được giải quyết,sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời,đó là lúc mâu thuẫn
được giải quyết,sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời,đó chính là quá trình
diễn biến rất phức tạp với nhiều hình thức phong phú khác nhau.Do
đó,không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ là sự
hoán đổi vị trí một cách đơn giản, máy móc.Thông thường thì mâu thuẫn
chuyển hoá theo hai phương thức.
+Phương thức thứ nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối
lập kia nhưng ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật.
Thí dụ: LLSX và QHSX trong xã hội phong kiến đấu tranh chuyển
hoá lẫn nhau để hình thành QHSX mới là QHSX TBCN và LLSX mới ở
trình độ cao hơn.
+Phương thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để
hình thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
Thí dụ: Nền kinh tế VN chuyển từ kế hoạch hoá tập trung quan liêu
bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng XHCN
Từ những mâu thuẫn trên ta thấy trong thế giới hiện thực,bất kỳ sự
vật, hiện tượng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những
thuộc tính có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau.Sự đấu tranh
chuyển hoá giữa các mặt đối lập trong những điều kiện cụ thể tạo thành
mâu thuẫn.Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan phổ biến của thế giới. Mâu
thuẫn được giải quyết,sự vật cũ mất đi sự vật mới hình thành. Sự vật mới
lại nảy sinh các mặt đối lập và mâu thuẫn mới. Các mặt đối lập này lại đấu
tranh và phủ định lẫn nhau để tạo thành sự vật mới hơn. Cứ như vậy mà các
sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan luôn luôn phát triển và biến
đổi không ngừng. Vì vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của sự phát
triển.
II. NHẬN BIẾT CÁC MÂU THUẪN
Thực chất của nền kinh tế thị trường ở VN.
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam theo định hướng XHCN là một tất yếu
lịch sử nó nhằm đến những mục tiêu cụ thể và mang tính cách mạng. Nó
5
thay cũ đổi mới hàng loạt những vấn đề về lý luận và thực tiễn,cả về kinh
tế và chính trị xã hội, nó bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh, điều kiện mới.
Như chúng ta đã biết,từ khi CNXH được xây dựng tất cả các nước
XHCN đều thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cơ chế vận hành
và quản lý kinh tế này được duy trì trong một thời gian khá dài và xem như
đặc trưng riêng biệt của CNXH, là cái đối lập với cơ chế thị trường của
CNTB. Sự thực thì không hoàn toàn như vậy nền kinh tế tập trung khômg
phảI là sản phẩm riêng biệt của CNXH, cũng như nền kinh tế thị trường
không phảI là duy nhất được thiết lập trong CNTB.
Nền kinh tế tập trung đã được các nước tư bản áp dụng trước khi
nhiều nước xác lập chế độ CNXH.Nhưng các nước TBCN đã bỏ cơ chế thị
trường sau khi chiến tranh kết thúc và đạt được nhữnh thành tựu rất lớn về
kinh tế, xã hội. Nhưng công bằng mà nói, nền kinh tế thị trường không phải
là cái duy nhất bảo đảm cho sự tăng trưởng và phát triển của xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH thì sự tồn tại của nền kinh tế thị
trường bước phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá là lẽ đương nhiên.
Như vậy, có thể nói nền kinh tế tập trung không phải là thuộc tính đặc thù,
cố hữu của một chế độ xã hội nào. Vấn đề áp dụng nền kinh tế đó vào thời
điểm, hoàn cảnh lịch sử nào thì phù hợp để giành được hiệu quả cao nhất.
Chúng ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, bởi thế sự phát triển nền
kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan. Chỉ mới hơn mười lăm năm
đổi mới vừa qua, với việc chuyển sáng nền kinh tế thị trường Việt Nam đã
làm cho thế giới phải ngỡ ngàng.Từ chỗ còn xa lạ nay chúng ta đã hội nhập
được với các nền kinh tế tiên tiến trên thế giới. Tất cả những thành tựu kinh
tế mà chúng ta đạt được khi chuyển sang nền kinh tế thị trường đã nói lên
công cuộc đổi mới ở nước ta thực sự là một cuộc cách mạng thực sự.
Ở Việt Nam có đặc điểm là bảo vệ vận dụng và phát triẻn sáng tạo chủ
nghiã mác Lênin,tư tưởng Hồ chí Minh là mục tiêu, nhiệm vụ không kém
phần quan trọng làm sáng tỏ thêm ý nghĩa và vai trò cách mạng của công
cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta.
6
Trong công cuộc đổi mới hiện nay Đảng ta một lần nữa khẳng định
những giá trị khoa học bền vững của chủ nghiã Mác Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh đồng thời, tuyên bố lấy chủ nghĩa chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh cho mọi hành động.
* Một số đặc điểm của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam nhìn ở góc
độ triết học:
Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho
thấy mô hình phát kinh tế thế giới theo xu thế – hướng thị trường có sự
điều tiết vĩ mô từ trung tâm, trong bối cảnh của thời hiện đại ngày nay, là
mô hình hợp lý hơn cả.Mô hình này về đại thể đáp ứng được thách thức của
sự phát triển.
Ở nước ta việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là
nội dung của công cuộc đổi mới mà hơn thế nữa,còn là phương thức để
nước ta đi đến CNXH.
Nền kinh tế nước ta hiện nay có thể nói đang ở trong giai đoạn quá độ
chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính bao cấp sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Do vậy,
những đặc điểm của giai đoạn quá độ trong nền kinh tế nước ta, đương
nhiên là một vấn đề có ý nghĩa, rất cần được nghiên cứu, xem xét. Nhận
thức được những đặc điểm phức tạp của giai đoạn quá độ, chi phối được
những những đặc điểm đó, chúng ta sẽ tránh được những sai lầm chủ quan
nóng vội duy ý chí, hoặc những khuynh hướng cực đoan, máy móc sao
chép bán kinh tế thị trường từ bên ngoài vào.
Vậy từ phương diện triết học thì những đặc điểm của kinh tế quá độ
của nước ta là gì ? Như chúng ta đã biết, trong nền kinh tế tập trung, bao
cấp, mọi chức năng kinh tế - xã hội của nền kinh tế đều được triển khai
trong quá trình kế hoạnh hoá ở cấp độ quốc gia. Tính bao cấp của nhà nước
đối với các hoạt động sản xuất, lưu thông phân phối khá nặng nề.Ở nước
ta trước đây, chế độ hoạch toán trên thực tế còn nặng nề về hình thức lợi
ích kinh tế, đặc biệt lợi ích cá nhân người lao động, một động lực trực tiếp
của hoạt động xã hội được quan tâm đúng mức.Vì thế, sự vận động của nền
kinh tế nhìn chung là chậm chạp kém năng động.
7
Kể từ đại hội Đảng lần thứ VI(12/1986) đến nay, theo đường lối đổi
mới đất nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường với định
hướng XHCN.Và điều đó có ý nghĩa là, chúng ta đã đạt được những thành
tựu hết sức quan trọng, những thành tựu cho phép chúng ta điều chỉnh và
bổ xung nhận thức, làm cho quan niệm nhận thức về CNXH ngày càng cụ
thể, đường lối,chủ trương, chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa
học và thực tiễn. Những thành tựu đó, trong một chừng mực nhất định,
cũng gián tiếp khả năng của kinh tế thị trường trong việc năng động hoá
nền kinh tế đất nước.
Kinh tế thị trường, như chúng ta đã biết là một kiểu quan hệ kinh tế xã
hội mà trong đó,sản xuất và tái sản xuất xã hội gắn liền với thị trường, tức
là gắn liền với quan hệ hàng hoá - tiền tệ, với quan hệ cung cầu Trong nền
kinh tế thị trường nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xã hội là
quan hệ hàng hoá. Mọi hoạt đông xã hội đều phải tính đến quan hệ hàng
hoá hay ít nhất cũng phải sử dụng các quan hệ hàng hoá như là mắt xích
trung gian.
Thành tựu của những năm đổi mới vừa qua ở nước ta đã có tác dụng
làm cho chúng quen dần với các quan hệ hàng hoá.Hàm lượng kinh tế trong
hoạt động xã hội ngày càng được chú ý.Bước sang cơ chế thị trường đương
nhiên không tránh khỏi những mặt tiêu cực của nó, nhưng dẫu sao nó cũng
nói lên sức sốngvà khả năng tác động của các quan hệ thị trường. Về thực
chất của bước chuyển này một số cho rằng:“ ở Việt Nam,mặc dù nền kinh
tế thị trường chỉ mới vừa hình thành, còn đang trong bước chập chững ban
đầu và điều tiết một cách có ý thức theo định hướng XHCN, xong cũng đã
tác động đến mọi mặt đời sống xã hội và để lại dấu ấn của mình. Những
quan hệ mà ở đó vừa có màu sắc thị trường lại vừa chưa phải quan hệ thị
trường “. Sự đan xen, chi phối mãnh liệt các nhân tố khác của đời sống xã
hội trong bối cảnh của một xã hội vừa thoát khỏi cơ chế hành chính bao cấp
đã làm cho cơ chế thị trường bị “ khúc xạ “ theo nhiều chiều hướng khác
nhau.
Một trong những nguyên nhân của tình hình nói trên, đúng như ý kiến
vừa chỉ ra, trước hết thuộc về sự đổi mới các quan hệ sở hữu. Nếu như
8
trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiểu sở hữu tương đối thuần nhất
với hai thành phần tập thể và quốc doanh thì hiện nay, cùng với thành phần
sở hữu chủ đạo là sở hữu Nhà nước, còn tồn tại nhiều thành phần sở hữu
khác. Những hình thức sở hữu đó, trong thực tế vận hành nền kinh tế
không hẳn là đồng bộ với nhau, đôi khi chúng có mâu thuẫn với nhau.
Xong trên tổng thể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh tế, có
khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng của nền kinh tế thị trường.
Thực ra, trong quan niệm hiện nay của chúng ta về CNXH đã chứa
đựng những tư tưởng mới về quy luật của sự phù hợp khách quan QHSX
với trình độ phát triển của LLSX, sự tồn tại của các thành phần sở hữu đa
dạng của một nền kinh tế theo định hướng XHCN là hoàn toàn có cơ sở của
nó.Hơn thế nữa, vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, trên thực tế không
chỉ chủ đạo về “GDP”. Theo quan niệm hiện đại về xử lí kinh tế vĩ mô thì
khả năng điều tiết chỉ dạo của kinh tế Nhà nước đối với các thành phần
kinh tế khác được thể hiện trên nhiều mặt: Kinh tế nhà nước có thể là chi
phối các vị trí đặc biệt nhưng kém sinh lời trong nền kinh tế. Cùng với với
việc nắm giữ các nghành thông tin,cơ sở hạ tầng, quốc phòng Kinh tế
nhà nước đảm bảo những tư liệu sản xuất chủ yếu phát triển về toàn xã hội,
phục vụ cho lợi ích của cả cộng đồng.
Vai trò của Nhà nước và kinh tế Nhà nước trong một nền kinh tế theo
định hướng XHCN là điều không phải bàn cãi. Nhà nước, ngoài việc trực
tiếp quyết định những vấn đề của bản thân nền kinh tế còn phải đóng vai
trò là nhân vật trung gian giữa các vấn đề về kinh tế và xã hội. Nhà nước
với các chính sách, luật lệ của mình, còn có khả năng đạt tới một trình độ
tăng trưởng có hiệu quả,nhưng mặt khác nó cũng chính lại là người phải lo
giải quyết các vấn đề do chính nền kinh tế tạo ra.Về đại thể, chìa hoá để
đáp ứng những vấn đề phức tạp và trái ngược của nền kinh tế xã hội nằm
trong sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, Nhà
nước và nền kinh tế Nhà nước có nhiều vấn đề cần phải tháo gỡ để có thể
đảm đương được trọng trách to lớn của mình.Trên thực tế bộ máy vĩ mô
của Nhà nước đối với nền kinh tế còn khá cồng kềnh và kém hiệu quả. Hầu
hết các doanh nghiệp kinh tế Nhà nước đều hoạt động thiếu năng động và
quá ỷ lại vào Nhà nước.Trong một số trường hợp,thậm chí kinh tế Nhà
9
nước còn vô tình bỏ rơi “trận địa” mà mình đã chiếm lĩnh,tạo điều kiện cho
những phần tử tham nhũng tiêu cực.Điều đó có nghĩa đối với việc xác điịnh
đặc điểm của nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.Tiếp tục đổi mới
vào hoạt động có hiệu quả để kinh tế Nhà nước thực sự giữ vai trò chủ
đạo,làm đòn bẩy thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của toàn bộ nền kinh tế.
Trên cơ sở, đó giải quyết ngay các vấn đề xã hộỉ tầm vĩ mô sao cho tăng
trưởng kinh tế không trở nên mâu thuẫn gay gắt với trật tự bình thường của
đời sống xã hội.
Thực ra các vấn đề xã hội của nền kinh tế thị trường, nhất là trong một
nền kinh tế thị trường còn sơ khai trong giai đoạn quá độ,lại có mức tăng
trưởng nhanh là điều rất khó.Vấn đề là ở chỗ, chúng ta buộc phải chấp nhận
mặt trái của kinh tế thị trường đến mức độ nào.Để từng bước nâng cao chất
lượng và hiệu quả của nền sản xã hội, chúng ta đã có những biện pháp,
chính sách nhất định đối với một số lĩnh vực kinh tế xã hội.Chẳng hạn đối
với lĩnh vực GDĐT, lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, bảo vệ môi
trường Tuy nhiên, cũng có nhiều lĩnh vực thuộc về các vấn đề xã hội còn
chưa có đối sách hợp lý.Như vấn đề phân hoá giàu nghèo, các tệ nạn xã
hội,vấn đề xuống cấp về đạo đức Đương nhiên đây không phải là bài toán
có thể giải quyết ngay trong một sớm một chiều được.
Cũng phải thừa nhận rằng, các vấn đề dù ít dù nhiều cũng là các vấn
đề của bản thân cơ chế quản lý.Trong nền kinh tế thị trường hiện nay cơ
chế quản lý đang ở giai đoạn hình thành nên thường là không đồng bộ và
thiếu hụt.Chúng ta chưa thực sự tạo ra môi trường an toàn và ổn định cho
sản xuất và kinh doanh.Cơ sở pháp lý của các hoạt động kinh tế còn quá
nhiều điều bất hợp lý.Dovậy,trong một số vụ án kinh tế cơ chế quản lý đôi
khi vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của kinh tế thị trường.Tính chất không
rõ ràng thiếu xác định cả trên phương diện kinh tế và xã hội.
Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng ta bước đầu sử
dụng thị trường như là một công cụ, một phương thức.Thực tế nó đã đem
lại những kết quả tích cực cả trên phương diện nhận thức và thực tiễn.
Mỗi hành trang có ý ghĩa mà công cuộc đổi mới trang bị cho chúng ta,
sản xuất hàng hoá cùng với nền”kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
10
hành theo cơ chế thị trường” hiện đã được chúng ta hiểu là không đối lập
với CNXH. Với tính cách là sản phẩm của văn minh nhân loại, một ” cơ
hội để các cộng đồng mở cửa, tiếp xúc với bên ngoài”, kinh tế thị trường rõ
ràng là cái khách quan và tất yếu đối với công cuộc xây dựng CNXH ở
nước ta.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta, thị trường
vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của công tác kế hoạch hoá.Việc điều tiết vĩ
mô với thị trường, một mặt làm cho nền kinh tế nước ta thực sự trở thành
một thị trường thống nhất - trong cả nước và thống nhất với thị trường thế
giới, mặt khác có tác dụng làm cho mỗi đơn vị kinh tế phải tự khẳng định
mình khẳng dịnh khả năng và vai trò của mình trên thị trường.
Tuy nhiên, càng nhận ra sức mạnh của kinh tế thị trường chúng ta lại
càng hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời
sống xã hội.Sự tăng trưởng kinh tế đương nhiên là một mục tiêu của phát
triển xã hội,nó có khả năng tạo điều kiện để giải quyết các vấn đề xã
hội.Nhưng tăng trưởng kinh tế không nhất thiết đi liền với tiến bộ xã hội.
Do vậy, quan niệm của Đảng ta: Để thực hiện xây dựng CNXH với mục
tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh, thì kinh tế thị trường
nhất thiết phải có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là một trong những vấn đề cơ bản
của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Đây là vấn đề luôn được đặt ra và được
giải quyết trong suốt quá trình đổi mới. Những thành tựu đạt được trong 10
năm đổi mới vừa qua không thể tách rời việc giải quyết một cách đùng đắn
mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Việc nhận thức về mối quan hệ giữa
kinh tế và chính trị cũng không ngừng phát triển, gắn liền với thực hiện
công cuộc đổi mới. Bài viết này tập trung phân tích sự phát triển nhận thức
về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị cũng không ngừng phát triển, gắn
liền với thực tiễn công cuộc đổi mới. Bài viết này tập trung phân tích sự
phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị cũng không
ngừng phát triển, gắn liền với thực tiễn công cuộc đổi mới.
* Mấy vấn đề lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ
giữa kinh tế và chính trị
11
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ giữa
kinh tế và chính trị “chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế”. Trong
lịch sử và phát triển xã hội loài người không phải bao giờ cũng có vấn đề
chính trị. Xã hội nguyên thuỷ chưa có giai cấp, chưa có vấn đề chính trị. Từ
khi xã hội có giai cấp và Nhà nước xuất hiện thì vấn đề chính trị mới xuất
hiện. Vấn đề chính trị là vấn đề thuộc về quan hệ giai cấp và đấu tranh giai
cấp. Trung tâm của vấn đề chính trị là vấn đề đấu tranh giai cấp, các lực
lượng xã hội nhằm giành, giữ chính quyền Nhà nước và sử dụng chính
quyền đó làm công cụ để xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội phù hợp với lợi
ích của giai cấp cầm quyền. Bản thân vấn đề chính trị ra đời hoàn toàn là
do kinh tế quyết định. Chính trị không phải là mục đích mà chỉ là phương
tiện để thực hiện mục đích kinh tế. Khi phê phán quan niệm của Duyring
cho rằng bạo lực chính trị quyết định kinh tế. F.Engen đã khẳng định: “bạo
lực chỉ là phương tiện, còn lợi ích kinh tế, trái lại, là mục đích” và trong tác
phẩm “ và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”. F.Engen đã chỉ rõ: “để
thoả thuận những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉ được sử dụng
làm một phương tiện đơn thuần.
Quyền lực chính trị là công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ chế độ xã hội.
Sự thống trị về chính trị của một giai cấp nhất định là điều kiện đảm bảo
cho giai cấp đó thực hiện được sự thống trị về kinh tế đấu tranh giai cấp, về
thực chất là đấu tranh vì lợi ích kinh tế, được thực hiện thông qua đấu tranh
chính trị. Theo F.Engen “bất cư cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng đều là
đấu tranh chính trị, xét đến cùng đều xoay quanh vấn đề giải phóng về kinh
tế”. Để nhấn mạnh vai trò của chính trị V.I.Lênin đã khẳng định “chính trị
không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế” khẳng định đó của V.I.Lênin
không có nghĩa là phủ nhận vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị,
mà muốn nhấn mạnh tác động tích cực của chính trị đối với kinh tế. Vấn đề
kinh tế không thể tác rời vấn đề chính trị mà nó được xem xét, giải quyết
theo một lập trường chính trị nhất định. Giai cấp nào cầm quyền thì cũng
hướng kinh tế phát triển theo lập trường chính trị của giai cấp đó nhằm
phục vụ cho mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Và lập trường chính trị
đúng (hay sai) sẽ thúc đẩy (hoặc kìm hãm) sự phát triển của kinh tế.
V.I.Lênin còn khẳng định: “không có một lập trường chính trị đúng thì một
12
giai cấp nhất định nào đó, không thể nào hoàn thành được nhiệm vụ của
mình trong lĩnh vực sản xuất”. Khi thể chế chính trị không phù hợp với yêu
cầu phát triển của kinh tế thì tất yếu kinh tế sẽ mở đường đi. Khi đó, việc
thay đổi thể chế chính trị cho phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế là
điều kiện kiên quyết để thúc đẩy kinh tế phát triển. Như vậy, chúng ta có
thể khẳng định rằng kinh tế và chính trị thống nhất biện chứng với nhau
trên nền tảng quyết định của kinh tế. Đấy là cơ sở phương pháp luận quan
trọng trong việc nhận thức xã hội nói chung, nhận thức công cuộc đổi mới
ở Việt Nam nói riêng.
Sự phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong
công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Có thể nói, từ đại hội đoàn toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986)
của Đảng cộng sản Việt Nam, đất nước ta chuyển sang một giai đoạn mới -
giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới.
Khi bước vào công cuộc đổi mới, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh đổi mới
tư duy, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, coi đó là biểu hiện tiền đề đổi mới
trong thực hiện. Nhấn mạnh như vậy là hết sức cần thiết đối với thực tiễn
nước ta để vượt ra khỏi thói quen tư duy cũ đang trói buộc chúng ta khi đó.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là đổi mới tư duy có thể tách khỏi
đổi mới trong thực tiễn. Bản thân đổi mới tư duy là phản ánh yêu cầu đổi
mới trong thực tiễn và gắn liền với thực tiễn của công cuộc đổi mới. Chính
vì vậy, tổng kết thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta là cơ sở chủ yếu
nhất để không ngừng đổi mới và phát triển tư duy.
Vào những năm đầu của công cuộc đổi mới ở nước ta, khi mà Liên Xô
và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vấp phải những thất bại nặng nề,
khi mà chúng ta giành được thắng lợi bước đầu, ở nước ta đã có quan điểm
cho rằng nguyên nhân thất bại của xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là do các
nước đó đổi mới chính trị trước đổi mới kinh tế sau; còn nguyên nhân
thành công của công cuộc đổi mới ở nước ta là đổi mới kinh tế trước, đổi
mới chính trị sau. Quan điểm này mới xem qua tưởng là chính xác, nhưng
đi vào phân tích sẽ thấy rằng nó không phù hợp với lý luận và thực tiễn.
13
Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lênin mà chúng
ta đã trình bày ở phần trên, mỗi khi chính trị không phù hợp với kinh tế thì
thay đổi về chính trị là điều kiện kiên quyết để thay đổi về kinh tế, thúc đẩy
kinh tế phát triển. Cho nên, không thể quy nguyên nhân thất bại trong đổi
mới ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là đổi mới chính trị
trước, đổi mới kinh tế sau. Nguyên nhân thực sự dẫn đến sụp đổ chủ nghĩa
xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là do mâu thuẫn về kinh tế và chính trị không
được phát hiện và khắc phục sớm đã dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng về
chính trị làm mất vai trò của Đảng cộng sản.
Khẳng định rằng ở nước ta đổi mới kinh tế trước, đổi mới chính trị sau
không phù hợp với thực tiễn. Sự thật là phải có đướng lối đổi mới do Đảng
ta đề ra, trên cơ sở đó, hình thành chính sách mới, luật pháp mới thì mới
có thể đổi mới kinh tế. Bản thân đường lối đổi mới của Đảng cùng với
chính sách luật pháp của Nhà nước đều thuộc về chính trị. Vấn đề là ở
chỗ: lĩnh vực chính trị là lĩnh vực hết sức phức tạp, liên quan tới quyền
thống trị của giai cấp, nó có ý nghĩa quyết định thành bại của công cuộc đổi
mới nên phải tiến hành từng bước và hết sức thận trọng. Đổi mới chính trị
phải trên cơ sở đổi mới kinh tế gắn liền với đổi mới kinh tế và đáp ứng yêu
cầu của đổi mới kinh tế. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng
6 năm 1991) đảng ta đã khẳng định
1. Đổi mới kinh tế - đổi mới chính trị.
Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung
sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân
về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành
thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị đồng thời đổi mới kinh tế, phải
từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính
trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân
dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì chính trị đụng
chạm đến các mối quan hệ đặc biệt phức tạp và nhạy cảm trong xã hội, nên
việc đổi mới trong hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét