LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng NN&PTNT VN ": http://123doc.vn/document/552780-cac-bien-phap-nham-han-che-rui-ro-tin-dung-tai-ngan-hang-nn-ptnt-vn.htm
kinh doanh dẫn đến cản trở đến sự phát triển của nền kinh tế . Do đó, hình thức
tín dụng nặng lãi ngày càng bị thu hẹp lại đồng thời xuất hiện hình thức tín
dụng mới phù hợp hơn t bản cho vay ra đời.Đặc điểm của t bản cho vay là
ngời đi vay sử dụng vốn vay để đầu t vào sản xuất với mục đích tạo ra giá trị
thặng d . Nguồn vốn cho vay không dừng lại ở tiền d thừa của ngời giàu có mà
bao gồm cả khối lợng vốn nhàn rỗi trong toàn xã hội. Trong điều kiện phát
triển mạnh của các hình thái tín dụng cần thiết phải có một cơ quan trung gian
đứng ra làm nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng ra đời đáp ứng yêu cầu đó hình
thành nên tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức
kinh tế và các các nhân. Trong thực tế hoạt động tín dụng rất phong phú và đa
dạng nhng bất kỳ hình thức tín dụng nào cũng có hai giai đạon : ngòi cho vay
chuyển giao vốn cho ngời đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định, và sau
khi đến thời hạn do hai bên thoả thuận ngời đi vay sẽ trả lại cho ngời cho vay
một khoẩn giá trị lớn hơn, phần tăng thêm gọi là tiền lãi.
2.2.Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế quốc dân
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các
doanh nghiệp, không chỉ là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác.Tín dụng thúc đẩy sự ra đời của các thành phần kinh tế theo mục tiêu phát
triển kinh tế của đất nóc.
Tín dụng ngân hàng tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất, lu thông
hàng hoá, ngay cả những hoạt động dịch vụ, phi sản xuất cũng không thể tách
ly sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng .
Với các ngành sản xuất, chế biến, khai thác để đảm bảo sản xuất ổn
định cần thiết phải có vốn để dự trữ nguyên, nhiên vật liệu, thành phẩm,bù đắp
các chi phí sản xuất Đồng thời để không ngừng nâng cao năng suất lao động,
chất lợng sản phẩm,tìm kiếm lợi thế trong cạnh tranh các doanh nghiệp buộc
phải thờng xuyên cải tiến máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ,đặc biệt trong
thời đại khoa học kỹ thuật phát triển nh vũ bão nh hiện nay . Tất cả những công
việc đó sẽ không thể thực hiện đợc nếu nh thiếu sự hỗ trợ của ngân hàng thông
qua hoạt động tín dụng .
Trong lĩnh vực lu thông, để đảm bảo đa đợc hàng hoá từ ngời sản xuất đến
ngòi tiêu dùng, các doanh nghiệp cần có vốn để dự trữ khối lợng hàng hoá cần
thiết, trang trải các chi phí lu thông, thuế Hơn nữa, để mở rộng sản xuất kinh
doanh các doanh nghiệp cần phải dự trữ khối lợng hàng hoá lớn về chủng loại
5
phong phú , nhng thông thờng doanh nghiệp không có nhiều vốn lu động. Vì
vậy, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp cần đến sự hỗ trợ của tín dụng
ngân hàng.
Với các doanh nghiệp dịch vụ nh vận tải, khách sạn , du lịch sẽ hoạt
động ra sao nếu nh có vốn của ngân hàng tham gia vào đầu t xây dựng, trang
thiết bị vật chất, phơng tiện vận tải Khi bớc vào kinh doanh trong lĩnh vực
này đòi hỏi vốn rất lớn nên hầu hết các doanh nghiệp đều cần đến tín dụng
ngân hàng và xem nó nh là một trong những nguồn vốn có thể huy động cho
mục đích kinh doanh của doanh nghiệp .
Nói chung, một trong những nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn lu
động và vốn cố định cho các chủ doanh nghiệp là vốn tín dụng ngân hàng vì
nếu chỉ dựa vào vốn tự có quá ít ỏi, không đủ sức cạnh tranh và phát triển trong
nền kinh tế thị trờng .Tín dụng ngân hàng sẽ là nguồn vốn tài trợ quan trọng
cho các dự án kinh doanh của các doanh nghiệp .
Thứ hai, tín dụng là ngân hàng là đòn bẩy kinh tế để thực hiện tái sản xuất
mở rộng, ứng dụng công nghệ, lỹ tuật tiên tiến hiện đại, nâng cao năng suất và
hiệu quả kinh tế, tạo ra niều sản phẩm hàng hóa tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
Ngân hàng với chức năng tiêu dùng vốn , tập trung nguồn vốn từ trong và ngoài
nớc đã phần nào đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế . Tín dụng ngân hàng
trở thành đòn bẩy quan trọng nhất trong , giúp các nhà sản xuất kinh doanh
thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng và ứng dụng công nghệ để cạnh tranh
thắng lợi trên thị trờng.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các dự án tạo công ăn
việc làm, tăng thu nhập, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo và các chơng
trình, dự án mang tính xã hội khác .
Muốn nâng dần thu nhập bình quân đầu ngời,giải quyết việc làm không
chỉ dựa vào quỹ ngân sách nhà nớc hoặc trông chờ vào các khoản vay nớc
ngoài . Tín dụng ngân hàng thực sự giữ vai trò trong việc đầu t cho các dự án có
ý nghĩa kinh tế xã hội để giải quyết những vấn đề nh vậy .
Thứ t, tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn sản xuất
mở rộng quá trình phân công lao động xã hội và hợp tác kinh tế trong nớc và
quốc tế . Các doanh nghiệp, các công ty làm ăn có hiệu quả và uy tín đợc ngân
hàng tập trung đầu t vốn tạo đà mở rộng quy mô sản xuất và thị trờng tiêu
thụ .Tín dụng ngân hàng sẽ thúc đẩy nhanh chóng quá trình tập trung và tích
luỹ vốn, tạo cho các doanh nghiệp đủ điều kiện hợp tác liên doanh với các tập
đoàn kinh tế nớc ngoài, đa nớc ta hội nhập với nền kinh tế thế giới.
6
Thứ năm, thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, nhà nớc có thể kiểm
soát các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế để đề ra các biện
pháp chính sách quản lý kinh tế và pháp lý phù hợp . Nhà nớc có thể điều chỉnh
cơ cấu kinh tế và hoạt động của các thành phần kinh tế thông qua các chính
sách u đãi vềlãi xuất và các điều kiện cho vay cho các doanh nghiệp đầu t sản
xuất theo mục tiêu định hớng kinh tế của nhà nớc .
Phát huy vai trò của tín dụng ngân hàng để đạt đợc mục tiêu phát triển là
một nhiệm vụ hàng đầy khó khăn và đã là mục tiêu lớn trong hoạt động kinh
doanh của các ngân hàng thơng mại nói chung và của chi nhánh ngân hàng nói
riêng .
II- rủi ro trong tín dụng trong hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng thơng mại.
1. Khái niệm rủi ro.
Nhiều nhà kinh tế học đã định nghĩa rủi ro theo các cách khác nhau .
Frank Knight , một học giả ngời Mỹ đầu thế kỷ 20 định nghĩa rủi ro là sự
bất trắc có thể đo lờng đợc . Alain Willet cho rằng rủi ro là sự bất trắc có thể
liên quan đến biến cố không mong đợi . Còn Irving Perfer lại nói rủi ro là
tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lờng bằng xác suất . Một nhà
kinh tế học ngời Anh là Marilic Hurt Carty quan niệm rủi ro là tình trạng
trong đó các biến cố xảy ra trong tơng lai có thể xác định đợc . Theo ông
kinh nghiệm hoạt động của một doanh nghiệp có thể cung cấp chứng cứ của tần
số các biên cố riêng biệt trong qua skhứ và do đó cho phép các nhà quản trị
doanh nghiệp xác định đợc phân bố xác suất xuất hiện các biến cố trong tơng
lai . Nh vậy, các định nghĩa tuy có khác nhau nhng đều thống nhất ở một nội
dung coi rủi ro là sự bất trắc khoong mong đợi, gây ra thiệt hại và có thể đo l-
ờng đợc .
Chính vì rủi ro gây ra mất mát thiệt hại nên không ai mong đợi. Song rủi
ro là những bất trắc vì thế không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ng-
ời . Tuy nhiên rủi ro lại có thể đo lờng đợc và đây chính là cánh cữa hé mở cho
các nhà kinh doanh đi vào thế giới rủi ro để tìm kiếm vận may . Canh tranh là
đặc tính cố hữu của nền kinh tế thị trờng và cạnh tranh thờng mang lại rủi ro
cho 1 bên nhất định . Vậy muốn thắng lợi trong cạnh tranh, muốn tồn tại và
phát triển, các nhà kinh doanh phải tiên lợng trớc xem cái gì đang chờ đón để
7
có đợc những giải pháp ngăn ngừa, chấp nhận rủi ro ở mức hợp lý chứ không
phỉa run sợ, né tránh rủi ro .
2. Tác hại của rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng thơng mại :
2.1. Đối với bản thân ngân hàng:
Rủi ro xảy ra có ảnh hởng trực tiếp đến kinh doanh của ngân hàng, ảnh h-
ởng đến nguồn thu nhập , lợi nhuận ngân hàng, thậm chí ngân hàng phải lấy
vốn tự có của mình để bù đắp các khoản thiếu hụt do rủi ro gây ra, lúc đó khả
năng thanh toán của ngân hàng kém đi và lòng tin của khách hàng không còn
nữa, ngời gửi tiền muốn rút tiền đề tránh rủi ro cho chính bản thân họ và ngời
vay không muốn vay ở đó nữa, họ chuyển sang ngân hàng khác. Vì vậy, khi rủi
ro ở mức nhỏ, ngân hàng có thể bù đắp bằng lợi nhuận kinh doanh hoặc bị lỗ,
nhng rủi ro ở mức độ nghiêm trọng, nguồn vốn tự có của ngân hàng không đủ
để bù đắp thiệt hại, tất yếu sẽ dẫn ngân hàng đến bờ vục của sự phá sản . Nh
vậy rủi ro có thể làm đảo lộn thành quả hoạt động nhiều năm, thậm chí trở
thành vấn đề sống còn của ngân hàng.
2.2. Đối với nền kinh tế :
Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng với t cách
là trung gian của đời sống kinh tế , nó có quan hệ trực tiếp và thờng xuyên với
các tổ chức kinh tế , vì vậy kinh doanh ngân hàng gặp phải rủi ro tất yếu sẽ gây
ra những ảnh hởng đối với nền kinh tế và đời sống kinh tế xã hội .Rủi ro làm
cho lợi nhuận ngân hàng giảm, từ đó ngân hàng không có khả năng đáp ứng
nhu cầu về vốn cho khách hàng và chi trả chậm đối với ngời cho vay. Vì vậy,
xét trong nền kinh tế, rủi ro làm cho sản xuất bị đình trệ, các doanh nghiệp
phải đóng cửa, hàng hoá không đủ đáp ứng nhu cầu của thị trờng, tới một
chừng mực nào đó làm giá cả hàng háo tăng vọt, đó chính kà một trong những
nguyên nhân của lạm phát. Mặt khác, các ngân hàng thờng lập một hệ thống
chặt chẽ có mối liên hệ với nhau, khi một ngân hàng gặp phải rủi ro có nguy cơ
dẫn đến phá sản dễ dàng kéo theo tình trạng khủng hoảng của cả hệ thống ngân
hàng, gây mất ổn định trên thị trờng tiền tệ. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh
tế phát triển, mọi hoạt động thanh toán giao dịch của khách hàng đều đợc thực
hiện qua ngân hàng, các doanh nghiệp sông chủ yếu nhờ vốn ngân hàng, nên
khi ngân hàng gặp rủi ro lớn có thể gây chậm trễ trong công tác thanh toán của
khách hàng, làm cản trở trực tiếp quá trình chu chuỷen vốn , tất yếu làm giảm
lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp .
8
2.3. Đối với khách hàng :
Nếu rủi ro xảy ra từ phía ngân hàng, khách hàng có thể mất vốn dẫn đến
khó khăn trong sản xuất kinh doanh .
Mặt khác nếu rủi ro xảy ra đối với chính khách hàng, các khoản nợ của họ
sẽ trở thành các khoản nợ khó đòi, gây khó khăn và ảnh hởng đến quan hệ của
họ đối với ngân hàng. Khi đó khách hàng cần vốn họ buộc phải quan hệ với các
ngân hàng khác và phải chịu một khoảng thời gian tìm hiểu gây trì hoãn cho
quá trình sản xuất . Đông thời, nếu rủi ro lớn, chính họ sẽ bị phá sản .
3. Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thơng
mại :
Không một loại hình doanh nghiệp nào mà không phải đối đầu với nguy
cơ rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh . Nhng với các dặc điểm , đặc
thù của ngân hàng thơng mại có thể kết luận hoạt động kinh doanh trong lĩnh
vực tiền tệ tín dụng của ngân hàng gặp phải nguy cơ rủi ro cao hơn cả . Ngời
ta có thể khái quát các loại rủi ro của một ngân hàng thơng mại nh sau :
3.1. Rủi ro tín dụng :
Đó là loại rủi ro khi ngời vay không trả đợc nợ ngân hàng . Đây là loại rủi
ro lớn nhất , thờng xuyên xảy ra và gây thiệt hại nhiều nhất cho ngân hàng th-
ơng mại . Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thơng mại là hoạt động tín dụng
đầu t . Thông thờng đối với các ngân hàng trên thế giới nó mang lại 2/3 phần
thu nhập , còn ở Việt nam là 90 % thu nhập của ngân hàng thơng mại . Tuy
mang lại nhiều thu nhập nhng trong lĩnh vực này nếu gặp rủi ro thì hậu quả lại
rất lớn, nhiều khi dẫn đến một ngân hàng. Các khoản tiền cho vay có xác
suất vỡ nợ cao hơn các tài sản có khác nên ngân hàng thu đợc lợi tức cao nhất
nhờ vào các món cho vay . Bất cứ một rủi ro nào của ngời đi vay đều có thể đa
đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng . Vì vậy quản lý và ngăn ngừa rủi ro tín dụng
là công việc khó khăn và phc tạp không chỉ là riêng trách nhiệm của cán bộ tín
9
Rủi ro tổng hợp
Rủi ro
tín dụng
rủi ro
lãi suất
Rủi ro
nguồn
vốn
Rủi ro
hối đoái
Rủi ro
trong
thanh
toán
Rủi ro
thuần
tuý
Rủi ro mất khả năng thành toán
(rủi ro vơ nợ)
dụng. Muốn phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhất thiết phải
có sự phối hợp giữa các ngành, phải có những giải pháp đồng bộ hữu hiệu cả về
môi trờng kinh tế, cơ chế nghiệp vụ , công tác tổ chức, đào tạo cán bộ và các
nguyên tắc thực thi các giải pháp đó.
3.2.Rủi ro nguồn vốn :
Loại rủi ro thờng xảy ra do thừa hoặc thiếu vốn .
3.2.1. Rủi ro do thừa vốn (rủi ro do bị đọng vốn):
Một trong những khoản mục cầu thành nên những nghiệp vụ của một
ngân hàng thơng mại là nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh doanh , cá nhân
mà ngân hàng có thể nhận đợc . Đây chính là nghiệp vụ huy động vốn và sẽ là
vốn hoạt động chủ yếu của ngân hàng . Vốn tự có chiếm tỷ lệ nhỏ .Nếu vì lý do
nào đó, nguồn vốn bị ứ đọng, không thể cho hoặc không thể chuyển sang các
loại tài sản Có khác để sinh lời thì sẽ dẫn đến tồn đọng số tiền dự trữ quá mức
không sinh lãi mà đến kỳ hạn thì vẫn phải trả lãi cho số vốn huy động, vẫn phải
trang trải chi phí nghiệp vụ và kết quả là sự thua lỗ trong kinh doanh . Nếu
tình trạng này kéo dài mà ngân hàng không khắc phục thì sẽ dẫn đến đóng cửa
ngân hàng .
Nguyên nhân đãn đến thừa vốn là do cơ cấu lãi suất không hợp lý, tình
hình kinh tế xã hội không ổn định, công tác tiếp thị, thu hút ngân khách hàng
kém hiệu quả Vì vậy để khắc phục loại rủi ro này ngân hàng phải tìm kiếm
biện pháp ngăn chặn từ các nguyên nhân trên .
3.2.3. Rủi ro do thiếu vốn:
Rủi ro này xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu t,
thậm chí không đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng. Rủi ro này phát
sinh từ chức năng chuyển hoá các kỳ hạn sử dụng vốn và nguồn vốn của các
ngân hàng thơng mại . Ngoài ra có thể vì lý do nào đó về chính trị, biến động
giá cả, uy tín ngân hàng giảm sút mà hàng loạt khách hàng đồng loạt rút tiền,
vợt quá khả năng quỹ bảo đảm thanh táon khiến co ngân hàng không đủ tiền để
chi trả tại một thời điểm . Trờng hợp này ngân hàng bị thiệt hại do mất tiền lãi
hoặc chi phí cho việc thu lại các món vay cha đến hạn, bán lại các chứng
khoán, vay tái chiết khấu ngân hàng nhà nớc và các ngân hàng thơng mại khác,
hậu quả nặng hơn, có thể vỡ nợ.
3.3. Rủi ro lãi suất:
Lãi suất là chi phí để vay hoặc giá phải trả để thuê vốn trong một thời
gian nào đó. Trong cơ chế thị trờng, lãi suất của ngân hàng thơng mại đợc
10
hình thành trên cơ sở lãi suất thị trờng nên luôn biến động. Hiện tợng này có
thể gây ra tổn thất cho các ngân hàng thơng mại. Chẳng hạn, khi ngân hàng đã
kí một hợp đồng cho vay với một kì hạn lãi suất cố định nhng sau đó lãi suất
thị trờng lại tăng lên hoặc khi ngân hàng đã nhận khoản tiền gửi với lãi suất cố
định song lãi suất thị trờng lại giảm xuống thì ngân hàng đều phải chịu rủi ro
do các chênh lệch biến động lãi suất đó. Ngoài ra sự giảm sút giá trị đồng tiền
trong thời gian cho vay sẽ dẫn đến tình trạng mặc dù lãi suất cho vay không
thay đổi nhng lãi suất thực tế sẽ giảm sút. Giá trị thực tế vốn và lãi ngân hàng
thu về thấp hơn so với vốn ban đầu bỏ ra. Rủi ro càng làm cho kinh doanh ngân
hàng bị thua lỗ.
3.4. Rủi ro hối đoái:
Xuất phát từ định nghĩa tỷ giá hối đoái là giá cả một đồng tiền tính ra
một đồng tiền khác nên tỷ giá cũng là một loại giá cả và cũng luôn biến động.
Rủi ro hối đoái sảy ra khi tỷ giá hôi đoái biến động, ngân hàng nắm giữ
các chứng khoán, các khoản vay mợn ngaọi tệ, hoặc giữ ngoại tệ tiến mặt có
thể gặp rủi ro khi tỷ giá biến động theo hớng bất lợi.
3.5. Rủi ro trong thanh toán:
Rủi ro phát sinh trong quá trình thanh toán có thể do sai sót nghiệp vụ, bị
lợi dụng trong thanh toán điện tử, thanh toán séc hoặc trong trờng hợp ngân
hàng đã thanh toán trớc nhng có thể sẽ không nhận đợc tiền từ bên đối tác.
3.6. Rủi ro thuần tuý:
Đó là loại rủi ro do thiên tai gây ra nh bão lụt, động đất, hoả hoạn, hoặc
các rủi ro do bị trộm cắp, lừa đảo, tệ nạn tham nhũng dẫn đến thiệt hại nặng nề
về tài sản cho ngân hàng. Tuy nhiên bằng các biện pháp bảo hiểm và bảo vệ sẽ
phần nào hạn chế đợc những thiệt hại khi rủi ro này xảy ra.
3.7. Rủi ro do mất khả năng thanh toán (rủi ro vỡ nợ):
Đây là loại rủi ro riêng có và liên quan dến sự sống còn của một ngân
hàng. Rủi ro nay thờng là hậu của một hoặc nhiều rủi ro nói trên. Ngân hàng có
thể mất khả năng thanh toán, thậm chí thâm hụt cả vốn tự có ít ỏi dẫn đến vỡ
nỡ phá sản ngân hàng. Sự phá sản của một ngân hàng có nguy cơ kéo theo sự
phá sản hàng loạt ngân hàng nh hiện tợng ở Mỹ trong nhng năm 30, những năm
80, hoặc sự đổ vỡ hàng loạt quỹ tín dụng ở nớc ta nhẵng năm cuối thập kỉ 80
vừa qua.
11
4. Rủi ro gắn với hoạt động tín dụng của ngân hàng thơng mại:
Nh đã phân tích ở trên, hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận lớn nhất nh-
ng đồng thời mang lại rủi ro nặng nề nhất cho ngân hàng thơng mại.
Tín dụng ngân hàng tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất lu thông hàng
hoá, ngay cả những hoạt động phi sản xuất cũng không thể thiếu sự hỗ trợ của
tín dụng ngân hàng. Chính vì tín dụng ngân hàng tham gia vào mọi doanh
nghiệp, mọi ngành, mọi lĩnh vực của nền kinh tế, mà mỗi ngành mỗi lĩnh vực
kinh doanh lại có tính đặc thù, có sự phức tạp riêng, có những rủi ro riêng nên
rủi ro tín dụng của ngân hàng mang tính tổng hợp và khả năng xuất hiện là lớn
hơn các ngành khác.
Ngân hàng thơng mại không chỉ chịu rủi ro trong việc lựa chọn khách hàng mà
còn chịu rủi ro của khách hàng rủi ro tín dụng xảy ra khi bên vay trong giao
dịch không thực hiện đơc theo thời gian và điều kiện hợp đồng làm ngời cho
vay phải chịu tổn thất tài chính.
4.1. Các hình thức của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở 4 trờng hợp đối với nợ lãi và nợ gốc. Đó là
việc không thu đợc lãi đúng hạn hoặc không thu đủ lãi ,không thu đợc vốn
đúng hạn hoặc không thu đủ vốn. Tuỳ trờng hợp mà ngân hàng hạch toán vào
các khoản mục theo dõi khác nhau nh lãi treo hoặc nợ qúa hạn. Khi không thu
đợc lãi đúng hạn ,nguy cơ rủi ro đang ở mức thấp và chỉ đa vào mục lãi treo
phát sinh. Nếu ngân hàng không thể thu đủ lãi thì sẽ có khoản mục lãi treo
12
Lãi treo
phát sinh
Nợ quá
hạn phát
sinh
1. Lãi treo
đóng băng
2. Miễn
giảm lãi
1. Nợ không
có khả năng
thu hồi
2. Xóa nợ
Không
thu được
lãi đúng
hạn
Không
thu được
vốn đúng
hạn
Không
thu đủ lãi
Không
thu đủ
vốn
(Mất vốn)
Rủi ro tín dụng
đóng băng,trừ những trờng hợp ngân hàng miễn giảm lãi đó cho doanh ngiệp.
Còn khi không thu đợc vốn đúng hạn, ngân hàng sẽ có khoản nợ quá hạn phát
sinh. Tuy nhiên ,khoản này vẫn cha thể coi là khoản mất mát hoàn toàn của
ngân hàng vì có thể vì lý do nào đó doanh nghiệp chậm trả nợ gốc và sẽ trả sau
hạn cam kết trong hợp đồng. Nếu nh khoản này NH không thể thu hồi đợc(do
doanh nghiệp bị phá sản cẳng hạn) thì lúc này ngân hàng coi nh gặp rủi ro tín
dụng ở mức độ cao vì đã phát sinh khoản nợ không có khả năng thu hồi ,trừ
những trờng hợp đặc biệt ,doanh nghiệp vay vốn hội tụ đủ các điều kiện theo
quy định về xoá nợ thì NH có thể xem xét để xoá nợ cho doanh nghiệp.
Rủi ro tín dụng tồn tại dới nhiều hình thức ,các hình thức đó luôn chuyển
biến cho nhau,mà mức độ cuói cùng là nợ không có khả năng thu hồi. Khi
nghiên cứu về rủi ro tín dụng ngời ta thờng chú trọng vào các nguy cơ xảy ra
rủi ro nh lãi treo và đặc biệt là nợ phát sinh ,còn lãi treo đóng băng và nợ quá
hạn không có khả năng thu hồi đợc coi là các tình huống rủi ro thực sự nên th-
ờng đợc xem xét để giải quyết hậu quả và rút ra bài học.
4.2. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
4.2.1. Nguyên nhân từ phía khách hàng
Trong nền kinh tế thị trờng ,hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
thờng xuyên phải đơng đầu với cạnh tranh và chịu sự chi phối rất lớn của quy
luật cung cầu ,giá cả thị trờng nên cũng phải thờng xuyên đối mặt với rủi ro
từ nhiều phía kể cả các rủi ro thuần tuý nh thiên tai,địchhoạ,trộm cắp có khi
do giá cả thay đổi ,khả năng quản lý kém ,sự thay đổi cơ chế chính sách của
nhà nớc dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp làm cho KD gặp khó khăn thua
lỗ,thậm chí phá sản .Đồng thời hoặt động KD của các doanh nghiệp cũng
không thể thoát ly khỏi mối quan hệ với NH.Chính vì vậy rủi ro của NHTM là
cộng hởng rủi ro của các doanh nghiệp .
Nếu đứng trên góc độ t cách đạo đức của ngời đi vay <khách hàng> thì
nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng từ phía khách hàng có thể chia làn hai tr-
ờng hợp lớn .Khách hàng gian lận hoặc khách hàng không gian lận
4.2.1.1. Khách hàng gian lận ,cố ý lừa ngân hàng .
Điều này đợc thể hiện qua việc gian lận về số liệu,giấy tờ ,quyền sở hữu
tài sản .Doanh nghiệp có thể nộp báo cáo tài chính không chính xác,cố ý đa ra
số liệu sai sự thật ,phản ánh không đúng thực trạng SXKD và tình hình tài
chính của đơn vị.Những món cho vay trên cơ sở nnhững thông tin giả nh vậy dễ
đa đến rủi ro cho NH .Bên cạnh đó lợi dụng khe hở về giấy tờ sở hữu tài sản
13
,doanh nghiệp có thể đem thế chấp một tài sản ở nhiều ngân hàng khác
nhau.Khi không thu đợc nợ,các NHTM phát mãi tài sản thì mới biết bị lừa
Ngoài ra, khách hàng có thể gian lận ngân hàng thể hiện qua việc sử
dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tợng kinh doanh, không
đúng phơng án đã nêu nên không trả đợc nợ đúng hạn hoặc không trả đợc nợ.
Doanh nghiệp có thể vay vốn ngắn hạn nhng lại dùng để mua sắm tài sản cố
định và bất động sản. Việc giá nhà đất đột ngột giảm xuống làm doanh nghiệp
kinh doanh nhà đất bị thua lỗ nặng không thể trả đợc nợ ngân hàng. Ngân hàng
có phát mại tài sản thế chấp đi nữa cũng không đủ khoản cho vay vì tài sản thế
chấp cũng là nhà đất nên cũng giảm giá trị.
Việc khách hàng gian lận gây ra rủi ro cho ngân hàng còn thể hiện qua
những hoạt động của ngời đi vay có t cách kém nh cố tình không trả nợ ngân
hàng hoặc lừa đảo ngân hàng rồi bỏ trốn.
4.2.1.2 Khách hàng không gian lận
Không chỉ khi khách hàng có ý không tốt ngân hàng mới gặp rủi ro mà
ngay cả khi khách hàng đi vay có đủ t cách, không có ý gian lận, ngân hàng
vẫn có thể gặp rủi ro tín dụng. Đó là khi khách hàng có trình độ kém, năng lực
quản lý yếu, không có đầu óc kinh doanh nên không thể đa phơng án kinh
doanh của mình đạt hiệu quả, không thể đa doanh nghiệp của mình thắng trong
cạnh tranh nên việc trả nợ ngân hàng là rất khó khăn.
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp bị lừa đảo trong kinh doanh hoặc bạn hàng
của doanh nghiệp gặp rủi ro thì ngân hàng cũng gặp khó khăn trong việc thu nợ
đúng hạn.
Bên cạnh đó, nhiều nguyên nhân rủi ro khách quan nh thiên tai, trộm cắp
có thể gây thiệt hại cho doanh nghiệp và có nguy cơ dẫn đến rủi ro tín dụng cho
ngân hàng.
4.2.2. Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Các khoản cho vay có vấn đề và các thiệt hại cho vay có thể xảy ra do sơ
hở về thủ tục trong nội bộ ngân hàng. Đây đợc gọi là các hoạt động cho vay
không hoàn hảo và nó xuất hiện do các nguyên nhân sau đây:
- Do thông tin tín dụng không đầy đủ. Ngân hàng có một cái nhìn không
toàn diện về bản thân khách hàng cũng nh tình hình tài chính của họ. Điều đó
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét