Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Bước đầu nghiên cứu sự nghiệp văn chương của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc (ở hai thể loại Kịch bản văn học và truyện ngắn).pdf

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Là người tham gia hoạt động văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại từ
khá sớm và để lại dấu ấn qua hai kịch bản Ông Tây An Nam và Chàng Ngốc
(trong đó, "ông Tây An Nam" đã trở thành một kiểu thành ngữ của người Việt
Nam khi đề cập tới những người Việt vọng ngoại, bắt chước phương Tây một
cách lố lăng), nhưng do nhiều biến cố của cuộc đời ông mà sự nghiệp của
Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc chưa được giới nghiên cứu chú ý. Hơn nữa,
do sáng tác của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc chủ yếu công bố trong vùng
tạm chiếm khi ông hoạt động công khai trong nội thành Hà Nội và sau đó vào
miền Nam hoạt động với danh nghĩa trí thức, nên việc sưu tầm tác phẩm của
Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc là rất khó khăn. Theo khảo sát bước đầu của
chúng tôi, cho tới nay đã có những công trình nghiên cứu sau đề cập đến tác
giả Nam Xương :
1. Bước đầu tìm hiểu Lịch sử kịch nói Việt Nam trước cách mạng tháng
Tám (Phan Kế Hoành - Huỳnh Lý, NXB Văn hoá, H.1978)
2. Từ điển Văn học, mục từ Nam Xương (bản in năm 1984)
3. Từ điển Văn học (bộ mới), mục từ Nam Xương (bản in năm 2005)
4. Văn học Việt Nam thế kỷ XX, GS Phan Cự Đệ chủ biên, NXB Giáo
dục, H.2004 (phần về kịch bản do PGS TS Phan Trọng Thưởng thực hiện).
5. Tổng tập văn học Việt Nam, tập 23, GS Đinh Gia Khánh chủ biên,
NXB Khoa học xã hội, H.1997.
6. Kịch nói Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, GS Hà Minh Đức chủ biên,
NXB Sân khấu, H.1997.
7. Bài báo Về tác giả vở kịch nói Ông Tây An Nam (Nguyễn Hòa, Tạp
chí Nghiên cứu văn học - Viện Văn học, số 7 năm 2001)
Trong các nguồn tư liệu này, thì ở 2 bộ từ điển chỉ giới thiệu về cuộc đời
và sự nghiệp của Nam Xương một cách khá sơ lược. Trong Từ điển Văn học,
mục từ Nam Xương, Trần Hữu Tá giới thiệu: "Nam Xương tham gia cách
mạng từ tháng Tám năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
1948, làm công tác bí mật ở các thành phố Nam Định và Hà Nội. 1954, ông
được phái vào Sài Gòn công tác và hy sinh 1958. Thời gian hoạt động trong
vùng Hà Nội tạm bị chiếm (1948 - 1954), ông viết một tập truyện ngắn có giá
trị phê phán tích cực (Bụi phồn hoa), hai cuốn tiểu thuyết lịch sử đậm đà tinh
thần dân tộc (Bách Việt, Hùng Vương) và một vở kịch (Tây Thi). Dưới danh
nghĩa một nhà xuất bản tưởng tượng "Quê hương", ông đã in được hai cuốn
Bụi phồn hoa và Bách Việt nhằm động viên bạn đọc thành phố hướng về
chính nghĩa" [5, tr.11].
Chúng tôi xin giới thiệu một số đánh giá của các nhà nghiên cứu trong
các công trình trên:
Trong bài mở đầu cuốn Kịch nói Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX , có nhan
đề “Kịch nói Việt Nam, thời kỳ đầu hình thành và phát triển”, GS Hà Minh
Đức viết: “Nam Xương không trực tiếp đả kích vào bọn thực dân xâm lược,
mà phê phán đả kích vào cái hình bóng của nó qua những quái thai như Cử
Lân, một trí thức du học ở Pháp về và hoàn toàn mất gốc” “Chất hài trong
kịch Ông Tây An Nam của Nam Xương bộc lộ trong chiều sâu của xung đột
và tác giả biết dẫn dắt để nhân vật tự phơi bày những nghịch lý, những trò lố
lăng. Có thể xem đây là vở hài kịch thành công trong không khí chung của
thời kỳ này” [22, tr.12]
Trong công trình “ Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam” của
Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý, có viết: “Ở cuối thời kỳ này (thời kỳ 1927 -
1930, theo cách phân kỳ của 2 tác giả trên - NTQ), Nam Xương cũng để lại
hai vở kịch đáng chú ý là vở Chàng Ngốc và vở Ông Tây An Nam. Qua vở
Ông Tây An Nam, Nam Xương đả kích một bọn trí thức vong bản. Cũng qua
hai vở ấy, người ta thấy Nam Xương là người am hiểu về nghệ thuật kịch cổ
điển và có sở trường về lối hài kịch”.[13, tr42] Cũng trong cuốn sách trên,
Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý nhấn mạnh vị trí của kịch Nam Xương trong
sân khấu kịch nói đương thời: “ trong sự phát triển có thể nói là xô bồ của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
mấy năm 1929, 1930, 1931, người ta ít tìm thấy những vở có tiếng vang trong
kịch trường, trừ mấy vở của Nguyễn Hữu Kim, Vi Huyền Đắc, Tương Huyền
và nhất là của Nam Xương” [13, tr. 44].
Bài báo của nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà viết: “Bằng hai vở
kịch nói Ông Tây An Nam (1930) và Chàng Ngốc (1931), Nam Xương -
Nguyễn Cát Ngạc đã cùng với Vi Huyền Đắc, Vũ Đình Long, Nguyễn Hữu
Kim…trở thành những nghệ sĩ đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời của
nghệ thuật kịch nói Việt Nam. Dù chỉ là đôi dòng, nhưng tên tuổi của Nam
Xương - Nguyễn Cát Ngạc thường được nhắc tới trong các công trình
nghiên cứu lịch sử văn học, nghiên cứu lịch sử sân khấu Việt Nam trong
những thập kỷ đầu của thế kỷ XX.”, “Có thể nói không quá lời rằng
Nguyễn Cát Ngạc, là một trong số ít các tác giả đầu tiên có những sáng tác
văn học về một gia đoạn lịch sử cách chúng ta rất xa là thời đại Hùng
Vương - một thời đại mà sử liệu hiện chỉ còn chủ yếu trong truyền
thuyết…Cho đến nay, truyện ngắn của Nguyễn Cát Ngạc chưa được khảo
sát kỹ lưỡng. Có thể nhận xét, đây là những truyện ngắn được viết khá
công phu, được tổ chức theo lối kịch bản, có thắt nút cởi nút, đặc biệt tác
giả thường khai thác một cách tinh tế những tình huống có khả năng khắc
họa hình ảnh lố bịch của những kẻ bán nước hại dân. ”[14]
Có thể thấy rằng: hầu hết các công trình nghiên cứu trên đây chỉ mới
dừng ở những đánh giá ngắn gọn và khái quát về Nam Xương - Nguyễn
Cát Ngạc, chủ yếu ở vai trò một tác giả kịch bản giai đoạn đầu thế kỷ XX
trong một tổng thể chung của cả nền văn học hoặc riêng lĩnh vực kịch nói;
và mới chỉ có một bài báo của nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà viết về
cuộc đời và sự nghiệp của Nam Xương. Toàn bộ sự nghiệp văn học của
Nam Xương nói chung và phần văn xuôi nói riêng chưa được khảo sát,
nghiên cứu. Bài báo của nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà - tuy đã đề
cập tới phần văn xuôi của ông, nhưng cũng mới chỉ dừng ở việc đưa ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
những nhận định ban đầu. Chưa có công trình nào nghiên cứu sự nghiệp
văn chương của Nam Xương một cách hệ thống và hoàn chỉnh. Do đó,
việc nghiên cứu về Nam Xương là rất cần thiết.
3. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật trong các
sáng tác của Nam Xương ở hai thể loại: kịch bản và truyện ngắn.
- Khẳng định các đóng góp của Nam Xương đối với sự hình thành và
phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại trong giai đoạn đầu thế kỷ XX ở
hai thể loại trên.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
- Toàn bộ các tác phẩm của Nam Xương, tập trung nghiên cứu các tác
phẩm kịch bản và truyện ngắn.
- Các tài liệu liên quan: các tác phẩm kịch bản, truyện ngắn cùng thời với
ông; các công trình nghiên cứu có đề cập đến sáng tác của Nam Xương.
- Các tài liệu lý thuyết, lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Chỉ ra được những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của Nam
Xương trong thể loại kịch bản văn học.
- Chỉ ra được những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của Nam
Xương trong thể loại truyện ngắn.
- Khẳng định vị trí, vai trò cùng những đóng góp quan trọng của Nam
Xương trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hoá nền văn học nước nhà ở
hai thể loại trên.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên
cứu:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống

7. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương.
Chương I: Vài nét về đời sống xã hội - văn hóa Việt Nam giai đoạn
đầu thế kỷ XX và tác giả Nam Xƣơng.
Chương II. Một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật kịch bản của
Nam Xƣơng.
Chƣơng III. Một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật truyện ngắn
của Nam Xƣơng
















Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10



Chƣơng I
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI – VĂN HOÁ VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ
XX VÀ TÁC GIẢ NAM XƢƠNG - NGUYỄN CÁT NGẠC

1.1. Đời sống xã hội – văn hoá Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX ảnh
hƣởng đến việc hình thành ngòi bút Nam Xƣơng - Nguyễn Cát Ngạc
1.1.1. Sự xâm nhập của văn hoá phương Tây và những biến động
trong đời sống xã hội - văn hoá Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, về cơ bản người Pháp đã hoàn tất quá trình xâm lược
Việt Nam. Chính sách chia để trị và sự hình thành về mặt hình thức của ba xứ
Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ đã cho phép người Pháp xúc tiến công cuộc
khai thác thuộc địa ở “xứ Đông Dương thuộc Pháp” một cách triệt để, nhằm tận
thu của cải vật chất từ thuộc địa, và nhằm một mặt bù vào những thiệt hại nặng
nề từ các cuộc chiến tranh mà nước Pháp tham gia, một mặt tăng cường thêm
nguồn lực tạo ra sức mạnh của nước Pháp trong quan hệ quốc tế. Kết quả của
chính sách kinh tế đó là nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp hàng nghìn năm đã
bị phá vỡ, kinh tế tư bản hình thành và phát triển; nước ta trở thành một thuộc
địa bị khai thác đến tận cùng các của cải vật chất, đồng thời trở thành thị trường
tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu cho tư bản công nghiệp và thương nghiệp
Pháp. Đi cùng với tình trạng này là việc giai cấp nông dân Việt Nam bị bần
cùng hoá, tầng lớp tiểu tư sản, thợ thủ công không có điều kiện để phát triển,
trở thành nguồn nhân công đông đảo và rẻ mạt cho các hãng buôn, chủ đồn
điền, chủ thầu của Pháp.
Về mặt chính trị, chế độ thực dân nửa phong kiến chưa từng có trong
lịch sử Việt Nam từng bước hình thành trên khắp lãnh thổ. Nó tiếp tục kìm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
hãm sự phát triển của đất nước dưới một hình thức khác, tuy nhiên chính sự
có mặt của nó lại phá vỡ và gây nên những biến động lớn trong xã hội Việt
Nam vốn hàng nghìn năm “bế quan toả cảng” dưới chế độ phong kiến kiểu
phương Đông.
Để bóc lột sức lao động và vơ vét tài nguyên ở nước thuộc địa, người
Pháp mở mang giao thông, thị trường buôn bán, phát triển nền kinh tế hàng
hoá thống nhất trong cả nước. Kèm theo sự phát triển ấy là việc mở rộng các
đô thị cũ, hình thành các khu công nghiệp mới “kiểu phương Tây”, rồi các
tỉnh lỵ, phủ, huyện lỵ được xây dựng như những trung tâm kinh tế - văn hóa
địa phương để phục vụ hoạt động, sinh hoạt của tầng lớp “Tây thuộc địa”, là
trung tâm hành chính để cai trị, đồng thời là nơi sơ chế, buôn bán và tiêu thụ,
sản phẩm có được trong quá trình bóc lột tài nguyên và tận dụng nguồn nhân
công rẻ mạt.
Quá trình đô thị hoá dẫn đến sự phá vỡ kết cấu xã hội. Hệ thống các giai
tầng đã có tuổi đời hàng nghìn năm, được tổ chức theo mô hình “tứ dân” (sĩ -
nông - công - thương ) dần dần bị phá vỡ do trong xã hội xuất hiện những dấu
hiệu sơ khai của quan hệ sản xuất kiểu mới mà nền kinh tế tư bản từ nước
Pháp mang lại. Những ngành nghề chưa từng có trong lịch sử dân tộc như
thông ngôn, ký lục, ký giả, cho đến thợ cơ khí, thợ in ấn, phu mỏ,… lần lượt
xuất hiện, và tình trạng này cũng góp phần làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp
trong xã hội. Đông đảo nông dân bị bần cùng hoá do mất ruộng đất phải tha
hương ra các đô thị kiếm sống, hình thành một tầng lớp tiểu tư sản nghèo
ngày càng tăng mãi lên trong các đô thị; một số khác không nhiều trở thành
lực lượng phu mỏ, phu đồn điền, từng bước hình thành nên những bộ phận
đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Và do đó, cuộc xâm lăng của
người Pháp đã đẩy tới sự thoát thai ra khỏi cách thức tổ chức xã hội kiểu cũ,
từng bước làm nên một xã hội Việt Nam kiểu mới với sự xuất hiện của một số
tầng lớp xã hội mới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
Về sinh hoạt xã hội, đã diễn ra một tình trạng phân cực rõ rệt đến mức
đối lập giữa nông thôn và đô thị, giữa kẻ giàu và người nghèo. Một nền kinh
tế phụ thuộc với một số hàng hoá đến từ phương Tây, cùng với đó là một lối
sống kiểu khác với những giá trị văn hóa - văn minh khác lạ đã dẫn đến sự
thay đổi tâm trạng và lối sống trong xã hội Việt Nam đương thời. Từ việc tẩy
chay những gì thuộc về ngoại bang, dần dà người ta buộc phải thích ứng với
nó. Ở cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực, sự xâm nhập của cái mới đến từ
phương Tây đã làm thay đổi căn bản bộ mặt xã hội Việt Nam, phá vỡ sự bình
yên ngàn đời dưới luỹ tre xanh, đặt con người đứng trước sự tự ý thức trong
một xã hội phức tạp và rộng lớn, phải vật lộn trong những tính toán mưu sinh
trong các quan hệ ít nhiều mang dấu ấn của kinh tế thị trường tư bản, lạnh
lùng và “tiền trao cháo múc”.
Về mặt xã hội - văn hoá, công cuộc khai thác thuộc địa tự nó đòi hỏi phải
có một hệ thống hạ tầng cơ sở, một không gian văn hóa chính quốc thu nhỏ,
không chỉ nhằm phục vụ sinh hoạt mà còn có ý nghĩa quảng bá với cường độ
cao, tiến tới đồng hóa văn hóa bản địa thông qua việc tuyên truyền cho những
giá trị văn hóa - văn minh phương Tây mà văn hóa - văn minh Pháp là đại
diện. Hệ quả của quá trình “khai hoá văn minh” mà người Pháp thực hiện tại
xứ An Nam là sự phân hóa trong hoạt động tinh thần của xã hội. Biểu hiện cụ
thể nhất là qua tình trạng cùng tồn tại của lớp nhà Nho, trí thức khoa bảng do
nhà nước phong kiến Việt Nam đào tạo và những trí thức “Tây học” được đào
tạo ở các nhà trường thuộc địa hoặc được đào tạo tại nước Pháp. Tình hình
này đã đưa tới một hệ quả là sự du nhập những tri thức mới vào sinh hoạt tinh
thần của người Việt trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đây
cũng là thời kỳ mà lần đầu tiên các người con yêu nước của dân tộc được tiếp
xúc với những tư tưởng tiến bộ của nhân loại lúc bấy giờ. Họ học hỏi, họ suy
nghĩ và ý chí chấn hưng dân tộc, tư tưởng dân chủ và cách mạng được cái chí
sĩ yêu nước bàn thảo và truyền bá công khai, trở thành mục tiêu của một số
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
phong trào yêu nước tiến bộ như Đông du, Đông kinh nghĩa thục, cho thấy
sự “lột xác” trong nhận thức của thế hệ người Việt Nam đầu tiên tiếp xúc với
khoa học - văn minh phương Tây và cũng cho thấy tính chất quyết định trong
tiến trình lịch sử dân tộc ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Cũng
trong thời kỳ này, chủ nghĩa Mác - Lê nin, tinh hoa rực rỡ nhất của nhân loại
đã được tiếp thu, kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào cách mạng
của giai cấp công nhân còn non trẻ đã trở thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho
sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng Cộng sản Việt
Nam - lực lượng tiên phong lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Chúng tôi trình bày vài nét về bối cảnh xã hội – văn hoá Việt Nam đầu
thế kỷ XX để làm cơ sở cho việc nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của nhà
văn Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc, bởi đó là những điều kiện khách quan
đã tác động mạnh mẽ, và là đối tượng phản ánh trong tác phẩm của ông, cũng
như góp phần hình thành tư tưởng và thế giới nghệ thuật của ông.
1.1.2. Quá trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX và những ảnh hưởng trực tiếp đến nhà văn Nam Xương - Nguyễn Cát
Ngạc.
Sự ra đời và diễn biến của nền kinh tế - xã hội – văn hoá kiểu mới trên
đây đã tác động sâu sắc đã tác động sâu sắc tới mọi lĩnh vực vật chất - tinh
thần của xã hội, và tất nhiên đối với văn học, nó cũng đặt ra các yêu cầu
khách quan cho tiến trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam. Đồng thời, tự
thân đời sống văn học cũng đứng trước yêu cầu phải đổi mới theo xu hướng
hiện đại, bởi sự tham góp của các thành tố quan trọng về kinh tế - xã hội - văn
hóa đã có vai trò như “bà đỡ” cho tiến trình hiện đại hoá văn học. Và trên
thực tế, nhiều biến động văn hóa - xã hội đã diễn ra và cũng là điều kiện để
văn học phát triển.
Trước hết là sự thay thế dần chữ Hán, chữ Nôm bằng chữ quốc ngữ.
Thời kỳ này, chữ quốc ngữ thật sự đã trở thành một chiếc cầu nối giữa văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
hóa Việt với văn hóa phương Tây. Có thể xem chữ việc sử dụng chữ quốc
ngữ là thành tựu quan trọng của việc dân chủ hoá nền văn học. Sự phát triển
của chữ quốc ngữ gắn liền với sự thay đổi tư duy của xã hội mới, kéo theo
những kiểu công cụ chuyển tải mới như báo chí, và cả cách thức truyền bá
mới như in ấn với số lượng lớn và hàng loạt, cập nhật và phổ cập trong mọi
thành phần xã hội của hệ thống thông tin đại chúng - những phương tiện ngay
đến thời cận đại ở Việt Nam vẫn còn kém cỏi. Ngoài việc thông báo tin tức,
luận bàn các vấn đề xã hội, giới thiệu những thành tựu văn hoá - văn minh
phương Tây , một hệ quả của sự phát triển hệ thống thông tin đại chúng là
đưa tới việc xuất hiện và đăng tải các tác phẩm văn chương “viết theo lối
mới”, khác hẳn với hình thức - nội dung những tác phẩm văn chương vẫn
được sáng tác và phổ biến theo “lối truyền thống”. Sự lên ngôi của chữ quốc
ngữ thay thế cho chữ Hán, chữ Nôm cùng với sự phát triển của các phương
tiện truyền thông, và quan trọng nhất là sự thay đổi về tư tưởng của các tầng
lớp trong xã hội, nhất là nhân sĩ trí thức, đã dẫn đến sự phát triển có tính bước
ngoặt của nền văn học nước nhà.
Một nền văn học hiện đại vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của sự thay
đổi lực lượng tác giả và công chúng của nó. Nếu như trong cả ngàn năm
trước, văn học trung đại là sự biểu hiện thành văn của chính trị - đạo đức, là
sản phẩm của các bậc nho sĩ, vua quan, mà mục đích chủ yếu họ khi cầm bút
là để bày tỏ chí hướng, bộc lộ khí phách người quân tử, văn chương là “thi dĩ
ngôn chí”, là “văn dĩ tải đạo”, thì vào đầu thế kỷ XX văn chương hiện đại đã
làm thay đổi vị trí và tâm thế người cầm bút. Và quan trọng hơn cả là các
quan niệm về đặc trưng và chức năng của văn học cũng thay đổi. Khi mà
những quan niệm về mỹ học phương Đông về sự ước lệ, tượng trưng, quy
phạm… đã hầu như không còn phù hợp nữa. Đặc biệt là một quan niệm mới
về đời sống tinh thần cho thấy văn chương không chỉ là chính trị, là luân lý,
mà nó còn mang tải những đặc trưng nghệ thuật riêng khác để phản ánh xã

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét