nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp. Đất nước trải qua hàng chục
năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề, kinh tế nông nghiệp kém
phát triển. Bên cạnh những nước XHCN đã đạt được những thành tựu to
lớn về nhiều mặt, đã từng là chỗ dựa cho phong trào hoà bình và cách
mạng thế giới, cho việc đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân, góp phần
quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến
bộ xã hội vẫn còn là một nước XHCN lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Vì
thế mâu thuẫn giữa CHXH và CNTB đang diễn ra gay gắt. Trước mắt
CNTB còn có tiềm năng phát triển kinh tế nhờ ứng dụng những thành tựu
đổi mới khoa học công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý. Chính nhờ
những thứ đó mà các nước tư bản có nền đại chủ nghĩa tư bản phát triển.
Các nước XHCN trong đó có Việt Nam phải tiến hành cuộc đấu tranh rất
khó khăn và phức tạp, chống nghèo nàn lạc hậu, chống chủ nghĩa thực dân
mới dưới mọi hình thức chống chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi hình
thức chống sự can thiệp và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhằm bảo vệ
độc lập và chủ quyền dân tộc. Chính sự vận động của tất cả các mâu thuẫn
đó đã dẫn tới hậu quả tất yếu phải đổi mới nền kinh tế nước ta và một trong
những thành tựu về đổi mới nền kinh tế là bước đầu hình thành nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước. Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần khắc phục được tình
trạng độc quyền, tạo ra động lực cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế
thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển. Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần là đặc trưng cơ bản của kinh tế quá độ, vừa là tất yếu, cần
thiết, vừa là phương tiện để đạt được mục tiêu của nền sản xuất xã hội nó
vừa tạo cơ sở làm chủ về kinh tế vừa đảm bảo kết hợp hài hoà hệ thống
lợi ích kinh tế. Đó là đông lực của sự phát triển.
5
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ
1. Mặt thống nhất
Hiến pháp Nhà nước 1992 xác nhận sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng XHCN. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI và lần thứ VIII đã được xác định nền kinh tế
nước ta tồn taị 5 thành phần kinh tế.
Thành phần kinh tế quốc doanh (kinh tế Nhà nước), thành phần kinh
tế tập thể (hợp tác), thành phần kinh tế tư bản tư nhân, thành phần kinh tế
tư bản Nhà nước, thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ. Hiện nay chúng ta
công nhận các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH,
xác nhận sự tồn tại lâu dài của nó hơn nữa lại tuyên bố phát triển tất cả
các thành phần kinh tế đó theo định hướng XHCN. Đây không phải là
một giáo điều sách vở mà là những kinh nghiệm rút ra t ừ thực tế, những
thể hiện từ những thất bại. Mục tiêu hàng đầu trong việc phát triển các
thành phần kinh tế được tóm tắt thành 3 điểm: Giải phóng sức sản xuất,
nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân. Mục
tiêu cũng chính đã thể hiện nhất quán từ hội nghị Trung ương lần thứ VI
khiến Đảng ta phải ban hành những chính sách để khuyến khích sản xuất
"bung ra" và cho đến nay, trong chính sách phát triển 5 thành phần kinh
tế chúng ta vẫn thấy cần thiết thực sự lưu ý đến các thành phần mà trước
đây gọi là phi XHCN, là đối tượng phải cải tạo ngay khi bước vào thời kỳ
xây dựng CNXH. Chẳng hạn như chính sách khuyến khích kinh tế tư bản
tư nhân đầu tư vào sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà kinh doanh
tư nhân yên tâm đầu tư lâu dài, mọi thành phần kinh tế được bình đẳng,
vay vốn sản xuất, bảo vệ quyền sở hữu và hợp pháp của các nhà tư bản,
6
áp dụng phổ biến và phát triển đa dạng các hình thức kinh tế tư bản Nhà
nước. Chính nhờ việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, công cuộc
đổi mới của chúng ta đã đạt những kết quả quan trọng. Cơ chế vận hành
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN là cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách
và các công cụ khác. Trong cơ chế đó các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ
sản xuất kinh doanh, quan hệ bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp, hợp tác và
liên doanh tự nguyện, thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị
kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động vàphương án sản xuất kinh doanh có
hiệu quả. Nhà nước quản lý nền kinh tế nhằm định hướng, tạo môi trường
và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị
trường, kiểm soát chặt chẽ và sử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động
kinh tế, bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội.
Công cuộc cải cách kinh tế ở Việt nam đã làm nền kinh tế thay da đổi thịt
đưa tốc độ phát triển kinh tế bình quân từ 4,9% trong thời kỳ 1986 - 1990
lên 7,7% trong thời kỳ 1990 - 1995 và giảm tốc độ lạm phát từ 7,75%
(năm 1986) xuống 12,7% (1995). Thành công của cải cách không những là
nhờ các chính sách tài chính tiền tệ thích hợp và còn vì việc mở cửa cho
nền kinh tế khu vực tư nhân vào đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Nhà nước
thực hiện nhất quán chính sách kinh tế thành phần, không phân biệt đối xử
không tước đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể tư liệu sản xuất,
không áp đặt hình thức kinh doanh khuyến khích các hoạt động cho quốc
tế nhân sinh. Các thành phần kinh tế nước ta có mối quan hệ chặt chẽ và
thống nhất. Chúng đều là bộ phận cấu thành của hệ thống nhân công lao
động xã hội thống nhất và mục tiêu duy nhất và chung nhất của chúng ta là
đáp ứng nhu cầu của xã hội và cư dân trên thị trường để hướng tới một
mục đích cuối cùng phát triển nền kinh tế đất nước, đưa nước ta trở thành
một nước có nền công nghiệp phát triển. Nền kinh tế nhiều thành phần
7
nước ta phát triển theo định hướng XHCN nhưng đều chịu sự điều tiết
thống nhất của các quy luật kinh tế khách quan đang tác động trong thời kỳ
quá độ (Nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH trong hoàn cảnh quốc tế
có những biến đổi to lớn và sâu sắc). Đó là"Kinh tế quốc doanh giữ vai trò
chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố mở rộng. Kinh tế cá
thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp
tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Tư bản tư nhân
được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật
pháp quy định. Phát triển kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức.
Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh nhưng không phải là
một thành phần kinh tế độc lập. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết
với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng. Các tổ chức kinh tế chủ và
liên kết, hợp tác và cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh "Mặc dù thành
phần kinh tế đều chịu sự điều tiết của Nhà nước những mỗi thành phần đã
được nhân dân hưởng ứng rộng rãi và đi nhanh vào cuộc sống chính sách
ấy đã góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân về kinh tế, khơi
dậyđược nhiều tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân để phát triển sản
xuất, dịch vụ tạo thêm việc làm sản xuất cho xã hội thúc đẩy sự hình thành
và phát triển nền kinh tế hàng hoá, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị
trường. Sự phát triển của các thành phần kinh tế là quá trình thực hiện sự
kết hợp và lợi ích kinh tế xã hội, tập thể và người lao động ngày càng
cao hơn.
2. Mặt mâu thuẫn:
a. Quy luật không những chỉ ra quan hệ giữa các mặt đối lập mà còn
chỉ ra cho chúng ta thấy, nguồn gốc, đông lực của sự phát triển chính vì thế
trong sự phát triển các thành phần kinh tế nước ta hiện nay bên cạnh mặt
thống nhất còn song song phát triển theo định hướng tư bản chủ nghĩa.
8
Mặc dù vậy đó mới chỉ là khả năng vì thực trạng kinh tế - xã hội nước ta
và tương quan lực lượng trong bối cảnh quốc tế như hiện nay khi vận
mệnh của đất nước phát triển theo hướng XHCN "Chưa phải là một cái gì
không thể đảo ngược lại. Là quyết tâm cao kiên định chưa đủ mà phải có
đường lối sáng suốt khôn ngoan của một chính Đảng cách mạng tiên tiến
giàu trí tuệ và đặc biệt phải có bộ máy Nhà nước mạnh". Mâu thuẫn cơ
bản trên còn thể hiện giữa một bên gồm những lực lượng và khuynh hướng
phát triển theo định hướng XHCN trong tất cả các thành phần kinh tế,
được sự cổ vũ, khuyến khích hướng dẫn, bảo trợ của những lực lượng
chính trị - xã hội tiên tiến với một bên là khuynh hướng tự phát và những
lực lượng và những lực lượng gây tổn hại cho quốc tế nhân sinh. Mâu
thuẫn cơ bản này được quyết định những mâu thuẫn kinh tế - xã hội khác
cả về chiều rộng và chiều sâu, trong quá trình phát triển kinh tế nhà nước
theo định hướng XHCN. Do đặc điểm của thời kỳ quá độ tiến lên XHCN
ở nước ta là phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng lực lượng sản xuất, khắc
phục những kinh tế lạc hậu và lỗi thời bằng cách phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản
của Nhà nước để đưa nền kinh tế nước ta đi lên CNXH. Do đó mâu thuẫn
kinh tế cơ bản ẩn chứa bên trong quá trình này là: mâu thuẫn giữa hai
định hướng phát triển kinh tế - xã hội: Định hướng XHCN và định hướng
phi XHCN. Đó là mâu thuẫn bên trong của nền kinh tế nước ta hiện
nay. Hai định hướng đó song song và thường xuyên tác động lẫn nhau tạo
thành mâu thuẫn kinh tế cơ bản chi phối quá trình phát triển nền kinh tế
nước ta trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH. Do vậy vận động nền kinh tế
nước ta không thể tách rời sự vận động của thế giới của thời đại. Ngày nay
những nhân tố bên trong và bên ngoài của cách mạng Việt Nam gắn bó
khăng khít với nhau hơn bao giờ hết cho nên còn có một mâu thuẫn nữa
tác động mạnh mẽ vào quá trình phát triển của nền kinh tế nước ta hiện
9
nay là mâu thuẫn của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng giữ vững nền
độc lập dân tộc và kiên định đi theo con đường XHCN với các thế lực
phản động trong và ngoài nước. Có một điều có vẻ như ngược đời trong
công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay là xây dựng CNXH bằng
cách mở rộng đường cho CNTB. Nhưng CNTB ở đây là CNTB hoạt động
dưới sự quản lý của Nhà nước XHCN. Và không dẹp bỏ kinh tế tư nhân
và TBCN như chúng ta đã làm trước đây. Trái lại ngày nay chúng ta bảo
hộ và khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển. Điều này không phải
là chúng ta thay đổi con đường phát triển kinh tế - xã hội, không phải là từ
bỏ sự lựa chọn XHCN. Việc xóa bỏ chế độ tư hữu kiểu trước đây là trái
với qui luật khách quan. Vì thế sẽ không thúc đẩy mà trái lại làm trở ngại
cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng văn minh khó có thể thực hiện được. Do đó tình trạng
nghèo nàn lạc hậu là"giặc dốt"v.v vẫn còn tồn tại trên đất nước ta. Đây là
những nguy cơ và hiểm hoạ đối với sự tồn vong của cơ chế mới mà
chúng ta đang gắng sức xây dựng. Sự phát triển của kinh tế cá thể, tư bản
tư nhân ở trong nước và việc mở cửa cho CNTB nước ngoài đầu tư vào
nước ta dưới nhiều hình thức của "chế độ tô nhượng", đang diễn ra ngày
càng mạnh mẽ sẽ thực sự làm cho nền kinh tế mạnh lên, nhưng cũng thực
sự sẽ diễn ra 2 cuộc đấu tranh giữa hai định hướng phát triển kinh tế xã
hội. Chính sách phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đòi hỏi có sự
khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ vì hiện nay sự phát
triển đó còn thấp, chưa tương ứng với tiềm năng hiện có. Tuy nhiên đường
lối đó cũng đòi hỏi thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển. Chỉ có
như vậy mới làm cho các thành phần kinh tế khác ngày càng mạnh lên,
phát huy tốt vai trò chỉ đạo và hợp thành nền tảng kinh tế Quốc dân.
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, các thành phần kinh tế bình đẳng trước
pháp luật, nhưng không có vai trò, vị trí như nhau trong quá trình hình
10
thành và xây dựng chế độ kinh tế - xã hội mới. Kinh tế mà nòng cốt là các
doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Trong quá trình tổ chức xây
dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, Nhà nước ta sử dụng một phần
vốn tài sản thuộc sở hữu Nhà nước xây dựng khu vực doanh nghiệp nhà
nước đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả để giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế, Nhà nước sử dụng các doanh nghiệp Nhà nước như một "công cụ vật
chất để vừa hướng dẫn, điều chỉnh những biến động tự phát triển của thị
trường; vừa "mở đường" làm "đầu tàu" thu hút, lôi kéo các thành phần
kinh tế khác phát triển theo định hướng, chiến lược và kế hoạch của Nhà
nước, chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 đã nêu
rõ"khu vực quốc doanh được sắp xếp lại, đổi mới công nghệ và tổ chức
quản lý, kinh doanh có hiệu quả liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế
khác, thực hiện vai trò chỉ đạo và chức năng của công cụ điều tiết vĩ mô
của Nhà nước"
(1)
.
Như vậy bên cạnh quan hệ thống nhất có liên quan mật
thiết đến nhau của các thành phần kinh tế còn tồn tại những mâu thuẫn giữa
các thành phần kinh tế. Những mâu thuẫn này tạo động lực và tiền đề cho
sự phát triển của nền kinh tế. Năm thành phần kinh tế nước ta đến nay ,
không chỉ có mâu thuẫn bên ngoài giữa các thành phần kinh tế mà có mâu
thuẫn bên trong bản thân các thành phần kinh tế mà muốn hiểu đúng bản
chất của sự vật muốn xác định được xu thế phát triển của nó phải tìm cho
được mâu thuẫn bên trong của sự vật. Bên trong bản thân các thành
phần kinh tế còn tồn tại mâu thuẫn giữa lợi ích các ngành trong thành phần
kinh tế đó, những ngành độc quyền như CN quốc phòng, Ngân hàng Nhà
nước, Bưu chính viễn thông, không phải là không chịu sự cạnh tranh khốc
liệt của nền kinh tế thị trường. Ngành nào c ũng muốn - kinh doanh đạt
hiệu quả cao nhất. Trong nền kinh tế hiện nay thực hiện điều đó không phải
là dễ dàng. Nhưng chính sự cạnh tranh đó đã tạo điều kiện cho các doanh
(1)
Chiến lược ổn định v phát trià ển kinh tế đến năm 2000 - NXB Sự thật H Nà ội 1991 - Trang 12
11
nghiệp phát triển cao hơn với chất lượng và số lượng sản phẩm ngày càng
phong phú hơn. Chuyển sang kinh tế thị trường tất yếu phải hoà nhập vào
nền kinh tế thế giới. Trong thời đại ngày nay, mọi nền kinh tế dân tộc đều
không hướng tới xuất khẩu, không coi mũi nhọn vươn lên ra bên ngoài
thì không thể đưa nền kinh tế trong nước tăng trưởng theo kịp bước tiến
hoá chung của nhân loại. Nền ngoại thương Việt Nam những năm 1981 -
1982 còn nhỏ bé và mất cân đối nghiêm trọng. Tổng kim ngạch không vượt
quá 500 triệu USD và tỉ lệ xuất nhập là 1/4 (xuất 1 thì nhập 4). Những
năm đầu thay đổi (1986 - 1987) kim ngạch xuất khẩu khoảng 800 triệu
USD với tỷ lệ xuất nhập khẩu là 1/1,7. Năm 1986 - 1989 kim ngạch xuất
khẩu đã trên 1 tỷ USD, năm 1991 gần 2 tỷ USD và năm 1992 trên 2,4 tỷ
với cán cân ngoại thương thăng bằng. Đó là những bước tiến hết sức quan
trọng tại những cơ sở, những tín hiệu đáng mừng cho nền kinh tế nước ta.
Đó là do sự cạnh tranh gay gắt của các ngành trong kinh tế quốc doanh, mà
ngành nào cũng cho mình là then chốt. Đấu tranh và phát triển là hai mặt
của hiện tượng, là quan hệ nhân - quả của một vấn đề. Có đấu tranh mới có
phát triển vì vậy như bất kỳ một giá trị nào, sự đấu tranh của các mặt đối
lập tất yếu sẽ dẫn đến sự chuyển hoá g iữa chúng. Trong cơ chế thị trường
mặc dù là sự cạnh tranh rất khốc liệt "Thương trường là chiến trường"
nhưng những gì còn tồn tại được và mặt hàng nào được người tiêu dùng
chấp nhận, đó chính là do sự nỗ lực đổi mới của bản thân ngành đó. Chính
vì vậy các doanh nghiệp không thể ngồi yên thụ động mà phải đổi mới, cải
tiến đáp ứng nhu cầu của thị trường, thúc đẩy tính năng động sáng tạo và
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là tính ưu việt của mâu thuẫn
nhưng bên cạnh đó những mâu thuẫn này cũng đã nảy sinh nhiều tệ nạn xã
hội. Đó là sự coi trọng lợi ích và đồng tiền, vì tiền họ sẵn sàng dùng mọi
thủ đoạn để đạt được mục đích của mình. Điều này có sự ảnh hưởng không
nhỏ đến sự phát triển chung của xã hội nhất là xã hội Việt Nam ta muốn
12
coi trọng những giá trị văn hoá truyền thống và đạo đức con người. Tính
mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế là còn ở chỗ do lợi ích lâu dài giữa
các thành phần kinh tế khác nhau, mỗi thành phần kinh tế có lợi ích riêng.
Quá trình phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất xã hội, quá trình phát triển
sức sản xuất, cải tiến kỹ thuật, công nghệ, đổi mới tổ chức quản lý kinh tế,
thực hiện mạnh mẽ sự phân công lao động sẽ khắc phục tình hình mâu
thuẫn giữa các thành phần kinh tế.
13
Phần II
THỰC TRẠNG - GIẢI PHÁP CỦA CÁC THÀNH PHẦN KINH
TẾ
I. THỰC TRẠNG CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG
THỜI GIAN QUA:
1. Kinh tế quốc doanh:
Dựa trên sở hữu toàn dân tư liệu sản xuất, theo số liệu thống kê đến
cuối năm 1989 cả nước có 12.080 xí nghiệp quốc doanh với vốn tương ứng
là 10 tỷ đồng USD. Trong đó công nghiệp chiếm 49,3% tổng số vốn, xây
dựng chiếm 9% tổng số vốn. Nông nghiệp chiếm 8,1% tổng số vốn lâm
nghiệp 1,2% tổng số vốn. CTVT : 14,8%; Thương nghiệp 11,6%; Các
ngành khác 5,93% tổng số vốn. Hàng năm thành phần kinh tế này tạo ra
khoảng 35 - 40% GDP và từ 22 - 30% TNQD, đóng góp vào ngân sách từ
60 - 80% số thu của ngân sách Nhà nước. Thành phần kinh tế này nắm giữ
toàn bộ công nghiệp nặng, hàng tiêu dùng chiếm tỉ trọng phần lớn phần
lớn những sản phẩm chủ yếu (100%) thuốc chữa bệnh 100% hàng dệt
kim 85% giấy, 75% vải mặc, 60% xà phòng và 70% xe đạp không ai có
thể phủ nhận vai trò và tầm quan trọng của kinh tế quốc doanh đối với
nền kinh tế quốc doanh đối với nền kinh tế nước ta và tuy đã đạt một số
thành tích song khu vực kinh tế quốc doanh chưa đảm bảo được tái sản
xuất giản đơn, sự tăng trưởng kinh tế thực hiện theo mô hình chiều rộng
(tăng vốn, tăng lao động); sự đóng góp của khu vực này so với số chi của
Nhà nước trở lại cho nó 1:3.
*Hiện nay sau đổi mới cơ cấu thành phần kinh tế và cơ chế quản lý
kinh tế, tuy có tạo nên sự chuyển biến bước đầu, một số xí nghiệp đã vượt
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét