Phần I
Lời mở đầu
Trước sự phát triển chóng mặt của công nghệ thông tin và
ngày nay mạng internet đã được ứng dụng phổ biến và rộng
rãi trên toàn cầu. Trong tương lai nó sẽ được phổ cập đến mọi
người dân bởi những tiện ích mà mạng internet mang lại cho
người sử dụng rất nhiều tính năng hữu ích, đặc biệt là những
ứng dụng trên internet rất rễ sử dụng, cước phí sử dụng trên
internet cực rẻ so với cước phí của các dịch vụ có tính năng
tương tự
Để trợ giúp thêm cho một số bạn đọc còn bỡ ngỡ với internet
bước đầu muốn sử dụng được internet thì chúng ta cần phải
làm gì? đồng thời biết thêm một số thông tin về sự hình thành
và phát triển của mạng internet qua các thời kỳ và các tiện ích
mà internet mang lại. Em đã chọn đề tài”Quá trình cài đặt
internet explore” dưới sự hướng dẫn của thày TS: Trương Văn
Tú Phó Trưởng Khoa Tin Học Kinh Tế Trường Đại Học Kinh
Tế Quốc Dân.
1
PhầnII NỘI DUNG ĐỀ ÁN
ChươngI
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
INTERNET
1. lịch sử hình thành của internet.
Xã hội loài người bước vào thế kỷ 21, thời đại khoa học công
nghệ phát triển vô cùng nhanh chóng, đặc biệt là công nghệ
thông tin và công nghệ phần mềm phát triển nhanh cả về khối
lượng và chất lượng.Về internet thì thông tin cực kỳ phong phú
và đa dạng, nó đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Mạng internet ra đời đã phần nào đáp ứng và giải quyết một số
công việc cấp bách như: việc sắp xếp, tìm kiếm,trao đổi khối
lượng thông tin khổng đó một cách khoa học, dễ sử dụng, tiện
lợi, Mạng internet đã được bắt đầu từ:
Cơ quan dự án nghiên cứu tiến bộ ARPA (advanced
research projects agency) trực thuộc bộ quốc phòng mỹ đã bắt
đầu hướng tới công nghệ liên mạng từ những năm 70. Kiến
trúc và giao thức của công nghệ này được định ra vào những
năm 78-79. Vào thời kỳ này ARPA là cơ quan đầu tiên tài trợ
cho việc nghiên cứu mạng chuyển gói và đi tiên phong trong
nhiều ý tưởng mới như: ARPANET.ARPANET sử dụng quy
ước Điểm.Điểm để thuê đường liên kết, đồng thời ARPA cũng
tài trợ cho việc tìm kiếm cách chuyển mạch gói trên mạng lưới
phát thanh và các kênh truyền thông vệ tinh. Năm 1983 uỷ ban
cấu hình và điều khiển internet được thành lập. Sự chuyển tiếp
tới công nghệ internet bắt đầu dần hoàn thiện vào tháng 1-1983
khi bộ quốc phòng mỹ yêu cầu tất cả các máy tính kết nối trên
mạng phải dùng TCP/IP (TCP: transmission control protocol
bộ giao thức internet, IP: internet protocol giao thức điều khiển
truyền tin/giao thức internet). Cùng thời gian này thì cơ quan
truyền thông của bộ quốc phòng mỹ tách ARPANET ra thành
2 phần: một phần cho việc nghiên cứu tiếp, phần còn lại cho
2
truyền thông quốc phòng. Phần để nghiên cứu lấy tên như cũ
ARPANET, phần cho quốc phòng được gọi là mạng quân sự
hay là MILNET.
Để khuyến khích các nhà nghiên cứu ở các trường đại học
chấp nhận và sử dụng các giao thức mới, ARPA đã tiến hành
một số bổ sung, bởi thời kỳ đó phần lớn các khoa máy tính ở
các trường đại học đều chạy một phiên bản của hệ điều hành
UNIX của trường đại học California,Berkeley Software
Distribution ở Hoa Kỳ, nó thường được gọi là Berkeley UNIX
hay BSD UNIX. Bằng việc tài trợ cho Bolt Beranek and
newman Inc (BBN), bổ sung các giao thức TCP/IP của họ và
sử dụng với UNIX đồng thời tài trợ cho Berkeley để thống
nhất các giao thức, ARPA có thể chiếm tới hơn 90% các khoa
máy tính trong các trường đại học. Phần mền giao thức mới đã
có ý nghĩa quan trọng trong thời gian đó và đạt được những kết
quả tốt.
Sự phân phối phần mềm Berkeley trở nên phổ biến vì nó
không chỉ cung cấp các giao thức TCP/IP căn bản mà còn cung
cấp cho người sử dụng các ứng dụng chuẩn TCP/IP. Bên cạnh
các chương trình tiện ích, Berkeley UNIX còn cung cấp sự trừu
tượng ở mức hệ đIều hành được gọi là Socket, nó cho phép các
chương trình ứng dụng các giao thức truyền thông như: trong
cơ cấu của UNIX cho I/O, Socket có các tuỳ chọn cho một số
kiểu của các giao thức mạng.
Thành công của công nghệ TCP/IP và internet trong giới tin
học đã thúc đẩy các nhóm ngành khác chấp nhận nó. Bởi vậy
trong thời điểm đó mạng truyền thông đã trở thành mục tiêu
chính và chủ yếu trong các công trình nghiên cứu khoa học. Tổ
chức khoa học quốc gia Hoa Kỳ đã có vai trò tích cực trong
việc mở rộng TCP/IP và internet. Đầu năm 1985 nó chỉ là
chương trình thiết lập sự truy nhập mạng quanh 6 chung tâm
máy tính, năm 1986 nó đã được mở rộngvà mạng xương sống
diện rộng ra đời gọi là NSFNET (national science foundation ).
Tất cả các mạng do NSF tài trợ đều dùng các giao thức TCP/IP
và nó là một bộ phận của internet toàn cầu.
3
Trong 7 năm đầu, internet đã phát triển tới hàng trăm mạng
thành viên trên khắp nước Mỹ và Châu Âu, đã kết nối khoảng
20,000 máy tính của các trường đại học, chính phủ và các
phòng thí nghiệm. Số lượng máy tính được nối mạng và sử
dụng internet đã phát triển tới con số quá lớn ngoài sức tưởng
tượng. Cuối năm 1987, nó được dự đoán phát triển với tốc độ
15% một tháng. Năm 1994, mạng internet toàn cầu đã có hơn 3
triệu máy tính được nối mạng ở 61 quốc gia.
Việc chấp nhận giao thức TCP/IP đã cho internet phát triển
không bị giới hạn bởi các dự án được chính phủ tài trợ. Và một
số các tập đoàn máy tính lớn chủ chốt cũng như các tập đoàn
kinh tế lớn khác đã kết nối với internet như: công ty dầu lửa,
ngành công nghiệp ô-tô, các hãng điện tử, các hãng viễn
thông Các công ty vừa và nhỏ bắt đầu kết nối vào những
năm 90.
Sự phát triển nhanh chóng đã sinh ra những vấn đề không dự
kiến trước được trong dự kiến ban đầu, và thúc đẩy các nhà
nghiên cứu tìm ra các kỹ thuật để quản lý mạng rộng hơn, tài
nguyên phong phú hơn. Ví dụ như trong thiết kế ban đầu: tên
và địa chỉ của các máy tính trên internet được giữ trong một
file đơn, và có trên các trạm (site) trên internet. Giữa những
năm 80, người ta thấy một trung tâm dữ liệu sẽ không đủ như:
các yêu cầu cập nhập file sẽ nhanh chóng vượt quá khả năng
của mỗi cá nhân, thậm chí nếu tồn tại một trung tâm chuẩn thì
dung lượng của mạng cũng không đủ để cho phép sự phân bổ
thường xuyên trên mỗi trạm hoặc truy nhập trực tuyến của mỗi
trạm.
2. Những cột mốc lịch sử trên chặng đường phát triển
Internet.
Năm: 1962 John Licklider, một nhà khoa học tại viện công
nghệ Messahusetts đưa ra dự án “Galactic Network” gồm
nhiều máy tính được nối với nhau để có thể truy nhập dữ liệu
và các chương trình từ bất cứ đâu.
Năm: 1968 Các mạng chuyền mạch gói ra đời.
4
Năm: 1969 Khai trương mạng ARPAnet sử dụng Netword
Core Protocol với 4 máy chủ.
Năm: 1971 Ray Tomlinson của ARPAnet gửi đi bức thông
điệp đầu tiên bằng e-mail.
Năm: 1977 ARPAnet có 100 máy chủ.
Năm: 1979 Usenet được thành lập.
Năm: 1983 Xuất hiện thuật ngữ Internet và TCP/IP trở thành
giao thức Internet chuẩn.
Năm: 1984Các Domain Name Server (DNS) ra đời,Internet có
1.000 máy chủ.
Năm: 1987 Internet có 10.000 máy chủ.
Năm: 1988 “Sâu Internet” (Internet Worm) gây sự cố cho
6.000 trong tổng số 60.000 máy chủ.
Năm:1989 Internet có 100.000 máy chủ.
Năm: 1990 Tim Berners-Lee phát triển HTML và World
Wide Web, mạng Internet ngưng hoạt động, Internet có hơn
300.000 máy chủ. Archie, cơ chế tìm kiếm Internet đầu tiên
được phát triển tại Đại Học
McGill ở Mỏnteal.
Năm: 1991 Tổ chức khoa học quốc gia Mỹ cho phép các giao
dịch của mạng thương mại được quy định trên Internet giúp
thương mại điện tử khởi sắc.
Năm: 1992 Internet có 1 triệu máy chủ và 50 Web site khắp
thế giới. Truyền thông IP được thực hiện lần đầu tiên. Cụm từ
“ lướt trên Internet ” xuất hiện lần đầu tiên do Jean Armour
Polly sử dụng.
Năm: 1993 Mark Andreesen giới thiệu trình duyệt Internet
mang tên MóaicX cho các hệ thống chính.
Năm: 1994 Internet có hơn 3,2 triệu máy chủ và 3.000 Web
Site, HTML2 được công bố. Pizza Hut bán chiếc bánh pizza
đầu tiên qua mạng Internet.
Năm: 1995 Các giao thức IPv6 được xác định. James Gosling
và các lập trình viên của Sun Microsystems giới thiệu Java,
CompuServer, AOL và các Prodigy đưa ra khả năng truy cập
Internet. Ebay được thành lập, số Web Site trên Internet là
5
25.000, việc đăng ký tên Domain riêng không còn miễn phí
nữa.
Năm: 1996 W3 consortium công bố HTML 3.2, xuất hiện các
hình thức khởi đầu của XML. Internet coa 10 triệu máy chủ.
Dự án Internet2 có tên là Abilene được công bố.
Năm: 1997 Internet có 19,5 triệu máy chủ và 1,2 triệu Web
Site. Bộ tư lệnh tư pháp Mỹ đệ trình vụ kiện Microsoft về tội
vi phạm luật chống độc quyền do công ty này đã dùng
Windows 95 để mở rộng trình duyệt Internet Explorer.
Năm: 1998 AOL mua Netscape qua chuyển nhượng cổ phần
với giá 4,2 tỷ USD. Internet có 36,8 triệu máy chủ và 4,2 triệu
trang Web Site, HTML4 ra đời.
Năm: 1999 Hãng nghiên cứu thị trường Forrester dự đoán
doanh thu bán lẻ trực tuyến sẽ tăng từ 7,8 tỷ USD vào năm
1999 lên 108 tỷ USD vào năm 2003. Virus Melissa xuất hiện
làm ảnh hưởng tới công việc kinh doanh của nhiều doanh
nghiệp trên thế giới và làm mọi người bừng tỉnh trước nguy cơ
virus qua mạng Internet.General Motors quyết tâm thành lập
Site bán hàng trực tuyến, dự báo xu hướng hình thành thị
trường kinh doanh trên Internet giữa các công ty.
Năm: 2000 Các dịch vụ quảng các trên INternet được sủ dụng
rộng rãi trên khắp thế giới. Một số những phát minh mới đã ra
đời như chữ ký điện tử đã được đưa vào sử dụng.
3. Một số uỷ ban, tổ chức, hiệp hội được thành lập.
Trước tình hình mạng internet phát triển ngoài sức tưởng
tượng thì cần phải có một số tổ chức đứng ra làm đầu tầu để
định hướng sự phát triển cho đúng đắn và phù hợp, tránh
trường hợp phát triển tràn lan không theo một khuôn mẫu nào
gây khó khăn cho công tác quản lý, thì khi đó một số uỷ ban,
một số tổ chức, hiệp hội đã hình thành.
a.Uỷ ban kiến trúc internet.
Do bộ giao thức TCP/IP được sinh ra không phải từ một nhà
sản xuất hay một tổ chức nào. do đó đã nảy sinh ra rất nhiều
những băn khoăn trong giới tin học, và hàng loạt những câu
hỏi được đặt ra như: “Ai là người định hướng phát triển kỹ
6
thuật và quyết định tiêu chuẩn cho các giao thức” Trước tình
hình đó thì tổ chức IAB ( Internet Architecture Board ) ra đời.
Tổ chức này đã tập trung nghiên cứu, phát triển các giao thức
TCP/IP cơ bản, hướng dẫn và chỉ đạo đường nối phát triển của
internet, quy định các giao thức nào sẽ trở thành một phần của
bộ giao thức TCP/IP và một số nguyên tác có tính công khai.
Vào giữa năm 1989, công nghệ TCP/IP và internet đều phát
triển vượt quá những dự án nghiên cứu ban đầu và trở thành
phương tiện hữu dụng giúp hành ngàn người sử dụng có thể
giải quyết những công việc hàng ngày của họ. Khi đó tổ chức
IAB đã làm một số các công việc sau:
Tổ chức IAB được chia thành hai bộ phận chính.
Nhóm 1: có nhiệm vụ nghiên cứu kỹ thuật internet IETF
(Internet Engineering Task Force). IETF được chia thành 12
vùng và mỗi vùng đều có các giám đốc riêng. chủ tịch IETF và
các giám đốc vùng hợp lại thành nhóm Định hướng kỹ thuật
internet gọi là IESG (Internet Engineering Steering Group), các
cá nhân có trách nhiệm phối hợp với các nhóm làm việc của
IETF.
Nhóm 2: có nhiệm vụ nghiên cứu internet IRTF ( Internet
Research Task Force ). IRTF là một bản sao của IETF.IRTF
phối hợp các hoạt động nghiên cứu liên quan tới các giao thức
TCP/IP hoặc kiến trúc liên mạng tổng thể. Cũng như IETF thì
IRTF cũng có một nhỏ là IRSG ( Internet Research Steering
Group ). IRSG sắp xếp sự ưu tiên và phối hợp các hoạt động
nghiên cứu. Khác với IETF, IRTF chỉ là một tổ chức nhỏ và ít
hoạt động. Mỗi thành viên IRSG làm chủ tịch nhóm nghiên
cứu internet. Các nhóm làm việc IRTF không chia vùng.
b.Hiệp hội Internet.
Hiệp hội ỉnternet là một tổ chức quốc tế có tên gọi là The
Internet Society được Hội Địa lý quốc gia Hoa Kỳ thành lập
năm 1992. Hiệp hội này được hình thành để khuyến khích mọi
người tham gia internet, giúp đỡ mọi người tham gia và sử
dụng internet trên khắp thế giới.
7
c.Các giao thức và tiêu chuẩn hoá Internet.
Như chúng ta đã biết các mạng truyền dữ liệu có nhiều chuẩn
giao thức truyền thông cùng tồn tại . phần nhiều trong số các
giao thức đó đã có trước Internet, vì vậy trong số rất nhiều
người quan tâm đến Internet đã có một số câu hỏi đặt ra như: “
Tại sao các nhà thieets kế Internet lại sáng tạo ra nhiều giao
thức mới trong khi có nhiều tiêu chuẩn quốc tế cùng tồn tại
như vậy ? ” câu hỏi rất khó trả lời, nhưng có thể lý giải nó sở
qua như: “ dùng các giao thức đang có như tiêu chuẩn, chỉ sáng
tạo các chuẩn mới khi các chuẩn đang tồn tại không đáp ứng
đủ, và chuẩn bị được thay bằng chuẩn mới khi chúng đã sẵn có
và cung cấp chức năng tương đương”. Dẫu cho có nhiều sự
xuất hiện trái ngược, bộ giao thức Internet TCP/IP sẽ không bỏ
qua hay tránh các chuẩn hiện có, vì nó diễn ra một cách đơn lẻ
không có một chuẩn nào đang tồn tại nào có thể thoả mãn cho
hệ thôngs truyền thông liên hợp liên mạng cả.
8
CHƯƠNGII:
CÁCH THỨC CÀI ĐẶT INTERNET EXPLORER
I. MỘT SỐ ĐIỀU CẦN BIẾT KHI LÀM QUEN VỚI INTERNET
EXPLORER.
Bắt đầu từ phiên bản Win 95 OSR2, trình duyệt IE
(Microsoft Internet explorer) được tích hợp vào Win95 như
một thành phần thiết yếu của hệ môi trường này. Trong
Windows 98 thì IE đã được tích hợp trong đó rồi.
- Để cài đặt trình duyệt Internet explorer bạn cần có máy tính
được cài đặt chương trình Windows 95, 97 hoặc Windows
98
- Cấu hình máy tính tối thiểu phải là 486-DX, 8 MB, trên 200
MB đĩa cứng.
II. CÔNG VIỆC CÀI ĐẶT.
- Sử dụng bộ đĩa nguồn của Windows 98 hoặc đĩa CD chứa
chương trình nguồn IE 4.0.
Sau đó:
Bước1: Chọn lệnh Run trên Start menu
Bước2: Chọn SETUP.EXE từ bộ đĩa nguồn của IE 4.0. Hệ
chương trình tự động tìm đúng vị trí để khởi động. Bạn đã
hoàn thành công việc cài đặt.
III.Một số thao tác với IE 4.0.
1. Nhập địa chỉ
cách 1: Gõ URL vào trong address box nằm dưới thanh công
cụ rồi ấn Enter
cách 2: Chọn mục File từ menu
Chọn tiếp mục Open. Hộp hội thoại xuất hiện, gõ
URL vào Open box rồi ấn Enter.
Cách 3: Chọn Run từ menu Start của Windows
Gõ URL vào Run rồi ấn Enter.
2. Đến với trang Web mới.
Trong trang Web thường có nhiều siêu văn bản, đó là các nơi
có các mối liên kết, trỏ tới địa chỉ của các trang Web khác, ta
9
dễ dàng nhận ra vì chúng có mầu sắc, định dạng nổi bật hơn
các dòng văn bản khác.
Bạn muốn đọc những thông tin trên các siêu văn bản thì bạn
chỉ cần:
- Đưa chuột đến đó, khi đó con trỏ chuột chuyển thành hình
ngón tay.
- Nháy trỏ chuột trái hoặc phải rồi chọn từ menu mục Open
3. Về trang trước-Đến trang sau.
a. Trở về trang trước:
Cách1: Nháy trỏ chuột vào nút Back trên thanh công cụ
(Toolbar )
Cách 2: Nhấn tổ hợp phím ALT-<mũi tê trái>
Cách 3: Chọn từ menu : Go/Back.
b. Đi đến trang sau:
cách 1: Nháy trỏ chuột vào nút Forward trên thanh công cụ
cách 2: Nhấn tổ hợp phím ALT-<mũi tên phải>
cách 3: Chọn từ menu : Go/ Forward.
4. Tạm ngừng quá trình truyền tải
a. Trường hợp 1: Trong lúc IE đang thực hiện truyền tải thông
tin như: đang tải xuống( download ), tải lên ( upload ), tìm
kiếm, nhận một trang Web, một hình ảnh, đoạn phim hay đoạn
nhạc thì bạn có thể ngắt ngang nó bằng cách:
Cách 1: Nháy trỏ chuột vào nút Stop trên thanh công cụ
Cách 2: Nhấn phím ESC
Cách 3: Chọn từ menu View/Stop.
b.Trường hợp 2: Trang Web vừa nhận dở dang do bạn ngắt
ngang vẫn hiển thị và cho phép bạn sử dụng thông tin đó. Bây
giờ, nếu muốn tiếp tục nhận phần còn lại của trang Web thì
bạn chỉ cần:
cách 1: Nháy trỏ chuột vào nút Refresh trên thanh công cụ
cách 2: Nháy trỏ chuột phải vào trang Web rồi chọn Refresh
từ menu
cách 3: Nhấn phím F5
cách 4: Chọn từ menu: View/ Refresh.
10
5. Trở về trang chủ( Home/Start page ).
Để trở về trang chủ thông thường thì đó là trang đầu tiên của
một Web site, bạn có thể:
- Nháy trỏ chuột vào nút Home trên thanh công cụ
- Chọn từ menu: Go/Start page.
6. Làm tươi trang Web( Refresh).
Để làm tươi trang Web ( nạp lại trang này ), bạn có thể:
-Nháy trỏ chuột vào Refresh trên thanh công cụ
-Nháy trỏ chuột phải vào trang Web rồi chọn mục Refresh từ
menu.
-Nhấn phím F5
-Chọn từ menu: View/Refresh.
7. Sử dụng Favorites.
• Vì WWW có rất nhiều trang Web, do đó các bạn có thể
chọn hoặc tìm được những trang mà mình thích nhất. Để
ghi nhớ nhanh trang này, bạn dùng Favorites. Để tạo một
Favorites cho trang Web hiện hành thì bạn có thể làm các
cách sau:
Cách 1: Nháy chuột vào nút Favorites trên thanh công cụ rồi
chọn mục Add to Favorites
Cách 2: Nháy trỏ chuột phải vào trang Web rồi chọn mục Add
to Favorites từ menu.
Cách 3: Chọn từ menu: Favorites/Add to Favorites
Cách 4: Đặt tên cho Favorites này rồi nhấn Enter
• Để tạo Favorites cho trang Web được chỉ đến bởi một siêu
văn bản, bạn hãy nháy trỏ chuột phải vào siêu văn bản này
rồi chọn từ menu mục Add to Favorites
• Khi muốn đến một Favorites nào, bạn chỉ cần nháy trỏ
chuột vào nút Favorites trên thanh công cụ rồi nháy trỏ
chuột chọn từ danh sách Favorites cần đến.
• Tổ chức Favorites ( Organize Favorites ).
11
Nếu có quá nhiều Favorites đặt trong thư mục sẽ làm bạn khó
tìm hoặc rất khó chịu, do vậy mà bạn cần phải tổ chức lại
Favorites. Bạn có thể làm bằng cách sau:
- Nháy trỏ chuột vào nút Favorites trên thanh công cụ, chọn
tiếp mục Organize Favorites hoặc từ menu ta chọn:
Favorites/Organize Favorites.
- Khi đó hộp hội thoại xuất hiện cho phép bạn: tạo thư mục
(Folder ) mới để chứa các Favorites, dời các Favorites vào
các Folder mới tạo lúc này bạn có thể kiểm soát được dễ
dàng hơn, bạn có thể xoá bớt các Favorites mà bạn không sử
dụng đến hoặc có thể đổi tên các Favorites.
8. Sử dụng Hitory.
Đó là danh sách các trang Web mà bạn đã từng sử dụng “ghé
thăm”. bạn có thể
- Chọn menu Go rồi chọn tiếp tên trang Web mà bạn muốn
đến, sau mỗi lần làm việc của IE, danh sách này sẽ bị xoá.
- Chọn từ menu: Go/Open History Folder, nháy kép trỏ chuột
vào trang Web cần đến trong danh sách. Nó sẽ cho phép bạn
đến một trang Web mà bạn từng “ghé thăm” ở lần làm việc
trước đó.
9. Làm việc với các Shortcut.
• Bạn có thể tạo Shortcut cho URL và đặt chúng vào một
Folder hoặc trên màn hình nền (desktop) của Windows để
tiện truy xuất. Để tạo một Shortcut bạn có thể làm bằng
cách:
- Nháy trỏ chuột phải vào desktop, chọn từ menu mục New,
chọn tiếp mục Shortcut. Gõ URL vào hộp Command Line
rồi chọn Next để dặt tên cho Shortcut này. cuối cùng nhấn
Finish để hoàn tất.
- Dùng các thao tác kéo thả hoặc cắt dán để tạo Shortcut từ
Favorites hoặc History.
- Tạo Shortcut cho trang Web hiện hành: nháy trỏ chuột phải
vào trang Web rồi chọn từ menu mục Create Shortcut.
12
- Tạo Shortcut cho trang Web được chỉ đến bởi một siêu văn
bản: nháy trỏ chuột phải vào siêu văn bản rồi chọn mục
Copy Shortcut từ menu. Shortcut sẽ được đặt vào Clipboard.
* Để mở trang Web từ một Shortcut bạn cá thể làm:
- Nháy kép trỏ chuột hoặc kéo rẽ và thả “ The Internet”
Shortcut trên màn hình nền hoặc kéo rẽ và thả vào cửa sổ IE
đang mở
- Chọn từ danh sách Favorites của IE nếu Shortcut này nằm
trong thư mục Favorites.
10. Gửi E-Mail từ một trang Web trong IE.
* Kết hợp với Microsoft Exchange, IE có thể giúp chúng ta gửi
E-Mail dễ dàng. Thế nhưng, có một điểm bất lợi như: MS-
Exchange là một chương trình lớn, nên thời gian nạp ứng dụng
này khá lâu. Nhưng ngược lại MS-Exchange là chương trình
cung cấp những tính năng về E-Mail vượt trội so với những
công cụ E-mail tích hợp trong một số trình duyệt khác. Do đó,
nếu chúng ta thường dùng IE để gửi E-Mail thì nên khởi động
MS-Exchange trước.
• Để gởi một E-Mail, bạn có thể: Nháy trỏ chuột vào nút
Mail trên thanh công cụ, rồi chọn mục New Message, khi
đó của sổ New Message mở ra cho bạn làm việc.
• Địa chỉ e-mail thường xuất hiện dưới một siêu văn bản
trong trang Web, giúp bạn dễ dàng liên lạc và góp ý kiến
với người chủ trang Web, bạn có thể: Nháy kép chuột trái
vào đó, cửa sổ New Message mở ra với địa chỉ e-mail được
điền sẵn , bạn đã có thể làm việc với e-mail và gửi đi bằng
cách nháy trỏ chuột trái vào nút Send trên thanh công cụ.
Sau đó, bạn muốn trở lại IE bằng cách nháy trỏ chuột trái
vào biểu tượng của ứng dụng IE trên thanh tác vụ ( Taskbar
);
• Khi một địa chỉ e-mail xuất hiện trong trang Web nhưng
không phải là một siêu văn bản thì bạn phải:
+ Gõ vào Address box của IE giao thức mailto:
13
+ Chép và dán địa chỉ e-mail từ trang Web vào phần tiếp
theo của URL này rồi ấn Enter, khi đó bạn sẽ thấy cửa sổ New
Message xuất hiện và đã được điền sẵn địa chỉ e-mail.
Chương III
THỰC TRẠNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VIỆT NAM
1. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin ở việt nam.
Trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20 việt nam
còn rất bỡ ngỡ với thuật ngữ “công nghệ thông tin”nói trung và
internet nói riêng, thậm trí trong số đó còn có rất nhiều sinh
viên trong các trường đại học, người chủ tương lai của đất
nước. Bởi vì khi công nghệ thông tin mới ra đời thì người sử
dụng còn chưa thực sự tin vào những ứng dụng to lớn của nó,
đó cũng thật dễ hiểu bởi vì nó chưa có một cơ sở nào đáng tin
cậy để mọi người hiểu và đưa nó vào thực tiễn để áp dụng,
chưa có một cơ sở pháp lý để đảm bảo đưa công nghệ thông tin
vào áp dụng trong thực tế đồng thời bảo vệ cho nó phát triển,
chưa có một kết quả nào để thuyết phục người sử dụng trong
việc áp dụng những thành quả của công nghệ thông tin. Nhưng
thời gian đã chứng minh cho những thành quả to lớn đó từ phía
người sử dụng như: internet đã giúp mọi người gần nhau hơn
khi sử dụng một số các tiện ích , phần mềm FAST đã giúp cho
các nhân viên kế toán dẽ dàng trong việc lập ra các báo cáo về
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là khi mạng
internet ra đời thì các thành quả mang lại từ những ứng dụng
đó càng có tính thuyết phục người sử dụngvà dần dần thuyết
phục được lòng tin của người sử dụng vào công nghệ thông tin
như: thư tín đã giảm bớt thời gian cần thiết để hai người từ rất
xa có thể liên lạc với nhau thông qua các bức thông điệp, các
bức ảnh, các trang Web quảng cáo về hàng hoá và dịch vụ
được truyền trên mạng internet để mọi người có thể nắm bắt
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét