Đề án môn học Lớp Kiểm toán 42A – Khoa Kế
toán
Ở một số nước, mục tiêu, phạm vi kiểm toán và nghĩa vụ của kiểm toán viên
đã được luật pháp quy định. Tuy nhiên kiểm toán viên vẫn có thể gửi thư hẹn kiểm
toán cho khách hàng của mình.
Nguyên tắc kiểm toán thứ 2 được IAPC phê chuẩn tháng 3 – 1980 và ban
hành tháng 6 –1980 đã nêu nội dung thư hẹn kiểm toán, “Hình thức và nội dung
thư hẹn kiểm toán có thể thay đổi đối với mỗi khách hàng”, nhưng bao gồm những
nội dung chính sau:
Mục đích của kiểm toán các thông tin tài chính.
Trách nhiệm của các nhà quản lý đối với thông tin tài chính.
Phạm vi kiểm toán (bao gồm cả luật pháp, quy định hoặc là
quy chế của các tổ chức chuyên ngành có thể áp dụng mà
kiểm toán viên có thể đính kèm).
Hình thức của mỗi loại báo cáo hoặc là sự truyền đạt các kết
quả khác của thư hẹn kiểm toán khi có những khả năng này
xảy ra.
Nhắc lại các thoả thuận giữa kiểm toán viên và khách hàng.
Đối với kiểm toán định kỳ, kiểm toán viên có thể không phải gửi thư hẹn
kiểm toán hàng năm, trừ các trường hợp sau:
Khi khách hàng có biểu hiện hiểu lầm về mục
đích và phạm vi kiểm toán.
Một hoặc một số khoản mục của thư hẹn kiểm
toán cũ phải thay đổi bổ sung.
Có những thay đổi mới đây về quản lý.
Có những thay đổi đáng kể về kinh doanh của
khách hàng.
Có những yêu cầu mới phát sinh.
Nếu kiểm toán viên nhận thấy không cấn gửi thư hẹn kiểm toán mới cho
khách hàng, thì có thể giữ nguyên nội dung thư hẹn kiểm toán cũ.
Khi kiểm toán viên của công ty mẹ (công ty chính) đồng thời cũng là kiểm toán
viên của công ty con (các chi nhánh) đơn vị phụ thuộc thì phải cân nhắc các yếu tố
sau đây trong việc quyết định có gửi thư hẹn riêng cho từng đơn vị hay không?
Ai chỉ định kiểm toán viên cho đơn vị hợp thành?
Sinh viên thực hiện: Đỗ Quốc Tuyển.
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 42A – Khoa Kế
toán
Có lập báo cáo kiểm toán theo từng đơn vị hợp thành hay
không?
Những yêu cầu về pháp lý.
Phạm vi công việc các kiểm toán viên khác đã làm.
Mức độ chi phối của công ty mẹ.
Mẫu thư hẹn kiểm toán có thể thay đổi phù hợp với từng trường hợp kiểm
toán cụ thể (xem phụ lục số 01). Thư hẹn kiểm toán có thể thay thế bằng hình thức
công văn chấp nhận kiểm toán với nội dung tương tự.
Cùng với việc gửi thư hẹn kiểm toán công ty kiểm toán cử kiểm toán viên để
làm kiểm toán. Tuy theo sự hiểu biết sơ bộ về doanh nghiệp và nội dung, yêu cầu
kiểm toán đã thoả thuận để có thể cử một hoặc một số kiểm toán viên chịu trách
nhiệm kiểm toán, trong đó phải có một người được giao trách nhiệm kiểm toán
viên chính. Việc cử kiểm toán viên cần chú ý:
Nhóm kiểm toán có những người có khả năng giám
sát một cách thích đáng các nhân viên mới và chưa
có nhiều kinh nghiệm, và điều này cũng được
chuẩn mực đầu tiên trong nhóm các chuẩn mực về
công việc kiểm toán tại chỗ trong GAAS quy định.
Kiểm toán viên phải có trình độ năng lực, chuyên
môn đủ khả năng thực hiện công việc và đủ tín
nhiệm với khách hàng, có thể cử kiểm toán viên
được khách hàng mời trực tiếp nếu được. Cần chú
ý lựa chọn những kiểm toán viên có kiến thức và
kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanh của khách
hàng.
Các công ty kiểm toán cần tránh thay đổi kiểm toán
viên trong các cuộc kiểm toán cho một khách hàng
trong nhiều năm.
Kiểm toán viên được chỉ định phải thoả mãn các
nguyên tắc về trách nhiệm pháp lý, đạo đức nghề
nghiệp, kiểm toán viên phải đảm bảo tính độc lập
về kinh tế, quan hệ. (kiểm toán viên phải tuân thủ
chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200: “Mục tiêu
Sinh viên thực hiện: Đỗ Quốc Tuyển.
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 42A – Khoa Kế
toán
và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo
tài chính” và các chuẩn mực kiểm toán quốc tế).
Sau khi đã cử kiểm toán viên, công ty kiểm toán và kiểm toán viên chính
cùng đại diện khách hàng phải ký kết hợp đồng kiểm toán.
2.1.4. Hợp đồng kiểm toán.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 210, hợp đồng kiểm toán: là sự thoả
thuận bằng văn bản giữa các bên tham gia ký kết (công ty kiểm toán, khách hàng)
về các điều khoản và điều kiện thực hiện kiểm toán của khách hàng và công ty
kiểm toán, trong đó xác định mục tiêu, phạm vi kiểm toán, quyền và trách nhiệm
của các bên, hình thức cáo kiểm toán, thời gian thực hiện và các điều khoản về phí,
về xử lý khi có tranh chấp hợp đồng.
Hợp đồng kiểm toán phải được lập và ký chính thức trước khi tiến hành công
việc kiểm toán nhằm bảo vệ lợi ích của khách hàng và công ty kiểm toán. Công ty
kiểm toán và khách hàng khi ký kết hợp đồng kiểm toán, hợp đồng dịch vụ hoặc ký
văn bản cam kết khác thay cho hợp đồng phải tuân thủ các quy định của pháp luật
hiện hành về hợp đồng kinh tế. Hợp đồng kiểm toán phải có đầy đủ các điều khoản
chung của hợp đồng kinh tế theo quy định hiện hành, có thể thay đổi phù hợp với
sự thoả thuận của các bên. Ngoài những yếu tố cơ bản của hợp đồng kinh tế nói
chung, hợp đồng kiểm toán còn có những điều khoản mang tính đặc thù của nghề
kiểm toán như:
Mục đích, phạm vi và nội dung kiểm toán hoặc dịch khác;
Trách nhiệm của Giam đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được
kiểm toán trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính;
Trách nhiệm của khách hàng trong việc cung cấp chứng từ, tài
liệu kế toán và những thông tin khác liên quan đến công việc
kiểm toán;
Phạm vi kiểm toán phải phù hợp và tuân thủ pháp luật và các
chính sách, chế độ hiện hành;
Hình thức báo cáo kiểm toán hoặc hình thức khác thể hiện kết
quả kiểm toán;
Có điều khoản nói rõ là trên thực tế có những rủi ro khó tránh
khỏi do bản chất và những hạn chế vốn có của kiểm toán cũng
Sinh viên thực hiện: Đỗ Quốc Tuyển.
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 42A – Khoa Kế
toán
như của hệ thống kiểm soát, do ngoài khả năng của kiểm toán
viên trong việc phát hiện ra những sai sót.
Ngoài ra, công ty kiểm toán có thể bổ sung thêm các nội dung sau vào hợp
đồng kiểm toán:
Những điều khoản liên quan đến lập kế hoạch kiểm toán;
Trách nhiệm của khách trong việc cung cấp bằng văn bản sự đảm
bảo về những thông tin đã cung cấp liên quan đến kiểm toán;
Mô tả hình thức các loại thư, báo cáo khác mà công ty kiểm toán
có thể gửi cho khách hàng (như thư quản lý, bản giải trình của
Giám đốc, thư xác nhận của người thứ 3 )
Cơ sở tính phí kiểm toán, loại tiền dùng để thanh toán, tỷ giá (nếu
có).
Trong một số trường hợp cần thiết, các bên tham gia hợp đồng có thể thoả
thuận để bổ sung vào hợp đồng kiểm toán một số nội dung sau:
Các điều khoản liên quan đến việc tham gia của kiểm toán viên
và các chuyên gia khác vào một số công việc trong quá trình kiểm
toán;
Các điều khoản liên quan đến việc tham gia của các kiểm toán
viên nội bộ và nhân viên khác của khách hàng;
Đối với trường hợp kiểm toán lần đầu, những thủ tục cần thực
hiện với kiểm toán viên và công ty kiểm toán đã kiểm toán năm
trước (nếu có)
Giới hạn trách nhiệm tài chính của công ty kiểm toán và kiểm
toán viên khi xảy ra rủi ro kiểm toán;
Truờng hợp hai hoặc nhiều công ty kiểm toán cùng thực hiện chung một cuộc
kiểm toán thì hợp đồng kiểm toán phải ghi đầy đủ các thông tin liên quan đến các
bên và phải có đủ chữ ký của người có thẩm quyền và đóng dấu các bên tham gia
hợp đồng. Công ty kiểm toán và khách hàng được phép ký hợp đồng kiểm cho
nhiều năm tài chính. Trường hợp hợp đồng kiểm toán đã được ký cho nhiều năm,
trong mỗi năm công ty kiểm toán và khách hàng phải cân nhắc xem nếu có những
điểm cần phải thay đổi, bổ sung thì phải thoả thuận bằng văn bản về những điều
khoản và điều kiện thay đổi của hợp đồng cho năm kiểm toán hiện hành. Văn bản
này được coi là phụ lục của hợp đồng kiểm toán đã ký trước đó. Hợp đồng kiểm
Sinh viên thực hiện: Đỗ Quốc Tuyển.
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 42A – Khoa Kế
toán
toán được lập lại cho năm kiểm toán hiện hành khi phát sinh những thay đổi mục
đích, phạm vi kiểm toán, có sự thay đổi một số điều khoản quan trọng của hợp
đồng, khi khách hàng có sự thay đổi lớn về tổ chức, hoạt động kinh doanh và yêu
cầu pháp lý.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán theo hợp đồng, trường hợp khách hàng
có yêu cầu sửa đổi một số điều khoản của hợp đồng làm cho mức độ đảm bảo của
kiểm toán giảm đi thì công ty kiểm toán phải xem xét có chấp nhận yêu cầu này
của khách hàng hay không?
Khi khách hàng yêu cầu công ty kiểm toán sửa đổi hợp đồng kiểm toán vì các
lý do như có sự hiểu nhầm về tính chất của kiểm toán hay dịch vụ liên quan khác
đã nêu trong hợp đồng ban đầu, hoặc yêu cầu giới hạn phạm vi kiểm toán , thì
công ty kiểm toán phải xem xét kỹ lưỡng lý do của những yêu cầu này, đặc biệt là
những hậu quả do giới hạn phạm vi kiểm toán. Lý do sửa đổi hợp đồng được coi là
hợp lý nếu có những biến động lớn trong kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến nhu
cầu của khách hàng hoặc có những hiểu lầm về tính chất của dịch vụ. Ngược lại,
nếu những biến động này dựa trên những thông tin không chính xác, không đầy đủ
hoặc không hợp lý thì các lý do khách hàng yêu cầu sửa đổi hợp đồng là không
được chấp nhận. Trước khi chấp nhận sửa đổi hợp đồng kiểm toán, ngoài những
vấn đề nêu trên, công ty kiểm toán phải tính đến những hậu quả của sự sửa đổi hợp
đồng về mặt pháp lý hoặc các nghĩa vụ khác.
Mọi trường hợp có sửa đổi các điều khoản của hợp đồng, công ty kiểm toán
và khách hàng đều phải thống nhất bằng văn bản về những điều khoản mới. Nếu
công ty kiểm toán không thể chấp nhận sửa đổi hợp đồng và không được phép tiếp
tục thực hiện hợp đồng ban đầu, thì công ty kiểm toán phải đình chỉ ngay công việc
kiểm toán và phải thông báo cho các bên theo quy định của hợp đồng và các quy
định có liên quan, như người đại diện ký hợp đồng, Hội đồng quản trị hoặc các cổ
đông về những lý do dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng kiểm toán.
Ví dụ Hợp đồng kiểm toán (Phụ lục số 02).
Ví dụ Hợp đồng kiểm toán (Trường hợp 02 công ty kiểm toán cùng thực hiện
một cuộc kiểm toán – Phụ lục số 03).
Sau khi đã ký kết hợp đồng kiểm toán, người được giao trách nhiệm kiểm
toán viên chính (Chủ nhiệm kiểm toán) có nhiệm vụ đầu tiên là Lập kế hoạch kiểm
toán.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Quốc Tuyển.
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 42A – Khoa Kế
toán
2.2. Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
2.2.1. Khái niệm, vai trò của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán đối với một
cuộc kiểm toán báo cáo tài chính.
2.2.1.1. Khái niệm.
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán có vai trò
quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán.
2.2.1.2. Vai trò của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
Nguyên tắc kiểm toán quốc tế thứ 3- Các nguyên tắc cơ bản xuyên suốt một
cuộc kiểm toán do IAPC (Uỷ ban thực hành kiểm toán quốc tế) phê chuẩn tháng
6 năm 1980 và ban hành tháng 10 – 1980 đã nêu rõ: “Kiểm toán viên phải lập kế
hoạch kiểm toán để trợ giúp cho công việc kiểm toán tiến hành có hiệu quả, đúng
thời hạn”. Theo chuẩn mực kiểm toán thứ tư trong 10 Chuẩn mực Kiểm toán được
thừa nhận rộng rãi (GAAS) đòi hỏi “Công tác kiểm toán phải được lập kế hoạch
đầy đủ và các trợ lý (nếu có) phải được giám sát đúng đắn”. Đoạn hai trong Chuẩn
mực kiểm toán Việt Nam số 300 nêu rõ: “Kiểm toán viên và công ty kiểm toán
phải lập kế hoạch kiểm toán để đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành một cách
có hiệu quả”, và kế hoạch kiểm toán phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán. Kế
hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các
khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán; phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề
tiềm ẩn; và đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành đúng thời hạn.
Như vậy, việc lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính
của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm
toán, cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã
được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân thủ theo
đầy đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng.
2.2.2. Lập kế hoạch kiểm toán chiến lược.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300, Kế hoạch chiến lược: Là định
hướng cơ bản, nội dung trọng tâm và phương pháp tiếp cận chung của cuộc kiểm
toán do cấp chỉ đạo vạch ra dựa trên hiểu biết về tình hình hoạt động và môi trường
kinh doanh của đơn vị được kiểm toán.
Kế hoạch chiến lược phải được lập cho các cuộc kiểm toán lớn về qui mô,
tính chất phức tạp, địa bần rộng hoặc kiểm toán báo cáo tài chính của nhiều năm.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Quốc Tuyển.
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 42A – Khoa Kế
toán
Cuộc kiểm toán lớn về qui mô là cuộc kiểm toán báo cáo tài chính tổng hợp
(hoặc báo cáo tài chính hợp nhất) của Tổng Công ty, trong đó có nhiều công ty,
đơn vị trực thuộc cùng loại hình hoặc khác loại hình kinh doanh.
Cuộc kiểm toán có tính chất phức tạp là cuộc kiểm toán có dấu hiệu tranh
chấp, kiện tụng hoặc nhiều hoạt động mới mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán
chưa có nhiều kinh nghiệm.
Cuộc kiểm toán địa bàn rộng là cuộc kiểm toán của đơn vị có nhiều đơn vị
cấp dưới nằm trên nhiều tỉnh, thành phố khác nhau, kể cả chi nhánh ở nước ngoài.
Kiểm toán báo cáo tài chính nhiều năm là khi công ty kiểm toán ký hợp đồng
kiểm toán cho một số năm tài chính liên tục, ví dụ năm 2000 ký hợp đồng kiểm
toán năm 2000, năm 2001 và năm 2002 thì cũng phải lập kế hoạch chiến lược để
định hướng và phối hợp các cuộc kiểm toán giữa các năm.
Kế hoạch chiến lược thường do người phục trách kiểm toán lập và được Giám
đốc (hoặc người đứng đầu) công ty kiểm toán phê duyệt. Kế hoạch chiến lược là cơ
sở lập kế hoạch kiểm toán tổng thể, là cơ sở chỉ đạo thực hiện và soát xét kết quả
cuộc kiểm toán.
Để lập được kế hoạch chiến lược chuẩn xác đòi hỏi kiểm toán viên phải tiếp
xúc với khách hàng để tìm hiểu tình hình, thu thập những thông tin cần thiết về các
hoạt động kinh doanh, trên những nét đặc trưng cơ bản sau:
Nhiệm vụ, chức năng hoạt động chủ yếu của khâch hàng.
Quy mô và phạm vi hoạt động kinh doanh.
Quá trình thành lập, điều kiện, khả năng hiện tại và tương lai
phát triển của doanh nghiệp.
Tổ chức sản xuất và những quy trình công nghệ sản xuất kinh
doanh chủ yếu và rủi ro tiềm tàng.
Tình trạng tài chính và các mối quan hệ kinh tế chủ yếu của
khách hàng.
Tổ chức quản lý kinh doanh, trình độ, năng lực những người
điều hành của doanh nghiệp khách hàng.
Tổ chức bộ máy và công việc kế toán tài chính thống kê.
Tổ chức kiểm toán nội bộ.
Những thuận lợi, khó khăn chủ yếu trong sản xuất kinh
doanh, trong quản lý và kế toán.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Quốc Tuyển.
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 42A – Khoa Kế
toán
Sự hiểu biết về đặc thù kinh doanh của khách hàng sẽ giúp cho kiểm toán viên
xác định được các sự kiện, các nghiệp vụ có ảnh hưởng nhiều đến thông tin tài
chính. Kiểm toán viên có thể thu thập thông tin này từ các nguồn:
Báo cáo hàng năm trước chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Các biên bản hội nghị HĐQT, hội nghị ban giám đốc và các
hội nghị quan trọng khác.
Các báo cáo tài chính nội bộ năm nay và năm trước.
Các ghi chép kiểm toán viên của năm trước và các tài liệu có
liên quan khác.
Hồ sơ kiểm toán chung (nếu có).
Những thông tin về các vấn đề có thể ảnh hưởng đến kiểm
toán do các cán bộ có trách nhiệm của đơn vị có quan hệ với
doanh nghiệp cung cấp.
Thảo luận trực tiếp với các nhà quản lý và cán bộ nghiệp vụ
của doanh nghiệp.
Các sổ nhật ký kinh doanh, các tạp chí chuyên ngành.
Các quy định nội bộ của doanh nghiệp.
Các cơ chế, chính sách và tình hình kinh tế xã hội, ảnh hưởng
của nó đến hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Khi xem xét các ghi chép kiểm toán của năm trước và các tài liệu liên quan
khác, kiểm toán cần đặc biệt chú ý đến các vấn đề có nghi vấn của năm trước xem
chúng còn tái hiện trong năm đang kiểm toán hay không.
Các vấn đề kiểm toán viên có thể thảo luận trực tiếp với các nhà quản lý
doanh nghiệp và các cán bộ nghiệp vụ của doanh nghiệp là:
Những sự thay đổi về quản lý , cơ cấu tổ chức và hoạt động
của doanh nghiệp.
Những cơ chế chính sách hiện hành có ảnh hưởng đến doanh
nghiệp.
Những khó khăn vướng mắc về tài chính hoặc các vấn đề về
kế toán hiện nay và sắp tới.
Tình hình phát triển kinh doanh hiện tại và sắp tới, những
ảnh hưởng của nó đến doanh nghiệp.
Các mối quan hệ với bên thứ ba.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Quốc Tuyển.
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 42A – Khoa Kế
toán
Những thay đổi hiện tại và sắp tới về kỹ thuật, kiểu dáng sản
phẩm, loại hình dịch vụ quy trình sản xuất hoặc phương thức
tiêu thụ sản phẩm hàng hoá.
Những thay đổi về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát
nội bộ.
Các điều kiện thuận lợi đã qua hoặc sẽ có.
Những hiểu biết về đặc điểm hoạt động kinh doanh của khách hàng không chỉ
có lợi ích cho việc xây dựng kế hoạch kiểm toán tổng thể, mà còn giúp kiểm toán
viên nhanh chóng xác định được các điểm trọng tâm cần chú ý đặc biệt khi làm
kiểm toán, cũng như khi đánh giá tính hợp lý của các thông tin tài chính của những
người quản lý.
Trên cơ sở các thông tin đã thu thập được kiểm toán viên tiến hành phân tích
đánh giá và đưa ra kế hoạch kiểm toán tổng thể, chương trình kiểm toán cho doanh
nghiệp, quyết định các đơn vị các bộ phận cần được kiểm toán, xác định kế hoạch
sơ khai cho các bộ phận được kiểm toán và những quyết định đối với từng phần
việc kiểm toán.
Sơ đồ xây dựng kế hoạch chiến lược.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Quốc Tuyển.
Thu thập, tìm hiểu đặc
điểm hoạt động SXKD
của DN
Phân tích đưa ra kế
hoạch chiến lược kiểm
toán cho DN
Xác định kế hoạch
tổng thể cho cuộc
kiểm toán.
Đi đến xây dựng chương
trình kiểm toán
Đánh giá tổng thể các
thông tin về hoạt động
kinh tế của doanh
nghiệp.
Liệt kê những quyết
định các đơn vị, bộ
phận cần được kiểm
toán.
Liệt kê những quyết
định đối với từng phần
việc được kiểm toán.
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 42A – Khoa Kế
toán
Kế hoạch chiến lược được lập thành một văn bản riêng hoặc lập thành một
phần riêng trong kế hoạch kiểm toán tổng thể. Mẫu kế hoạch chiến lược (Xem phụ
lục số 04). Trên cơ sở kế hoạch chiến lược kiểm toán viên tiến hành lập kế hoạch
tổng thể.
2.2.3. Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300, kế hoạch kiểm toán tổng thể
phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán, trong đó mô tả phạm vi dự kiến và cách
thức tiến hành công việc kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán tổng thể phải đầy đủ, chi
tiết làm cơ sở để lập chương trình kiểm toán. Hình thức và nội dung của kế hoạch
kiểm toán tổng thể thay đổi tuỳ theo qui mô của khách hàng, tính chất phức tạp của
công việc kiểm toán, phương pháp kiểm toán, phương pháp kỹ thuật kiểm toán đặc
thù do kiểm toán viên sử dụng.
2.2.3.1. Hiểu biết về hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 310, “Để thực hiện kiểm toán báo
cáo tài chính, kiểm toán viên phải có hiểu biết cần thiết, đầy đủ về tình hình kinh
doanh nhằm đánh giá và phân tích được các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt
động của đơn vị được kiểm toán mà theo kiểm toán viên thì có ảnh hưởng trọng
yếu đến báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên hoặc đến báo cáo
kiểm toán”.
Hiểu biết cần thiết của kiểm toán viên để thực hiện một cuộc kiểm toán bao
gồm những hiểu biết tổng quan về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị, hiểu
biết cụ thể hơn về tổ chức và hoạt động của đơn vị được kiểm toán.Ngoài ra, kiểm
toán viên còn phải hiểu biết cả những khía cạnh đặc thù của một tổ chức cụ thể
như: cơ cấu tổ chức, dây chuyền và các dịch vụ sản xuất, cơ cấu vốn, chức năng
và vị trí của kiểm toán nội bộ Mức độ hiểu biết về đơn vị của kiểm toán viên
không nhất thiết phải như Ban giám đốc của đơn vị được kiểm toán. Nhưng để
hiểu rõ các sự kiện, các nghiệp vụ và các hoạt động có thể tác động đến Báo cáo tài
chính và để thực hiện quá trình so sánh khách hàng này với đơn vị khác trong cùng
ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh, kiểm toán viên có thể có được hiểu biết
này nhiều cách nhưng phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất là trao đổi
với kiểm toán viên tiền nhiệm (nếu có), những người đă tiến hành kiểm toán cho
Sinh viên thực hiện: Đỗ Quốc Tuyển.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét