà Trịnh thể hiện ở hình
ảnh bệnh hoạn của Đông cung thế tử, ngời đã đợc chọn để nối ngôi chúa.
Qua đoạn trích, ngời đọc còn có thể hình dung đợc một chân dung ngời thầy
thuốc khá chi tiết. Thầy thuốc này có vẻ không mấy mặn mà với công việc chữa
bệnh của mình. Ngời thầy thuốc ấy vào phủ chúa với vẻ miễn cỡng. Trớc sự
nghiêm trang của phủ chúa, ông không có vẻ sợ sệt hay e ngại của một kẻ bề tôi.
Ông thầy thuốc ấy cứ dửng dng kể, dửng dng tả và thản nhiên bình luận. Uy quyền
không làm ông sợ nhng khiến ông trăn trở. Với cách tả cách kể ấy, có thể nhận ra
thái độ của tác giả đằng sau câu chuyện. Đó là thái độ châm biếm, phê phán nhà
Chúa. Thành công của đoạn trích phải kể đến giọng điệu kể chuyện rất kí sự của
Lê Hữu Trác, đó là sự xen kẽ rất tự nhiên của lời kể và lời bình. Thông thờng, kí là
kết quả của sự kết hợp giữa tả cảnh và thể hiện tâm t. ở đây, tác giả chú ý nhiều
đến tả cảnh, đến tờng thuật sự việc. Nhng lại chính cách kể và cách tả ở đây lại nói
lên tâm t tình cảm, thái độ của nhà văn. Với đoạn trích này và với Thợng kinh kí
sự, Lê Hữu Trác đã đa thể kí trung đại trở thành một thể văn xuôi tự sự nghệ thuật
10
có sức hấp dẫn và rất cuốn hút ngời đọc.
III liên hệ
Qua Thợng kinh kí sự, có thể thấy rõ tính cách của Lê Hữu Trác, một ngời coi
khinh bả danh lợi. Ông muốn làm việc gì có ý nghĩa và ông đã quyết tâm đi vào
con đờng làm thuốc, chữa bệnh, quyết dựng lên một lá cờ đỏ trong y giới. Lê
Hữu Trác là một nhà y học nổi tiếng, qua Thợng kinh kí sự còn thấy ông là một
nhà văn có tâm hồn, giàu cảm xúc trớc thiên nhiên tạo vật. Những bài thơ của ông
viết về thiên nhiên trong Thợng kinh kí sự hết sức trữ tình. Thợng kinh kí sự còn có
giá trị đặc biệt ở những trang miêu tả cuộc sống trong phủ chúa. Ngòi bút của tác
giả kín đáo và tinh tế. Ông có vẻ không phê phán một cái gì cả ; nhng những điều
đợc ông nói lên một cách chính xác, tự nó lại có ý nghĩa phê phán sâu sắc. Hình
ảnh phủ chúa Trịnh hiện lên trong tác phẩm của ông với những cung điện kiêu xa,
cầu kì, với những con ngời từ chúa Trịnh Sâm, ông quan đầu triều Hoàng Đình
Bảo ( ? 1786) đến đám công khanh quan lại tất cả nh vô nghĩa, tật bệnh, không
thấy một ngời nào có năng lực, bản lĩnh. Họ đi đứng trịnh trọng, nói năng kiểu
cách, làm thuốc, làm thơ cái gì cũng có vẻ biết, nhng không biết cái gì đến nơi đến
chốn. Cuối tác phẩm, tác giả nói Trịnh Sâm chết vì mắc một trong tứ chứng nan y.
Không khí phủ chúa vẫn cứ âm u bằng lặng nh thế, cha thấy mầm mống của
những đổi thay. Cái bằng lặng ấy gây cho ngời đọc cảm giác nặng nề, khó chịu,
đến nỗi không chịu đựng đợc mà muốn thét to lên cho nó vỡ tan đi. Và với cái tin
cả nhà quan Chánh đờng bị hại, tác giả viết nh muốn tổng kết lịch sử : Than
ôi ! giàu sang nh đám mây bay. Đền vũ tạ, thú ca lâu phút chốc thành nơi hoang
phế. Thợng kinh kí sự là một tác phẩm kí sự bằng chữ Hán rất có giá trị trong văn
học Việt Nam thế kỉ XVIII.
(Nguyễn Lộc, Từ điển văn học, NXB Văn học, 1986)
Cha tôi_________________________________________________________đặng huy trứ
(Trích Đặng Dịch Trai ngôn hành lục)
I Gợi dẫn
11
1. Đặng Huy Trứ (1825 1874) hiệu là Tỉnh Trai và Vọng Tân, tự là Hoàng
Trung, ngời làng Thanh Lơng, huyện Hơng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Năm
1843, Đặng Huy Trứ đỗ cử nhân, năm 1848 đỗ tiến sĩ nhng vì phạm huý ông đã bị
đánh trợt và bị tớc luôn học vị cử nhân. Ông đã dâng nhiều th điều trần đề xuất
nhiều t tởng tân tiến nhng đáng tiếc là những t tởng của ông không đợc thực hiện.
2. Đặng Dịch Trai ngôn hành lục thuộc thể kí, là tác phẩm khá thành công
của Đặng Huy Trứ. Tác phẩm là những trang hồi tởng của tác giả về ngời cha đáng
kính của mình, ông Đặng Văn Trọng (tên hiệu là Dịch Trai). Tác phẩm ghi lại chi
tiết lời nói và việc làm của Đặng Văn Trọng cùng nhiều chi tiết quan trọng về cuộc
đời, qua đó thể hiện những quan niệm về cuộc sống của tác giả và tình cảm kính
trọng của ông đối với ngời cha đáng kính.
3. Đoạn trích có nhiều từ cổ, cần đọc kĩ chú thích. Lu ý thể hiện rõ giọng đọc
các lời thoại.
II Kiến thức cơ bản
Thể kí xuất hiện mầm mống từ giai đoạn thứ hai của thời kì văn học trung đại
(thế kỉ XVI đến nửa đầu thế kỉ XVIII) nhng phải đến nửa cuối thế kỉ XVII với sự
xuất hiện của Thợng kinh kí sự của Lê Hữu Trác thì kí mới thực sự ra đời với t
cách là thể văn xuôi tự sự nghệ thuật. Đặng Dịch Trai ngôn hành lục của Đặng
Huy Trứ là tác phẩm thuộc loại văn tự thuật một thể tài khá quen thuộc của kí
trung đại. ở loại văn tự thuật, ngời viết thuật lại khá trung thành và tỉ mỉ các sự
kiện liên quan đến cuộc đời mình và những ngời thân. Trong Đặng dịch trai ngôn
hành lục, Đặng Huy Trứ đã thuật trung thực những sự kiện liên quan đến bản thân
ông. Trong tác phẩm, tác giả nhắc nhiều đến ngời cha của mình là Đặng Văn
Trọng. Là một trí thức có nhân cách, nhng phải sống vào giai đoạn nửa cuối thế kỉ
XIX, chứng kiến những cơn suy vong của vận mệnh dân tộc, ông đã đau lòng trớc
sự tan rã của hệ thống đạo đức luân lí phơng Đông. Và vì thế ông tiếc nuối thời kì
đã qua và gửi gắm niềm nuối tiếc ấy vào nỗi nhớ thơng về ngời cha mà ông vô
cùng kính trọng. Đoạn trích Cha tôi không đơn giản là tấm lòng của tác giả đối
với ngời cha mà còn thể hiện những suy nghĩ của ông về lẽ sống, nhân sinh.
Đoạn trích lần lợt thuật lại ba sự kiện tiêu biểu, ba khúc ngoặt trên đờng thi cử
của nhân vật tôi (tức Đặng Huy Trứ). Sự kiện là việc thi cử đỗ trợt của tôi nh-
ng vấn đề tác giả muốn thể hiện ở đây lại nằm ở hành động, lời nói của ngời cha.
Những phản ứng của ngời cha trớc việc đỗ trợt của con trai đã thể hiện rõ nhân
12
cách và cái nhìn sâu sắc của ông về con ngời.
Sự kiện thứ nhất xảy ra vào mùa thu năm Quý Mão (1843), tôi theo cha cùng
ngời anh con bác trởng là Đặng Huy Sĩ đến trờng Phú Xuân để thi. Nhân vật tôi
đi thi với mục đích quen với tiếng trống trờng thi. Khi ngời ta xớng danh, yết
bảng thì tôi đi xem hát. Cũng chỉ định đi chơi về rồi ngó bảng tú tài. Tất nhiên,
đây chỉ là cách nói khiêm tốn của ngời thuật chuyện, song nó cũng thể hiện đợc
thái độ đi thi của ông. Sự kiện đầy bất ngờ đã xảy ra, khi xớng danh họ Đặng, mọi
ngời đều nghĩ là Đặng Văn Trọng. Thế nhng ngời đỗ thứ ba lại chính là tôi. Đỗ
thứ ba trong kì thi này là một vinh dự rất lớn, là hi vọng và mong đợi của mọi sĩ tử,
kể cả của thân phụ Đặng Huy Trứ, tức Đặng Văn Trọng, một ngời tài giỏi mà ai
cũng nghĩ là xứng đáng. Thế nhng, thái độ của hai cha con lại hoàn toàn bất ngờ.
Con thì không quan tâm, vẫn mải đi chơi và khiêm tốn với ý định để đến tối sẽ
đi coi bảng tú tài xem có tên mình hay không. Còn ngời cha, nghe tin con đỗ,
một tin vui đối với cả gia tộc, dòng họ thì lại có phản ứng thật lạ : cha tôi dựa vào
cây xoài, nớc mắt ớt áo nh là gặp việc chẳng lành. Không phải ông buồn vì con
thi đỗ mà ông lại trợt. Những giọt nớc mắt của ngời cha ấy thể hiện tấm lòng cao
cả, nỗi lo lắng của một ngời cha, một ngời từng trải, ngời vốn đã rất hiểu lẽ đời.
Câu trả lời của ông hợp tình hợp lí : Có gì đáng vui đâu. Đỗ đạt cao là để dành
cho ngời có phúc đức. Con tôi tính tình cha già dặn, cha có đức nghiệp gì Cổ
nhân đã nói Thiếu niên đăng khoa nhất bất hạnh dã !. Đó là nỗi băn khoăn của
một ngời cha luôn lo lắng cho con. Câu trả lời của ông vừa rất khiêm tốn lại rất
chân thành. Những câu nói ấy đã có ngầm ý rằng : mục đích của việc thi cử không
nhất thiết phải đỗ đạt để làm quan ngay. Sự đời cái gì dễ kiếm thì không đợc trân
trọng dù nó rất quý giá. Dù là ngời có tài năng thực sự nhng nếu đỗ đạt quá sớm sẽ
sinh ra kiêu ngạo và tự mãn. Phản ứng của ngời cha là phản ứng của ngời hiểu sâu
xa câu chuyện Tái ông thất mã. Kể lại sự kiện này, tác giả đã chọn chi tiết, ngôn
ngữ rất khéo léo để thể hiện nhân cách và suy nghĩ sâu xa của ngời cha. Ngôn ngữ
và cách nói của ngời cha thể hiện ông là một nhà nho mẫu mực. Những lí lẽ ông đ-
a ra đều thật trọn vẹn, có trên có dới. Không tự ti nhng cũng không kiêu căng tự
mãn : Nào ngờ, mới một lần đi thi lại trúng thứ ba. Đó là do triều đình nuôi dỡng,
tổ tông tích đức, gia đình giáo dục mà đợc thế Nhìn lên, tôi đội ơn tác thành của
thiên tử, lại cảm kích công vun trồng của tổ tiên, chỉ sợ con tôi không báo đáp đợc
nghĩa nặng ơn dày nên không cầm nổi nớc mắt. Tác giả đã dùng lời đáp ấy và m-
ợn lời nhận xét của mọi ngời để tỏ lòng kính trọng và niềm tự hào về ngời cha của
mình.
13
Sự kiện thứ hai đợc thuật lại trong đoạn trích vẫn lại là chuyện thi cử. Lần thứ
hai, ngời con đỗ đạt và ngời cha cũng có phản ứng tơng tự. Đó là Khoa thi Hội
mùa xuân năm Đinh Mùi nhân tứ tuần đại khánh của đức Hiến tổ Chơng Hoàng đế
Thiệu Trị, vua cho mở Ân khoa.
Ngời cha nghe tin con đỗ đạt không hồ hởi vui mừng mà lo lắng : Bậc đỗ đại
khoa ắt phải là ngời phúc phận lớn. Con tôi đức độ ra sao mà đợc nh vậy, chỉ làm
cho tôi thêm lo lắng. Không phải ngời cha không tin vào khả năng của con mình.
Đây là cách phản ứng của một ngời cha có suy nghĩ sâu sắc, chín chắn. Ông đã thể
hiện quan niệm của mình về ngời quân tử. Ngời đỗ đạt phải là ngời có tài và có
đức. Đó là quan niệm của một chính nhân quân tử, một con ngời hiểu đời, hiểu ng-
ời, hiểu lẽ sống và hiểu chính con trai mình.
Sự kiện thứ ba đợc tác giả thuật lại trong đoạn trích có khác với hai sự kiện
trên. Tác giả đã chọn kể hai sự việc đồng thời xảy ra trong gia đình để ngợi ca tấm
lòng và nhân cách của ngời cha. Kì thi Đình năm ấy vào ngày 26 tháng 4. Đúng
hôm đó, từ cuối nhà bên trái điện Cần Chánh báo tin dữ : bác ngự y Đặng Văn
Chức mất [ ]. Tôi thì vừa bị đánh hỏng trong kì thi Đình Cả nhà lại càng buồn
cho tôi. Trớc hai tin dữ ấy, Đặng Văn Trọng đau đớn trớc cái chết của ngời anh
và coi việc con trai bị đánh hỏng là không có chuyện gì đáng kể. Với phản ứng
của ngời cha nh trên, có thể suy đoán dờng nh ngời cha không muốn con trai mình
đỗ đạt. Một nhà nho theo nghiệp sách đèn khoa cử không lẽ lại coi thờng chuyện
đỗ đạt nh vậy. Xem lại thì không phải vậy. Tấm lòng của ngời cha ấy đợc thể hiện
rõ ở lời nói của ông trong phần kết đoạn trích. Khi việc tang ngời anh trai đã hơi
th, ông mời quay sang khuyên nhủ con trai. Lời khuyên nhủ này là tâm sự giấu kín
từ nơi sâu thẳm tấm lòng ngời cha : Đã vào thi Đình thì không còn đánh trợt nữa,
từ đời Lê đến nay nh thế đã lâu mà nay con lại bị đánh trợt. Ông đã phân tích cho
con trai thấy sai lầm nghiêm trọng của mình để ngời con nhận rõ điều trái phải.
Việc để bị đánh trợt trong kì thi Đình là một lỗi lầm rất lớn. Nhng ông không dừng
lại ở việc chỉ ra sai lầm của con, mà quan trọng hơn, ông đã khuyên nhủ con trai
những lời thấu tình đạt lí. Lời khuyên của ngời cha chứa đựng những triết lí về
cuộc sống. Nó đã giúp cho ngời con nhận ra lỗi lầm của mình, nhng không bị rơi
vào sự tuyệt vọng, bi quan hay phẫn uất. Bài học ông dạy con có thể thu gọn trong
câu Thất bại là mẹ thành công. Những lí lẽ ngời cha đa ra thật thấu tình đạt lí,
nó buộc ngời con phải suy nghĩ mà quyết tâm tiến thủ. tớc cả khoa danh của
con là để rèn luyện cho con nên ngời. Ông Phạm Văn Huy ở Thiên Lộc Tài học,
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét