Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

VẬN DỤNG MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA M. PORTER PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH XUẤT KHẨU CỦA CÀ PHÊ VIỆT NAM

Lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành, quốc gia mà
nhờ có chúng các doanh nghiệp kinh doanh trên thương trường quốc tế tạo ra một số ưu
thế vượt trội hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Lợi thế cạnh tranh giúp cho nhiều
doanh nghiệp có được “Quyền lực thị trường” để thành công trong kinh doanh và trong
cạnh tranh.
II. Tổng quan ngành cà phê Việt Nam
Cây cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1870. Ngành
cà phê thực sự phát triển từ sau năm 1975, đến nay cả nước có khoảng 540.000 ha diện
tích trồng cà phê. Trong những năm gần đây, sản lượng cà phê của Việt Nam luôn đạt
mức trên 1 triệu tấn/ năm, giá trị tổng sản lượng chiếm khoảng 2% GDP. Ngành cà phê đã
có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế của đất nước, đồng thời góp phần giải
quyết việc làm cho khoảng 700.000 lao động. Kim ngạch xuất khẩu cà phê năm nhiều
năm liền đạt trên 1,5 tỷ USD, năm 2010 đạt 1,763 tỷ USD, xếp thứ hai trong số các mặt
hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam (sau gạo).
Xét trên bình diện thế giới, Việt Nam đứng thứ hai sau Braxin về sản xuất và xuất
khẩu cà phê. Hiện nay, cà phê Việt Nam đã có mặt tại 75 quốc gia trên thế giới, thị phần
đạt 12% sản lượng thế giới (số liệu năm 2010, nguồn ICO – International Coffee
Organization). Riêng đối với cà phê Robusta - cà phê vối (thích hợp với khí hậu vùng
nhiệt đới), Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lượng cà phê Robusta của thế
giới, đạt khoảng 35% năm 2010. Tuy vậy cà phê Robusta là loại có chất lượng và giá
thành kém hơn so với cà phê Arabica – cà phê chè (thích hợp với khí hậu mát mẻ, độ cao
trên 600m) vốn là thế mạnh của Braxin.
5
Sản lượng cà phê (đơn vị: triệu tấn)
Niên vụ 2006-2007 2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011
Tổng sản
lượng
Braxin 2,80 2,35 3,20 2,69 3,27
Việt Nam 1,17 1,08 1,02 1,11 1,12
Thể giới 7,91 7,31 8,00 7,61 8,27
Cà phê
Arabica
Braxin 2,16 1,66 2,43 1,98 2,51
Việt Nam 0,03 0,024 0,029 0,027 0,035
Thể giới 4,93 4,39 4,97 4,46 5,15
Cà phê
Robusta
Braxin 0,64 0,69 0,77 0,71 0,76
Việt Nam 1,14 1,06 0,99 1,08 1,09
Thể giới 2,97 2,91 3,03 3,14 3,13
Tổng hợp từ Báo cáo tháng 6/2011của FAS/USDA
Năng suất bình quân cà phê Việt Nam vào loại cao nhất thế giới, khoảng 1, 7 tấn/ha,
thường cao hơn khoảng 0, 7 tấn/ha so với các nước trồng cà phê trên thế giới.
Tuy là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới nhưng giá trị cà phê mang lại cho
người nông dân và xuất khẩu lại không cao do hầu hết cà phê được xuất khẩu dưới dạng
nhân thô, không qua chế biến, có đến 98% cà phê chưa rang xay, phương pháp chế biến
còn lạc hậu.
III. Phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia ngành hàng cà phê Việt Nam dựa trên
mô hình kim cương của M.Porter
1. Điều kiện các yếu tố sản xuất
Đầu vào cơ bản:
Việt Nam có lợi thế cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng cà phê và trở thành nước đứng
thứ hai thế giới về xuất khẩu cà phê, phần lớn là do nước ta có điều kiện các yếu tố sản
xuất mặt hàng cà phê vô cùng thuận lợi, trong đó các yếu tố sản xuất cơ bản giữ vai trò
tiên quyết tạo ra lợi thế này. Các yếu tố đó bao gồm tài nguyên, khí hậu vị trí địa lí, lao
động giản đơn và nguồn vốn tài chính.
1.1.1. Tài nguyên
Đất trồng cà phê tốt là đất đỏ bazan, ngoài ra cũng có thể trồng cà phê trên đất
đỏ đá vôi, cả trên đất đá hoa cương hay phiến thạch. Đất trồng cà phê cần tương đối bằng
phẳng, tốt nhất là độ dốc dưới 8 độ. Về tính chất hoá học, cà phê thích nghi với độ chua
6
khá rộng, pH từ 4, 5 đến 6, 5. Hàm lượng chất hữu cơ cao thường giữ cho đất tơi xốp và
có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cao.
Nước ta có hơn 3 triệu hecta đất bazan màu mỡ thích hợp trồng cây cà phê,
riêng ở khu vực Tây Nguyên có hơn 2 triệu hecta, chiếm hơn 60% diện tích đất bazan cả
nước. Việt Nam hiện có 536.959 ha đất canh tác cà phê, trong đó gần 90% diện tích cà
phê ở khu vực Tây Nguyên.
1.1.2. Khí hậu
Cà phê vối phát triển rất tốt ở khí hậu nhiệt đới có nhiệt độ trung bình 22 -26 độ
C, lượng mưa 1800 - 2000 mm và phân bố không đều trong 9 – 10 tháng của năm, độ ẩm
không khí gần như bão hoà.
Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, chủ yếu phân thành
hai mùa mưa, mùa khô rõ rệt. Đặc biệt khu vực Tây Nguyên với khí hậu nóng ẩm, mưa
nhiều tạo điều kiện thuân lợi để cây cà phê phát triển, đảm bảo đầy đủ nhu cầu nước tưới
tiêu. Mùa khô kéo dài thuận lợi cho việc phơi sấy bảo quản sản phẩm. Nhưng mặt khác,
mùa khô kéo dài cũng gây nên tình trạng thiếu nước tưới.
Cà phê chè thường được trồng ở các vùng có độ cao trên mực nước biển từ
1300-1800 m và có 1 mùa khô từ 4-5 tháng, lượng mưa trung bình từ 1500 – 1800 mm,
nhiệt độ trung bình từ 22 – 25 độ C. Tuy nhiên ở các vùng Sơn La, Điện Biên của nước ta,
người ta vẫn trồng được cà phê chè vì cùng này có vị trí vĩ độ rất cao (22 – 23 vĩ độ Bắc).
Điều kiện của địa hình và vĩ độ đã điều chỉnh những điều kiện bất thuận làm cho cây cà
phê chè có thể phát triển.
1.1.3. Vị trí địa lí
Việt Nam nằm ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương, khu vực kinh tế sôi động
của thế giới. Nước ta nằm trên đường hàng hải và đường hàng không quốc tế quan trọng
với nhiều cảng biển như: cảng Cái Lân (Quảng Ninh), Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn…và
các sân bay quốc tế Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất. Các tuyến đường bộ, đường sắt
xuyên Á, các đường hàng không nối liền các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và trên
thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta giao lưu với các nước xung quanh. Hơn nữa,
nước ta còn là cửa ngõ mở lối ra biển thuận lợi cho các nước: Lào, đông bắc Campuchia,
Thái Lan và khu vực tây nam Trung Quốc. Vị trí địa chính trị thuận lợi tạo cơ hội để
7
hướng đến, tiếp cận, và cho phép nước ta tận dụng các nguồn lực bên ngoài, tăng cường
buôn bán, hợp tác đầu tư, mở rộng thị trường buôn bán với nước ngoài.
1.1.4. Nguồn nhân lực
Theo kết quả điều tra mới nhất năm 2009, dân số của Việt Nam là 85.789.573
người, đứng thứ 3 Đông Nam Á, đứng thứ 13 thế giới.
Nhìn vào tháp dân số trên, chúng ta thấy cơ cấu dân số Việt Nam vẫn là dân số
trẻ, tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động chiếm trên 55% dân số. Mỗi năm, xã hội có thêm
khoảng 1, 1 triệu lao động mới. Người dân nước ta cần cù chịu khó, lại ham học hỏi, tiếp
thu nhanh những tiến bộ khoa học kĩ thuật mới tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản
xuất do đặc điểm quá trình canh tác, chăm sóc và thu hoạch cây cà phê đòi hỏi rất nhiều
công lao động, trung bình 1 ha cà phê cần từ 300- 400 công lao động, trong đó riêng công
thu hái chiếm đến hơn 50%. Dân số đông là một nguồn lực quan trọng để phát triển kinh
tế, cung cấp nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn.
1.1.5. Nguồn vốn tài chính
Để tạo điều kiện giúp nông dân làm giàu nhờ cây cà phê, chính phủ nước ta đã
tạo nhiều điệu kiện thuận lợi để nông dân có thể tiếp cận được nguồn vốn vay để trồng
trọt, chủ yếu là thông qua kênh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
8
Nữ
(Agribank). Riêng niên vụ 2009- 2010 vừa qua, doanh số cho vay cà phê của Agribank
đạt 11.334 tỷ đồng, trong đó 5.163 tỷ đồng (chiếm 45,6%) dành cho thu mua cà phê; số
còn lại dành cho thu mua để xuất khẩu, trồng và chăm sóc, chế biến cà phê.
Đầu vào nâng cao
1.1.6. Cơ sở hạ tầng
Các công trình giao thông, truyền thông, thủy lợi, điện… được nhà nước đầu tư
xây dựng. Mạng lưới giao thông vận tải được nâng cấp, tạo thuận lợi cho công tác chuyên
chở sản phẩm từ vùng sản xuất đến nơi tiêu thụ, cũng như vận chuyển nguyên liệu, phân
bón, máy móc đến nơi canh tác… Hệ thống thủy lợi cũng được xây dựng đáp ứng nhu cầu
tưới tiêu, canh tác của bà con trồng cà phê.Hệ thống thông tin liên lạc, truyền thông,
truyền hình, cung cấp nguồn năng lượng… cũng được chú trọng phát triển.
1.1.7. Khoa học kĩ thuật
Cùng với việc tăng nhanh về diện tích, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm
canh như: chọn giống, bón phân, tưới nước, tạo tán…đã làm năng suất và sản lượng cà
phê tăng mạnh. Đồng thời, công nghiệp sơ chế cà phê ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ.
Nhiều thiết bị mới chất lượng tốt đã được trang bị trong chế biến. Những năm 1990, năng
suất bình quân 1 ha cà phê kinh doanh chỉ đạt từ 8- 9 tạ nhân, đến năm 1994 năng suất
bình quân đạt 18, 5 tạ/ha, hiện nay bình quân đạt 25- 28 tạ/ha; cá biệt ở một số vùng sản
xuất đã cho năng suất bình quân đạt 35- 40 tạ/ha, vườn cà phê một số hộ gia đình đạt trên
50 tạ/ha.
1.1.8. Lao động trình độ cao
Đây là vấn đề rất nan giải đối với việc phát triển cây cà phê của nước ta, do lao
động nước ta phần lớn là trình độ thấp và chưa qua đào tạo. Tuy vậy chất lượng lao động
đang ngày được nâng cao song song với việc đầu tư công nghệ mới. Yếu tố kinh nghiệm
lâu lăm cũng là một thế mạnh của lao động nước ta.
2. Điều kiện nhu cầu trong nước
Quy mô và mức độ tăng trưởng
9
Là một trong những nước dẫn đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê lại là
quốc gia có dân số đông thứ 13 thế giới nhưng lượng tiêu thụ cà phê trong nước của Việt
Nam lại khá khiêm tốn so với các nước sản xuất cà phê khác.
Theo báo cáo của Tổ chức Cà phê Quốc tế ICO, lượng cà phê tiêu thụ trên đầu
người của Việt Nam năm 2009 chỉ đạt 0,82 kg/người, thấp hơn rất nhiều so với Braxin
(5,64kg/người), hay với các nước nhập khẩu cà phê như Hoa Kỳ (4,09 kg/người), EU
(4,67kg/người).
Lượng cà phê tiêu thụ tại thị trường Việt Nam còn thấp như vậy một phần là do cà
phê vẫn chưa thực sự phổ biến trong đời sống hàng ngày của mọi người dân Việt, với một
cộng đồng lớn dân cư thì trà xanh mới là thức uống chính hàng ngày.
Năm 2010, tiêu thụ cà phê của Việt Nam chỉ chiếm 8,6% tổng sản lượng, trong khi
tiêu thụ nội địa của Braxin đạt khoảng 40% tổng sản lượng.
Như vậy có thể thấy phần lớn sản lượng cà phê Việt Nam sản xuất đều dùng cho
xuất khẩu, lượng tiêu thụ nội địa chưa tương xứng, chưa đủ để tạo tính an toàn cho lượng
tiêu thụ cà phê Việt Nam trước những biến động của cầu và giá cà phê thế giới.
Tuy nhiên, lượng tiêu thụ cà phê nội địa của Việt Nam đang đạt tốc độ tăng trưởng
cao, từ mức 4,5% tổng sản lượng 11,57 triệu bao (1 bao = 60 kg) năm 2002 lên mức 8,6%
tổng sản lượng 18,5 triệu bao năm 2010. Đặc biệt, năm 2010 theo báo cáo thị trường
tháng 3 của Tổ chức Cà phê Quốc tế ICO, tiêu thụ cà phê tại Việt Nam đạt tốc độ tăng
trưởng nhanh nhất thế giới với 31% từ 1,208 triệu bao năm 2009. Cũng trong năm này,
tiêu thụ tại Braxin tăng trưởng 4,1% đạt 18,945 triệu bao.
Với tốc độ tăng trưởng này, mục tiêu tiêu thụ nội địa đạt 10-15% tổng sản lượng
trong những năm tới của Vicofa là khả thi và cần thiết nhằm nâng cao vai trò của thị
trường nội địa hướng tới phát triển bền vững ngành cà phê.
10
Thị hiếu tiêu dùng và phân khúc thị trường
Thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam được chia làm hai phân khúc: cà phê rang xay
và cà phê hoà tan.
Theo báo cáo của FAS (USDA), lượng tiêu thụ nội địa cà phê rang & nguyên hạt
của Việt Nam niên vụ 2009-2010 đạt 1080 nghìn bao, còn lượng tiêu thụ nội địa cà phê
hoà tan đạt 120 nghìn bao.
Mặt khác theo nghiên cứu của Học viện Marketing Ứng dụng I.A.M, tiêu thụ thị
trường nội địa Việt Nam đạt khoảng 61 nghìn tấn/năm, trong đó cà phê hoà tan chiếm 9
nghìn tấn, cà phê rang xay có nhãn hiệu chiếm 35 nghìn tấn, còn lại là cà phê không tên
tuổi và nhãn hiệu. Thống kê đo lường tại 6 thành phố lớn (chỉ tính sản phẩm có nhãn
hiệu) cho thấy thị phần cà phê hoà tan chiếm 62% về số lượng và 65% về giá trị, so với
38% về số lượng và 35% về giá trị của cà phê rang xay có nhãn hiệu. Mức tăng trưởng
tiêu thụ hàng năm của cà phê hoà tan lớn hơn cà phê rang xay. Như vậy có thể thấy người
tiêu dùng Việt Nam đang ngày càng hướng nhiều hơn đến cà phê hòa tan, vốn thuận tiện
hơn trong việc thưởng thức, tạo nhu cầu thúc đây sản xuất cà phê hoà tan phát triển.
Các nhãn hiệu cà phê trên thị trường Việt Nam cũng đang ngày càng đa dạng hơn,
chủng loại sản phẩm được đa dạng hóa để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Bên cạnh các
doanh nghiệp nổi tiếng trong nước như Trung Nguyên, Vinacafe, Nestlé, người tiêu dùng
Việt Nam cũng bắt đầu làm quen với các chuỗi cửa hàng cà phê thương hiệu nước ngoài
như Gloria Jeans, Illy’s.
Xét trên khía cạnh khác, theo kết quả điều tra từ 540 gia đình, 60 người uống cà
phê tại quán và 40 quán cà phê tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh do Viện Chính sách
và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn thực hiện năm 2009, khách hàng ở độ tuổi
thanh niên và vị thành niên có mức tăng tiêu thụ cà phê nhanh nhất, cả về cà phê bột và cà
phê hòa tan. Nhóm thanh niên và trung niên có mức độ tiêu dùng cà phê cao nhất. Nhóm
tuổi già tăng mức tiêu thụ rất ít và chỉ tăng lượng tiêu thụ cà phê bột. Xét về ngành nghề,
những người làm việc nhiều về trí óc và có kỹ năng chuyên môn, kỹ thuật viên tiêu thụ cà
phê nhiều nhất. Mức tiêu thụ cũng tăng mạnh ở lao động giản đơn. Điều tra ở trên cho
thấy tiềm năng phát triển sản xuất cà phê có chất lượng, mẫu mã phù hợp với giới trẻ, với
11
lao động có trí óc, bên cạnh đó là các loại cà phê giá rẻ, phù hợp khẩu vị của nhóm thu
nhập thấp, trình độ học vấn thấp.
3. Các ngành hỗ trợ và có liên quan
Phần này chúng em tập trung vào các ngành hỗ trợ và liên quan đối với các doanh
nghiệp xuất khẩu cà phê.
Các ngành hỗ trợ: gieo trồng, thu mua cà phê, cung ứng bao bì, máy móc đóng gói
Đối với mỗi doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, các ngành hỗ trợ là những ngành cung
ứng đầu vào cho chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh như ngành cơ khí thì chế tạo và
lắp ráp máy móc để phục vụ chế biến và đóng gói, hay ngành lâm nghiệp trồng cây cà phê
để tạo đầu vào chính cho giai đoạn sản xuất sản phẩm cà phê tiêu dùng. Tuy hiện nay,
công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam chưa thực sự phát triển để chiếm lợi thế cạnh tranh trên
trường quốc tế, nhưng có thể nhận thấy rõ xu hướng phát triển của ngành này đang ngày
một củng cố và hoàn thiện hơn. Ví dụ ngành cơ khí chế tạo trong nước đã có thể sản xuất
được một số máy móc trong dây chuyền sản xuất cà phê như máy rang, sấy, mà trước đây,
toàn bộ máy móc để sản xuất, chế biến cà phê đều phải nhập khẩu. Ni-lon dùng để sản
xuất nhãn mác, bao bì, vỏ hộp cũng đã trở thành nguyên phụ liệu quan trọng mà Việt Nam
có thể cung ứng được.
Các doanh nghiệp thu mua cà phê tươi, hoặc sơ chế đã đóng góp chủ yếu vào hoạt
động xuất khẩu cà phê, gần đây, kể từ khi Việt Nam hội nhập và mở cửa, sự xuất hiện
nhiều doanh nghiệp nước ngoài tham gia hoạt động thu mua cà phê đã góp phần nâng cao
tính cạnh tranh trong ngành, tạo động lực để các doanh nghiệp trong nước tận dụng lợi thế
riêng và chủ động hơn. Điều đó được chứng tỏ khi ngày nay, các doanh nghiệp thu mua
đang đua nhau đến tận vườn để thu gom và chuyên chở. Chính điều này tạo điều kiện tốt
cho các doanh nghiệp xuất khẩu vì đáp ứng kịp thời số lượng và chủ động hơn trong giao
dịch hàng hóa.
Nói tóm lại, công nghiệp hỗ trợ nói chung trong xuất nhập khẩu cũng như nói riêng
về ngành hàng cà phê đã phần nào giảm bớt sự yếu kém, bước đầu tạo tiền đề cho sự phát
triển tiếp theo trong thời gian tới.
Ngành liên quan: vận tải, kho bãi lưu trữ, phân phối, cải tiến kỹ thuật…
12
Có thể nói ngành liên quan đến ngành xuất khẩu cà phê là rất nhiều, song chỉ nói ở
đây những ngành tiêu biểu như:
Vận tải là công cụ quan trọng đối với bất kỳ ngành hàng xuất khẩu nào, vì vận tải
tốt, tiết kiệm chi phí sẽ giúp các doanh nghiệp xuất khẩu kịp thời và chủ động trong điều
kiện giao dịch, và hơn nữa là sẽ thu được khoản lợi nhuận cao hơn do chi phí vận tải và
kho bãi tiết kiệm, đảm bảo. Khâu phân phối cũng như cung ứng cho sản xuất sản phẩm
đều phụ thuộc nhiều vào vận tải. Việt Nam là một nước giáp biển, giao thông rộng khắp
và phong phú, nên việc phát triển ngành vận tải đã giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu
cà phê tiết kiệm được khá nhiều chi phí và vốn, tạo cơ hội để các doanh nghiệp cạnh tranh
và giữ uy tín với đối tác. Ở Việt Nam, vận tải bộ đang còn là mỗi lo ngại đối với các
doanh nghiệp do hệ thống giao thông còn nhiều bất cập, tuy nhiên vận tải thủy đã và đang
dần khẳng định vị thế của mình so với các nước khác.
Kho bãi lưu trữ đặt xếp hàng cũng khá quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp xuất
khẩu cà phê. Tự mỗi doanh nghiệp có thể xây dựng kho bãi lưu trữ hoặc thuê, tuy nhiên,
bằng biện pháp hỗ trợ thuế, ngành cà phê đã được ưu đãi nhiều trong vấn đề kho bãi lưu
hàng.
Ngành công nghệ sinh học cũng là một ngành liên quan, vì những giống cà phê
năng suất vẫn luôn được nghiên cứu và phát triển không ngừng nhờ có tiến bộ trong
nghiên cứu sinh học, bên cạnh đó, những yếu tố như phân bón, kỹ thuật nuôi trồng cây cà
phê, kỹ thuật thu hoạch,… cũng được nghiên cứu và phát triển liên tục. Ở nhiều địa
phương trên cả nước, các phòng nghiên cứu và phát triển giống cây trồng nông lâm sản đã
được xây dựng và đi vào hoạt động có hiệu quả từ nhiều năm trước đây. Bằng cách đó,
cách doanh nghiệp sản xuất cà phê sẽ thu được phần lợi nhuận do tiến bộ khoa học kỹ
thuật mang lại, và chính cả những người trồng cà phê cũng thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Dự án sản xuất giống cà phê, ca cao giai đoạn 2011-2015 của Viện Khoa học kỹ
thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên với tổng vốn đầu tư 66,2 tỷ đồng đã được Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt. Theo đó, mỗi năm, các hoạt động từ dự án sẽ
cung cấp 20 tấn hạt lai đa dòng cà phê vối, 3 tấn hạt giống cà phê chè chất lượng cao,
đồng thời cung ứng 2 triệu chồi ghép phục vụ nhu cầu tái canh và trồng mới mỗi năm
13
20.000-22.000 ha cà phê. Đây là yếu tố tích cực góp phần hỗ trợ doanh nghiệp trong nước
xây dựng vùng nguyên liệu cà phê.
Các ngành liên quan đóng vai trò như một kênh trực tiếp tác động đến định hướng
và mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu cà phê. Thông qua các
ngành liên quan mà các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nắm bắt được cơ hội để lựa chọn
sản phẩm ưu thế để sản xuất và có sự tác động trở lại đối với các ngành liên quan.
4. Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh
Mục tiêu, chiến lược và cách thức tổ chức doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, yếu tố nền tảng của khả năng cạnh tranh
quốc gia, chịu sự quyết định của mục tiêu, chiến lược và cách thức tổ chức doanh nghiệp.
Chiến lược doanh nghiệp là hệ thống các đường lối và biện pháp phát triển doanh
nghiệp, các mục tiêu cần đạt, các nguồn lực phải sử dụng để đạt được các mục tiêu, dự
định trong thời hạn của chiến lược. Theo M.Porter, “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài
hoà giữa các hoạt động của một công ty. Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào
việc tiến hành tốt nhiều việc… và kết hợp chúng với nhau… cốt lõi của chiến lược là lựa
chọn cái chưa được làm.”
Sau đây là cái nhìn cụ thể hơn về chiến lược của các doanh nghiệp sản xuất và kinh
doanh cà phê Việt Nam.
Chiến lược đổi mới công nghệ: để nâng cao giá trị cà phê xuất khẩu, các doanh
nghiệp cần cải tiến và đầu tư các thiết bị và công nghệ chế biến tiên tiến. Trước đây, các
doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cà phê chủ yếu sử dụng công nghệ chế biến nửa ướt,
nửa khô hoặc khô hoàn toàn khiến chất lượng cà phê nhân kém hoặc thất thoát nhiều. Từ
năm 2004 trở lại đây, các doanh nghiệp chú trọng hơn đến công nghệ chế biến. Theo báo
Đắk Lắk, tính đến năm 2011, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã có trên 30 doanh nghiệp áp
dụng công nghệ chế biến ướt đối với cà phê, với tổng công suất trên 400000 tấn sản phẩm
cà phê nhân/năm. Đơn cử một ví dụ là công ty cà phê Thắng Lợi đã tiên phong trong việc
đầu tư hàng chục tỷ đồng để đưa công nghệ chế biến ướt vào hoạt động, đồng thời đầu tư
đồng bộ hệ thống sân phơi, nhà kho hoàn chỉnh nên đã góp phần nâng cao chất lượng cà
phê xuất khẩu. Sản phẩm cà phê nhân của Công ty luôn được khách hàng Mitsubishi
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét