Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Các giải pháp tín dụng ngân hàng nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo tại Phòng gian dịch NHCS huyện Tứ Kỳ - Hải Dương

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
2.1 Một số nét khái quát về thực trạng đói nghèo tại Việt Nam.
Thực trạng của 15 năm đổi mới đã ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của
đời sống kinh tế xã hội của đất nước, đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng
và bước vào một giai đoạn phát triển mới, đẩy nhanh tiến độ phát triển kinh tế
tiến tới phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Tuy vậy, Việt Nam vẫn được xếp vào nhóm các nước nghèo của thế giới.
Tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam còn khá cao. Theo kết quả điều tra mức sống dân
cư (theo chuẩn nghèo chung của Quốc tế), tỷ lệ đói nghèo năm 2000 là 32%, đến
hết năm 2006 là 16%. Theo chuẩn nghèo của chương trình xóa đói giảm nghèo
quốc gia mới thì đầu nawm2000 có khoangr2,8 triệu hộ nghèo, đến cuối năm
2006 số hộ nghèo là 1,6 triệu hộ. Và nghèo đói thường tập trung trong các
trường hợp sau:
o Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập bệnh nhân
o Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn
o Đói nghèo tập trung ở khu vực nông thôn
o Nghèo đói trong khu vực thành thị
o Tỉ lệ hồ nghèo còn khá cao trong các vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao
o Tỉ lệ hộ nghèo đặc biệt cao ở nhóm dân tộc ít người.
2.2 Những nguyên nhân đói nghèo nhìn từ góc độ kinh tế - chính trị và xã hội
Nghèo đói là hậu quả đan xen của nhiều nhóm các yếu tố nhưng chung
quy lại thì có thể chia nguyên nhân đói nghèo của nước ta theo các nhóm sau:
2.2.1. Nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo
- Thiếu vốn sản xuât: Các tài liệu điều tra cho thấy đây là nguyên nhân chủ
yếu nhât. Nông dân thiếu vốn thường rơi vào vòng luẩn quẩn, sản xuất kém, làm
không đủ ăn, phải đi thuê, phải đi vay để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hằng
ngày.
Có thể nói, thiếu vốn sản xuất là một lực cản lớn nhất hạn chế sự phát triển
của sản xuất và nâng cao đời sống của các hộ gia đình nghèo. Kết quả điều tra
xã hội học về nguyên nhân nghèo đói của các hộ gia đình. Kết quả điều tra xã
hội học về nguyên nhân nghèo đói của các hộ nông dân ở nước ta năm 2001 cho
thấy, thiếu vốn chiếm khoảng 70% - 90% tổng số hộ được điều tra.
- Thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn: Phương pháp cạnh tác cổ truyền
đã ăn sâu vào tiềm thức, sản xuất tự cung tự cấp là chính, thường sống ở những
SV:Nguyễn Văn Duy - Lớp: TCDN – K11
5
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
nơi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, thiếu phương tiện, con cái thất học.
Những khó khăn đó làm cho hộ nghèo không thể nâng cao trình độ dân trí,
không có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác, thiếu kinh
nghiệm và trình độ sản xuất kinh doanh dẫn đến năng suất thâp, không hiệu quả.
Thiếu vốn chiếm khoảng 70% - 90% tổng số hộ được điều tra.
- Bệnh tật và sức khỏe yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình
trạng nghèo đói trầm trọng
- Đất đai canh tác ít, tình trạng không có đất canh tác đang có xu hướng
tăng lên.
- Thiếu việc làm, không năng động tìm việc làm, lười biếng; do hậu quả
của chiến tranh dẫn đến nhiều người dân bị mất sức lao động, nhiều phụ nữ bị
góa phụ dẫn tới nhiều lao động hoặc thiếu lao động trẻ, khỏe có khả năng đảm
nhiệm những công việc nặng nhọc.
- Gặp những rủi ro trong cuộc sống, người nghèo thường sống ở những nơi
hẻo lánh, xa trung tâm, thời tiết khắc nghiệt, nơi mà thường xuyên xảy ra hạn
hán, lũ lụt dịch bệnh. Cũng chính do thường sống ở những nơi hẻo lánh, giao
thông đi lại khó khăn mà hàng hóa của họ sản xuất thường bị bán rẻ(do chi phí
giao thông) hoặc không bán được, chất lượng hàng hóa giảm sút do lưu thông
không kịp thời.
2.2.2. Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên xã hội.
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động sâu sắc đến sản xuất nông
nghiệp của các hộ gia đình nghèo ở những vùng khí hậu khắc nghiệt: thiên tai, lũ
lụt, hạn hán, dịch bệnh, đất đai cằn cổi, diện tích canh tác ít, địa hình phức tạp,
giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu không có là những vùng có nhiều
hộ nghèo đói nhất.
2.3 Sự cần thiết phải hỗ trợ người nghèo và sự hình thành kênh tín dụng
chính sách phục vụ người nghèo.
Đói nghèo là hiện tượng phổ biến của nền kinh tế thị trường và tồn tại
khách quan đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển, đực biệt đối với
nước ta quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường xuất phát điểm nghèo nàn
hậu tình trạng đói nghèo càng không tránh khỏi, thậm chí trầm trọng và gay gắt.
SV:Nguyễn Văn Duy - Lớp: TCDN – K11
6
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
Như vậy, hỗ trợ người nghèo trước hết là mục tiêu của xã hội. Xóa đói giảm
nghèo sẽ hạn chế được các tệ nạn xã hội, tạo sự ổn định công bằng xã hội, góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Người nghèo được hỗ trợ để tự vươn lên, tạo
thu nhập, từ đó làm tăng sức mua, khuyến sản xuất phát triển. Chính vì vậy,
quan điểm cơ bản của chiến lược phát triển xã hội mà Đảng ta đã đề ra là phát
triển kinh tế, ổn định và công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Tóm lại, hỗ trợ người nghèo là một tất yếu khách quan, Xuất phát từ lý do
của sự đói nghèo có thể khẳng định: mặc dù kinh tế đất nước có thể tăng trưởng
nhưng nếu không có chính sách và chương trình riêng về xóa đói giảm nghèo thì
các hộ gia đình nghèo không thể thoát ra khỏi đói nghèo được. Chính vì vây,
Chính phủ đã đề ra những chính sách đặc biệt trợ giúp người nghèo, nhằm thu
hẹp dần khoảng cách giữa giàu và nghèo. Tất nhiên chính phủ không phải tạo ra
cơ chế bao cấp mà tạo ra cơ hội cho hộ nghèo vươn lên bằng những chính sách
và giải pháp. Cụ thể là:
- Điều tra, nắm bắt được tình trạng hộ nghèo và thực hiện nhiều chính sách
đồng bộ, tạo việc làm, chuyển giao kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng với quy mô
nhỏ ở những vùng nghèo, cho hộ nghèo vay vốn với lãi suất ưu đãi, đồng thời
cung cấp thông tin cần thiết để họ có thể tiếp cận với thị trường và hòa nhập với
cộng đồng.
- Tiếp tục triển khai mở rộng chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm
nghèo của Thủ tướng chính phủ. Hằng năm, Chính phủ dành ra một tỷ lệ trong
tổng chi ngân sách để bổ sung quỹ cho vay xóa đói giảm nghèo.
- Kết hợp chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo với các
chương trình kinh tế xã hội khác như: Chương trình khuyến nông, chương trình
phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, chương trình phủ xanh đất trống
đồi núi trọc, chương trình hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, chương trình nước
sạch nông thôn, dân số kế hoạch hóa gia đình, xóa mù chữ
- Thực hiện một số chính sách khuyến khích và giúp đỡ hộ nghèo như:
miễn giảm thuế, viện phí, học phí đối với hộ nghèo không còn khả năng lao
SV:Nguyễn Văn Duy - Lớp: TCDN – K11
7
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
động tạo ra nguồn thu nhập, Nhà nước cấp hàng tháng và vận động các tổ chức
đoàn thể, quần chúng, các nhà hảo tâm giúp đỡ dưới nhiều hình thức khác nhau.
- Mở rộng sự hợp tác quốc tế với các tổ chức Chính phủ, tổ chức phi Chính
phủ để giúp đỡ lẫn nhau về nguồn lực và trao đổi kinh nghiệm.
Thực tế cho thấy có rất nhiều hình thực hỗ trợ để thực hiện chương trình
xóa đói giảm nghèo, những hình thức tín dụng có hoàn trả là có hiệu quả hơn cả.
3. Vai trò của tín dụng đối với hộ nghèo
Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến đói nghèo có nguyên nhân chủ yếu là
do thiếu vốn thiếu kiến thức làm ăn. Vốn, kỹ thuật, kiến thức làm ăn là chìa
khóa để người nghèo vượt khỏi ngưỡng nghèo đói. Do không đáp ứng đủ vốn
nhiều người rơi vào tình thế luẩn quẩn không đủ ăn, phải đi làm thuê, vay nạng
lãi, bán lúa non chỉ mong đảm bảo được cuộc sống hàng ngày, những nguy cơ
nghèo đói vẫn thương xuyên de dọa họ. Mặt khác do thiếu kiến thức làm ăn nên
họ chậm đổi mới tư duy làm ăn bảo thủ với phương thức làm ăn cổ truyền không
áp dụng kỹ thuật mới đê tăng năng suất lao động làm cho sản phẩm sản xuất ra
kém hiệu quả. Thiếu kiến thức và kỹ thuật làm ăn là một lực cản lớn nhất hạn
chế tăng thu nhập và cải thiện đời sống hộ gia dình nghèo. Khi giải quyết được
vốn cho người nghèo nó sẽ có những động tác hiệu quả thiết thực. Do vậy tín
dụng đối với hộ nghèo có vai trò quan trọng là:
o Động lực giúp người nghèo vượt qua nghèo đói
o Tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay nặng lãi nên hiệu quả
hoạt động kinh tế được nâng cao hơn.
o Giúp người nghèo nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều
kiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
o Góp phần trực tiếp vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông
thôi, thực hiện việc phân công lại lao động xã hội.
o Cung ứng vốn cho người nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới.
SV:Nguyễn Văn Duy - Lớp: TCDN – K11
8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
4. Chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo
4.1. Một số điểm cơ bản về chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo.
Chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng hộ nghèo nói riêng
là những phạm trù bao hàm cả ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa về mặt xã hội:
4.1.1. Xét về mặt kinh tế:
Chất lượng tín dụng hộ nghèo trước hết thể hiện ở việc vốn tín dụng ưu
đãi của NHCSXH được chuyển tải đến đúng đối tượng cần vốn và được sử dụng
một cách có hiệu quả, mang lại giá trị kinh tế thiết thực để người nghèo vay vốn
có thu nhập, nâng dần mức sống, thoát được ngưỡng của đói nghèo, hòa nhập
cộng đồng. Trên cơ sở đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế và lưu thông hàng hóa,
góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm ẳn trong nền kinh
tế, đẩy mạnh sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ tăng trưởng tín dụng và tăng
trưởng kinh tế. Giúp người nghèo xác định rõ trách nhiệm trong quan hệ vay
mượn, tập trung sản xuất kinh doanh, tạo thu nhập để trả nợ ngân hàng, tránh sự
hiểu nhầm đây là tín dụng cấp phát, cho không.
Mặc dù, NHCSXH cấp tín dụng không có mục đích thu lời như các Ngân
hang thương mại khác. Tuy nhiên, mục tiêu an toàn và chất lượng tín dụng cũng
luôn luôn được đặt ra là một trong những mục tiêu chính trong quản lý tín dụng.
Ở đây không có mối quan hệ mật thiết giữa rủi ro và sinh lời như cái Ngân hàng
thương mãi nhưng việc bảo toàn và phát triển vốn đòi hỏi phải không ngừng
nâng cao chất lượng tín dụng. Theo đó, phải đảm bảo thu hồi được vốn(gốc - lãi)
đúng thời hạn, giảm tối đa nợ quá hạn, nợ xấu khó đòi.
4.1.2. Xét về góc độ xã hội:
Tín dụng hộ nghèo là một trong những giải pháp để thực hiện triệt để
chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo. Do đó, chất lượng tín
dụng hộ nghèo được phản ảnh trước hết ở hiệu quả mang lại như thế nào trong
quá trình giúp hộ nghèo có vốn sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập.
Theo đó, nó góp phần giảm được bao nhiêu (%) tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước.
Nó giúp cho bao nhiêu hộ nghèo được vay vốn để xản xuất kinh doanh. Và nó
góp phần như thế nào vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của đất nước. Giải
SV:Nguyễn Văn Duy - Lớp: TCDN – K11
9
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
quyết được thêm bao nhiêu lao động, góp phần thực hiện phân công lao động
trong nông nghiệp và trong xã hội như thế nào.
Nhìn chung xét dưới giác độ xã hội, chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo
của NHCHXH được thể hiện dưới nhiều tiêu chí, được đánh giá mang tính định
tính nhiều hơn.
4.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng hộ nghèo.
Chất lượng tín dụng và hiệu quả tin dụng là hai chỉ tiêu quan trọng trong
hoạt động cho vay của ngân hang. Hai chỉ tiêu này có điểm giống nhau đều là
chỉ tiêu phản ánh lợi ích do vốn tín dụng mang lại cho khách hàng và ngân hàng
về mặt kinh tế. Chất lượng tín dụng được đánh giá trên cơ sở một số chỉ tiêu sau:
4.2.1 Tỷ lệ nợ quá hạn(NQH):
Tỷ lệ NQH =
Tổng số NQH
Tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng không chỉ riêng đối với tổ
chức tín dụng nào. Bởi nó phản ánh khả năng sử dụng vốn và khả năng trả nợ
của khách hàng với các tổ chức tín dụng. Tỷ lệ nợ quá hạn tỷ lệ nghịch với chất
lượng tín dụng. Với NHCSXH cũng vậy cùng với các cơ chế như: cho vay lựu
vụ và cho ra hạn nợ để tạo điều kiện khách hàng có khả năng trả nợ cho Ngân
hàng, NHCHXH chuyển nợ quá hạn đối với khách hàng sử dụng các khoản vay
sai mục đích, các khoản nợ đến hạn nhưng khách hàng cố tình không trả hoặc
đến kỳ trả nợ cuối cùng hộ vay không được gia hạn trả nợ.
Theo đó tỷ lệ nợ quá hạn cao đồng nghĩa với việc nhiều khoản nợ vay bị
khách hàng sử dụng sai mục đích, nhiều khoản nợ đến hạn nhưng vì nhiều ly do
không thu hồi được. Do vậy không những nguồn vốn của Ngân hàng bị ảnh
hưởng mà những mục tiêu đặt ra của tín dụng đối với hộ nghèo là giúp người
nghèo sử dụng vốn có hiệu quả, thoát nghèo trả được nợ ngân hàng đã không
SV:Nguyễn Văn Duy - Lớp: TCDN – K11
10
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
thực hiện được. Xét theo chiều ngược lại tỷ lệ nợ quá hạn thấp đồng nghĩa vối
chất lượng tín dụng đã được nâng cao.
4.2.2. Khả năng thu hồi vốn:
Vì quan hệ tín dụng là quan hệ “vay – trả” giửa khách hàng với ngân hàng
nên để chất lượng tín dụng tốt thì khả năng thu hồi vốn (cả gốc và lãi) của ngân
hàng phải cao. Tuy nhiêu, trong quan hệ vay vốn với NHCSXH, nhiều đối tượng
khách hàng vay xong đã không sử dụng mà cất giữ để đến hạn đem đến trả nợ
ngân hàng(thực tế này đã xảy ra trên đại bàn một số tỉnh miền núi). Như vậy, có
thể vốn của ngân hàng đẫ được hoàn trả những chất lượng về mặt kinh tế xét
trên giác độ sử dụng vốn có hiệu quả là chưa đảm bảo. Do vậy, nếu chỉ dựa vào
tiêu chí này cũng chưa dám bảo đảm chất lượng tín dụng được đánh giá tốt. Vì
vậy, có thể phải đề cập đến một số chỉ tiêu tiếp theo đây
4.2.3. Số hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói:
Là chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả của công tác tín dụng đối với hộ
nghèo. Họ đã thoát khỏi nghèo đói là do mức thu nhập bình quân đầu người tăng
lên chuẩn mực nghèo đói hiện hàng không còn nằm trong danh sách hộ nghèo có
khả năng vươn lên hòa nhập với cộng đồng.
Tổng số hộ
thoát khỏi
ngưỡng
nghèo
=
Số hộ
nghèo
trong DS
đầu kỳ
-
Số hộ
nghèo
trong DS
cuối kỳ
-
Số hộ nghèo
trong DS đầu
kỳ di cư đi nơi
khác
+
Số hộ nghèo
mới vào danh
sách trong kỳ
báo cáo
Với chỉ tiêu này cho thấy vốn tín dụng của NHCSXH đóng góp vào việc
làm giảm hộ nghèo như thế nào. Mục tiêu của tín dụng ưu đãi đối với người
nghèo là giúp họ có vốn sản xuất, thoát nghèo để hòa nhập cộng đồng xã hội và
hơn thế là ổn định tình hình chính trị - xã hội. Do vậy tổng số hộ nghèo thoát
khỏi ngưỡng nghèo hàng năm cao nghĩa là vốn của NHCSXH đã được sử dụng
một cách hiệu quả. Tuy nhiên với mục tiêu nay có thể chưa phản ánh một cách
SV:Nguyễn Văn Duy - Lớp: TCDN – K11
11
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
chính xác khách quan vì một số địa phương vì nhiều lý do đã tăng số hộ thoát
nghèo nhằm giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn mà thực tế không phải như vậy.
Đày là chỉ tiêu đánh giá khá nhạy cảm không dễ thực hiện để có được số liệu
một cách cụ thể và xác thực.
Ngoài ra do đặc thù của kênh tín dụng chính sách khác với tín dụng
thương mại: các ngân hàng thương mại được quyền lựa chọn đối tượng khách
hàng còn với NHCSXH thì đã là đối tượng chính sách thì phải tạo điều kiện để
họ thụ hưởng chính sách. Do vậy NHCS phải tìm đến khách hàng để cho vay
không được phép để trống địa bàn và bỏ xót đối tượng. Vì vậy phải tăng cường
cho vay đảm bảo mọi đối tượng chính sách thuộc đối tượng phục vụ đều được
tiếp cận vốn ưu đãi của nhà nước. Chính vì lẽ đó để đề cập đến chất lượng tín
dụng hộ nghèo cũng cần đề cập đến chỉ tiêu: lũy kế lượt hộ nghèo được vay vốn
và tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn so với danh sách đã được điều tra công bố.
4.2.4. Lũy kế số lượt hộ nghèo được vay vốn Ngân hàng
Chỉ tiêu này cho biết số hộ nghèo đã được sử dụng vốn tín dụng ưu đãi
trên tổng số hộ nghèo của toàn quốc, đây là chỉ tiêu đánh giá về số lượng. Chỉ
tiêu này được tính lũy kế từ hộ vay đầu tiên đến hết kỳ cần báo cáo kết quả.
Tổng số lượt
hộ nghèo
được vay vốn
=
Lũy kế số lượt
hộ được vay vốn
đến cuối kỳ
trước
+
Lũy kế số lượt hộ
được vay trong kỳ
báo cáo
4.2.5. Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn
SV:Nguyễn Văn Duy - Lớp: TCDN – K11
12
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
Đây là chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng đối với công tác tín dụng;bằng tổng
số hộ nghèo được vay vốn trên tổng số hộ nghèo đói theo chuẩn mực được công
bố.
Tỷ lệ hộ
nghèo được
vay vốn
=
Tổng số hộ nghèo được vay vốn
x 100%
Tổng số hộ nghèo đói trong danh sách
4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo.
Hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo là hoạt động tín dụng có tính rủi ro
cao. Ngoài những nguyên nhân khách quan như thiên tai bão lụt, cây trông, vật
nuôi thường xảy ra trên diện rộng, thiệt hại lớn còn là những nguyên nhân khác
từ bản thân hộ nghèo như: thiếu kiến thức làm ăn, sản phầm làm ra không tiêu
thụ được, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đầu tư.
Do cơ sở hạ tầng kém phát triên ở vùng sau, vùng xa, có những xã chưa
có đường giao thông đến xã nên nhiều hộ nghèo chưa có điều kiện sử dụng vốn
Ngân hàng, hơn nữa trình độ dân trí chưa cao là những cản trở cho việc thực
hiện các chính sách tín dụng đối với hộ nghèo.
Vốn tín dụng ngân hàng, chưa đồng bộ với các giải pháp khuyến nông,
khuyến ngư, cung cáp vật tư kỹ thuật cho sản xuất và tổ chức thị trường, lồng
ghép các chương trình kinh tế xã hội đối với nông nghiệp nông thôn nông dân
còn nhiều vấn đề khó khăn nên điều kiện nâng cao hiệu quả còn nhiều tồn tại,
vốn và hiệu quả đầu tư thấp.
Việc xác định đối tượng hộ nghèo vay vốn còn nhiều bất cập. Theo cơ chế
phải là hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh nhưng việc bình nghị và xét
chon từ Ủy ban nhân dân xã do ban xóa đói giảm nghèo lập danh sách đơn thuần
chỉ là danh sách hộ nghèo, trong đó nhiều hộ nghèo lập danh sách đơn thuần chỉ
là danh sách hộ nghèo, trong đó nhiều hộ không có điều kiện và năng lực tổ
SV:Nguyễn Văn Duy - Lớp: TCDN – K11
13
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
chức sản xuất, hộ nghèo, trong đó nhiều hộ không có điều kiện và năng lực tổ
chức sản xuất, hộ nghèo thuộc diện cứu trợ xã hội hoặc có những hộ không
thuộc diện hộ nghèo nhưng cũng trong danh sách được vay vốn, điều này ảnh
hưởng rớn lớn đến hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo.
Phương thức đần tư chưa phong phú dẫn đến việc sử dụng vốn vay sai
mục đích, vốn vay không phát huy hiệu quả, ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư vốn.
Tóm lại: Thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước đều có
cách làm khác nhau, thành công ở một số nước đều bắt nguồn từ thực tiễn của
chính nước đó. Ở Việt Nam, trong thời gian qua đã bước đầu rút ra được bài học
kinh nghiệm của các nước trên thế giới về việc giải quyết nghèo đói.
Tin tưởng rằng trong thời tới, bằng việc giải quyết những vấn đề còn tồn
tại và tạo ra những hướng đi đúng đắn giữa các định chế tài chính phục vụ vốn
cho người nghèo ở nước ta với những giải pháp hợp lý giúp cho hộ nghèo có
thêm vốn đầu tư mở rộng sản xuất vượt ra biên giới đói nghèo.
SV:Nguyễn Văn Duy - Lớp: TCDN – K11
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét