Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Bảo toàn và phát triển vốn tự có tại các ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam.pdf

nhà nước và ngân hàng thương mại liên doanh và chi nhánh ngân hàng thương 
mại nước ngoài. 
1.1.3 Chức năng của NHTMCP 
Chức năng tập trung vốn của nền kinh tế: Trong nền kinh tế có những chủ 
thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng một cách triệt để (ví dụ như 
vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra lưu thông) nhưng họ cũng muốn 
tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và có những chủ thể cần tiền 
để hoạt động kinh doanh. Nhưng những chủ thể này không quen biết nhau và 
cũng  có  thể  không  tin  tưởng  nhau  nên  tiền vẫn  chưa  được  lưu  thông.  Ngân 
hàng thương mại với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ người muốn cho 
vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay vay lại. Thực hiện 
được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền 
kinh tế, mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền 
kinh tế để sản xuất kinh doanh. Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát  triển và 
NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênh lệch 
có được nó sẽ duy trì hoạt động của mình. Vai trò trung gian này trở nên phong 
phú hơn  với  việc  phát  hành  thêm  cổ phiếu,  trái  phiếu,… NHTM  có thể làm 
trung  gian  giữa  công  ty  và  các  nhà  đầu  tư,  chuyển  giao  mệnh  lệnh  trên  thị 
trường chứng khoán, đảm nhận việc mua trái phiếu công ty… 
Chức năng làm trung gian thanh toán và  quản lý các phương tiện thanh 
toán: Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản 
hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khoản. Khi các khách hàng gởi tiền vào 
ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu 
chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan thanh tóan có giá 
trị lớn, ở mọi địa phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và 
không an toàn (ví dụ: chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản…) 
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ  lưu thông 
và độc quyền quản lý các công cụ  đó (séc, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán…)
đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân 
chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa. Ở các nước phát triển phần 
lớn thanh toán được thực hiện qua séc và được thực hiện bằng việc bù trừ thông 
qua hệ thống ngân hàng thương mại. Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ 
quỹ của các doanh nghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo 
cơ sở cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay. 
Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử  dụng hình thức chuyển 
tiền bằng đện tử là chuyện bình thường và chính điều này đưa đến việc không 
sử dụng séc ngân hàng mà dùng thẻ như thẻ tín dụng. Họ thanh toán bằng cách 
nối mạng các máy vi tính của các ngân hàng thương mại  trong nước nhằm thực 
hiện  chuyển  vốn  từ  tài  khoản  người  này  sang  người  khác  một  cách  nhanh 
chóng. 
Chức  năng  tạo  ra  tiền  ngân  hàng  trong  hệ  thống  ngân  hàng  hai  cấp: 
Vào cuối thế kỷ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàng 
không còn họat động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng 
trung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân 
hàng. Các ngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống 
các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt. 
1.2  KHÁI  NIỆM,  CHỨC  NĂNG  VÀ PHÂN  LOẠI  VỐN  TỰ 
CÓ NHTMCP 
1.2.1. Khái  niệm vốn tự có: vốn tự  có  là nguồn  vốn ban đầu để một doanh 
nghiệp bắt đầu tiến hành quá trình hoạt động. Hay nói các khác vốn tự có là 
nguồn vốn riệng của ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra 
trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại. Nguồn vốn này quyết 
định quy mô hoạt động của một ngân hàng cũng như các khả năng bảo vệ chính 
tổ chức sinh ra nguồn vốn này trong suốt quá trình hoạt động.
1.2.2.  Chức năng của vốn tự có 
Trong  hoạt động  của  một  ngân  hàng,  nguồn  vốn  có  vai  trò hết  sức  quan 
trọng. Ngoài việc giúp duy trì hoạt động kinh doanh hằng ngày của ngân hàng, 
một ngân  hàng với nguồn vốn phong  phú giúp  tạo nên  tính thanh khoản  cho 
toàn hệ thống tài chính thông qua các kênh phân phối vốn lại trên thị trường, 
thực hiện các chỉ tiêu kinh tế của chính phủ trong từng thời kỳ cụ thể cũng như 
các chiến lược kinh tế cơ bản của Nhà nước. 
Trong tương quan so sách quy mô hoạt động của các ngân hàng trong nước 
và các  ngân  hàng  trong  khu  vực,  nguồn  vốn  là chỉ tiêu  so  sánh  cơ bản  giúp 
phản  ánh sức mạnh, tiềm lực của từng ngân hàng cũng như khả năng chống đỡ 
các cú sốc tài chính nếu xảy ra. Từ đó, giúp phân loại, xếp hạng các ngân hàng 
với nhau để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các chuyên gia kinh tế, các nhà 
quản  lý…đánh  giá,  lựa  chọn,  tìm  cơ  hội  đầu  tư  và  giám  sát  tốt  hơn  nền  tài 
chính của quốc gia. 
Bởi  vì  là thành  phần  cơ bản  trong  nguồn  vốn  của  ngân  hàng  nên  vốn 
tự có đóng vai trò rất quan trọng trong chức năng chung của nguồn vốn ngân 
hàng.  Và chức  năng  của  vốn  tự có giúp  chúng  ra  có  cái  nhìn  sâu  hơn, 
cụ thể hơn về chức năng của nguồn vốn. theo đó, bản thân vốn tự có có thêm 
các chức năng chính sau đây:
·  Chức  năng  bảo  vệ: Trong  hoạt  đông  kinh  doanh  có  rất  nhiều  rủi  ro, 
những rủi ro này khi xảy ra sẽ gây ra những thiệt hại lớn cho ngân hàng, 
đôi khi nó có thể dẫn ngân hàng đến chỗ phá sản. Khi đó vốn tự có sẽ 
giúp ngân hàng bù đắp được những thiệt hại phát sinh và đảm bảo cho 
ngân hàng tránh khỏi nguy cơ trên.  Trong một số trường hợp ngân hàng 
mất  khả  năng  chi  trả  thì  vốn  tự  có  sẽ  được  sử  dụng  để  hoàn  trả  cho 
khách  hàng. Ngoài  ra,  do  mối  quan  hệ  hỗ  tương  giữa  ngân  hàng  với 
khách hàng, vốn tự có còn có chức năng bảo vệ cho khách hàng không 
bị mất vốn khi gửi tiền tại ngân hàng.
·  Chức năng hoạt động:  Thể hiện ở chổ vốn tự có có thể được sử dụng để 
cho vay, hùn vốn hoặc đầu tư chứng khoán nhằm mang lại lợi nhuận cho 
ngân hàng. Tuy nhiên, do vốn tự có chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng 
nguồn vốn kinh doanh nên lợi nhuận mà nó mang lại cũng không cao. 
Vì vậy chức năng hoạt đông ở đây cũng chỉ là thứ yếu.
·  Chức năng điều chỉnh:  Vốn tự có là đối tượng mà các cơ quan quản lý 
ngân hàng thường hướng vào đó để ban hành những quy định nhằm điều 
chỉnh hoạt động  của  các ngân  hàng, là tiêu chuẩn để  xác  định  tính an 
toàn (ví dụ như các ngân hàng không được đầu tư vào tài sản cố định 
vượt qúa 50% vốn của ngân hàng). Vốn tự có còn là căn cứ để xác định 
và điều chỉnh các giới hạn hoạt động nhằm đảm bảo ngân hàng an toàn 
trong kinh doanh. 
1.2.3 Phân loại vốn tự có: 
Vốn  tự có của các ngân hàng thương mại được chia ra làm cấp :
·  Vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ . Ở VN, vốn cấp 1 về 
cơ bản gồm  (i)  vốn điều  lệ,  (ii)  lợi  nhuận  giữ lại,  (iii)  các  quỹ  dự trữ 
được lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của các tổ chức tín dụng như 
quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư 
phát triển. Theo Quyết Định 457/2005/QĐ­NHNN ngày 19/4/2005  của 
Ngân hàng Nhà nước, vốn cấp 1 được dung để xác định giới hạn mua, 
đầu tư vào tài sản cố định của tổ chức tín dụng ( theo quy định hiện hành 
là không quá 50%).
·  Vốn cấp 2 là các nguồn vốn tự bổ sung hoặc có nguồn gốc từ bên ngoài 
của tổ chức tín dụng. Ở VN, vốn cấp 2 về cơ bản bao gồm (i) phần giá 
trị tăng thêm do định giá lại tài sản của tổ chức tín dụng ( bao gồm 50% 
giá trị tăng thêm đối với tài sản cố định, 40% giá trị tăng thêm đối với 
các loại  chứng khoán đầu tư), (ii) nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ 
bên ngoài (bao  gồm trái phiếu  chuyển  đổi, cổ  phiếu  ưu đãi  và một  số 
công cụ nợ thứ cấp nhất định) và  (iii) dự phòng chung cho  rủi ro tính
dụng  (tối  đa  bằng 1,25% tổng  tài  sản  “Có”  rủi ro). Tuy  nhiên,  Quyết 
Định  457/2005/QĐ­NHNN  ngày  19/4/2005  của  Ngân  hàng  Nhà  nước 
đưa ra một số hạn chế về vốn cấp 2. Ngoài một số điều kiện khác, tổng 
giá trị vốn cấp 2 tối đa bằng 100% tổng giá trị vốn cấp 1 và tổng gía trị 
trái  phiếu chuyển  đổi,  cổ phiếu  ưu đãi  và  các  công  cụ nợ  khác  tối  đa 
bằng 50% vốn cấp 1. 
Việc xác định vốn tự có theo hai cấp theo Quyết  định 457/2005/QĐ­NHNN 
ngày 19/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước sẽ cho phép các ngân hàng thương 
mại trong nước tính toán cụ thể và nâng cao được mức vốn tự có của mình vốn 
dĩ trước đây phần lớn chỉ được tính trên cơ sở vốn cấp 1. Do đó, hiện nay các 
tổ chức tín dụng cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc tuân thủ các tỷ lệ an toàn tính 
trên cơ sở vốn tự có. 
Ngoài ra một điều đáng lưu ý là: các tổ chức tín dụng phải trừ ra khỏi vốn 
tự có của mình (i) toàn bộ phần giá trị giảm đi của các tài sản cố định hay các 
chứng khoán đầu tư do định giá lại, (ii) tổng số vốn góp hoặc cổ phần trong tổ 
chức tín dụng khác, (iii) phần góp vốn, liên doanh, mua cổ phần của quỹ đầu 
tư,  doanh  nghiệp  vượt mức  15%  vốn  tự  có, và  (iv)  lỗ  kinh  doanh  kể  cả  các 
khoản lỗ luỹ kế. 
1.3 CÁC BIỆN PHÁP BẢO TOÀN VÀ PHÁT TRIỂN VỐN TỰ CÓ CỦA 
CÁC NHTMCP 
1.3.1 Nguồn bên ngoài
·Phát hành cổ phiếu thường: 
Ưu điểm: Không phải hoàn trả cho người mua cổ phiếu, cổ  tức của cổ phiếu 
thường không phải là gánh nặng về tài chính cho ngân hàng trong những năm 
làm ăn thua lỗ. Phương pháp này làm tăng quy mô vốn nên cũng làm tăng khả 
năng vay nợ của ngân hàng trong tương lai.
Nhược  điểm:  Chi  phí  cao  và  có  thể  làm  loãng  quyền  sở  hữu  ngân  hàng 
(Dulution), giảm mức cổ tức trên mỗi cổ phiếu (Earning per share), làm giảm 
tỷ lệ đòn bẩy tài chính mà ngân hàng có thể tận dụng.
·Phát hành cổ  phiếu ưu đãi vĩnh viễn: 
Ưu  điểm:  Không  phải hoàn  trả  vốn  và  không  làm phân  tán  quyền  kiểm  soát 
ngân hàng, tăng khả năng vay nợ của ngân hàng trong tương lai. 
Nhược điểm:  Cổ  tức  phải  trả  cho  các  cổ  đông  là  gánh  nặng  tài  chính  trong 
những năm ngân hàng bị thua lỗ, chi phí phát hành cao, giảm mức cổ tức trên 
mỗi cổ phiếu.
·Phát hành giấy nợ thứ cấp (thời hạn tối thiểu 7 năm): 
Ưu điểm: Chi phí thấp và không làm phân tán quyền kiểm soát của ngân hàng. 
Đây là phương pháp hiệu qủa vì trái phiếu này được các nhà đầu tư ưa chuộng 
trên thị trường. 
Nhược điểm: Phải hoàn trả cho người mua trái phiếu khi đến hạn, lãi trả cho 
trái phiếu là gánh nặng cho ngân hàng về tài chính. 
Ngân  hàng  còn  có thể thực  hiện  các biện pháp  tăng  vốn  từ nguồn  bên  ngoài 
khác như bán tài sản và  thuê lại, chuyển đổi chứng khoán nợ thành cổ phiếu  
1.3.2 Nguồn bên trong: 
Chủ yếu do tăng lợi nhuận giữ lại. Đây là lợi nhuận ngân hàng đạt được trong 
năm, nhưng không chia cho các cổ đông mà giữ lại để tăng vốn. 
Ưu điểm: Không tốn kém chi phí, không làm loãng quyền kiểm soát ngân hàng 
và không phải hoàn trả. Phương pháp này giúp ngân hàng không phụ thuộc vào 
thị trường vốn nên tránh được chi phí huy động vốn.
Nhược điểm: Chỉ áp dụng với các ngân hàng lớn, làm ăn có lãi liên tục và đều 
đặn. Hình thức này không thể áp dụng thường xuyên vì nó làm ảnh hưởng đến 
quyền lợi của cổ đông. 
Phương pháp này phụ thuộc vào:
·  Chính sách cổ  tức  của  ngân hàng: Chính  sách này cho biết ngân hàng 
cần phải giữ lại bao nhiêu thu nhập để tăng vốn phục vụ  cho mở rộng 
kinh doanh và bao nhiêu thu nhập sẽ được chia cho các cổ đông. 
Ta có: 
Mức  thu  nhập  giữ 
lại 
Tỷ  lệ thu  nhập 
giữ lại 
(Lợi  nhuận  không 
chia) 

Thu nhập sau thuế 
Tổng  giá trị 
cổ tức Tỷ lệ chi 
trả cổ tức  = 
Thu  nhập  sau 
thuế 
Tỷ lệ  thu nhập giữ lại quá thấp sẽ làm cho mức tăng trưởng vốn ngân hàng sẽ 
chậm,  dẫn  đến  giảm  khả  năng mở  rộng  tài  sản  sinh  lời,  tăng rủi  ro  phá  sản. 
Ngược lại, nếu tỷ lệ thu nhập giữ lại quá lớn sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông 
dẫn đến thị giá cổ phiếu của ngân hàng bị giảm.
·  Tốc độ tăng vốn  từ nguồn nội bộ: Một tỷ lệ tăng trưởng vốn  từ nguồn 
nội  bộ  lý  tưởng phải đáp ứng cả  hai  yêu  cầu: Một  là, ngân hàng  tăng 
trưởng được tài sản có (đặc biệt là các khoản cho vay); hai là, không làm 
suy giảm quá mức tỷ số vốn/tài sản của ngân hàng. 
Ở VN, các tổ chức tín dụng có thể dùng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ để tăng 
vốn điều lệ của mình theo Quyết định 797/2002/QĐ­NHNN ngày 29 tháng 07 
năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam ký ban hành. Theo 
đó, tại điều 22 có sửa đổi lại như sau: “Vốn điều lệ của Ngân hàng thương mại 
cổ phần có thể được tăng bằng cách phát hành cổ phiếu mới hoặc được bổ sung 
từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, đánh giá lại tài sản cố định và các quỹ khác 
theo quy định của pháp luật nhưng phải được Đại hội đồng cổ đông thông qua 
và  phải  được Ngân  hàng  Nhà nước  chấp  thuận bằng  văn  bản  trước  khi  thực 
hiện.” 
Kết luận chương 1 
Qua phần trình trong chương 1 cho chúng ta cái nhìn cơ bản về  những khái 
niệm, đặc điểm, chức năng của các ngân hàng thương mại cổ phần. Gắn liền 
với quá trình hình thành và phát triển của các ngân hàng thương mại thì nguồn 
vốn tự có ban đầu là yếu tố vô cùng quan trọng. Vì thế các khái quát về công 
tác bảo toàn và phát triển vốn tự có giúp cho chúng  ta hiểu  rõ hơn tầm quan 
trọng của nhân tố cơ bản này. Và từ đây giúp chúng ta có những hiểu biết ban 
đầu về các đối tượng được đưa ra nghiên cứu trong chương này trước khi đi sâu 
vào các thực trạng đang tồn tài ở chương tiếp theo.
CHƯƠNG  2:  THỰC  TRẠNG  CÔNG  TÁC  BẢO  TOÀN  VÀ  PHÁT 
TRIỂN VỐN TỰ CÓ TẠI CÁC NHTMCP VIỆT NAM HIỆN NAY 
2.1 KHÁI QUÁT  QUÁ TRÌNH HÌNH  THÀNH  VÀ  PHÁT TRIỂN CỦA 
HỆ THỐNG NHTMCP VN: 
Cho đến nay, ngành ngân hàng nước ta đã trải qua 59 năm (1951 đến nay) 
xây  dựng  và phát  triển,  với  nhiều  chặng  đường  gay  go  và phức  tạp  nhưng 
vẫn ổn định và phát  triển tốt.  Đặc biệt  là chặng đường từ  năm 1986 cho đến 
nay, chặng đường đổi mới căn bản và toàn diện của hệ thống ngân hàng VN. 
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện theo tinh thần của Đại hội  Đảng toàn 
quốc lần thứ VI (năm1986), Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Thủ tướng 
chính phủ)  ký quyết  định  số 218/CT ngày  3.7.1987  cho làm  thử việc  chuyển 
hoạt động ngân  hàng sang hạch  toán  kinh tế và  kinh  doanh Xã hộ chủ  nghĩa 
HCN (làm thử đầu tiên tại TP.HCM từ tháng 7.1987, Hà Nội, Gia Lai ), sau 
đó tổng kết và Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng đã ban hành Nghị định 53/HĐBT 
ngày 26.3.1988 đổi mới mô hình tổ chức bộ máy ngân hàng Việt Nam, với sự 
ra đời của hệ thống ngân hàng chuyên doanh. Đến năm 1990, cơ chế đổi mới 
ngân hàng được hoàn thiện thông qua việc công bố hai Pháp  lệnh ngân hàng 
vào ngày 24.5.1990 (Pháp  lệnh Ngân  hàng Nhà nước VN và  Pháp  lệnh ngân 
hàng, hợp  tác xã  tín dụng và  công ty tài chính) đã chính  thức chuyển cơ chế 
hoạt động  của  hệ  thống  Ngân  Hàng  Việt  Nam  từ  “một cấp”  sang  “hai  cấp”. 
Theo đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về 
tiền tệ,  tín dụng, thanh toán, ngoại hối  và  ngân hàng,  là ngân hàng duy nhất 
được  phát  hành,  là  ngân  hàng  của  các  ngân  hàng,  là  ngân  hàng  của  Nhà 
nước…, còn hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng do các 
tổ chức tín dụng thực hiện. Các tổ chức tín dụng bao gồm: ngân hàng thương 
mại  quốc  doanh,  ngân hàng thương  mại  cổ phần, ngân  hàng  liên  doanh,  chi 
nhánh ngân  hàng  nước ngoài, hợp  tác  xã  tín  dụng,  công  ty  tài  chính.  Tháng 
12.1997 trước yêu cầu cao của thực tiễn hai Pháp lệnh ngân hàng đã được Quốc 
hội nâng lên thành hai luật về ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 1.10.1998) và sau 
đó  Luật  NHNN  và  Luật  các TCTD được  sửa  đổi  và bổ sung  vào năm 2003,
2004.  Như  vậy, hệ thống ngân hàng thương mại VN đã chính thức đánh dấu 
sự ra đời và phát triển khoảng trên 20 năm (từ 1990 đến nay). Trải qua chặng 
đường trên, hệ thống NHTM VN  đã không ngừng phát triển về quy mô (vốn 
điều lệ không ngừng gia tăng, mạng lưới chi nhánh…), chất lượng hoạt động và 
hiệu  quả  trong  kinh  doanh.  Mạng  lưới ngân  hàng  thương  mại  VN  đến  cuối 
năm  2009 đã  có  những buớc  phát  triển  mạnh phủ  khắp  quận  huyện  và  hình 
thành cả trong các trường học. Hệ thống NHTM ở nước ta bao gồm: 5 NHTM 
nhà nước (Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng đầu tư và phát triển VN, 
Ngân  hàng  phát  triển  VN,  Ngân  hàng  nông  nghiệp  và  phát  triển  nông  thôn, 
Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long), 39 NHTM cổ phần đô 
thị và nông thôn, 24 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 05 ngân hàng liên doanh, 
05 ngân hàng 100% vốn tại VN và 01 Quỹ tín dụng nhân dân. Vốn điều lệ của 
các NHTM VN không ngừng gia tăng, NHTMNN sau nhiều lần bổ sung vốn đã 
nâng tổng vốn chủ sở hữu của 05 NHTMNN lên trên 20.000 tỷ đồng tăng gấp 3 
lần so với thời điểm cuối năm 2000. Vốn điều lệ của NHTMCP được gia tăng 
đáng kể từ lợi nhuận giữ lại, sáp nhập, các quỹ bổ sung vốn điều lệ, phát hành 
thêm  cổ phiếu…  từ  đó  giúp  tổng  vốn  điều  lệ  NHTMCP  đến  cuối  năm  2009 
tăng rất nhanh 2000, nhiều NHTMCP có vốn điều lệ trên 1000 tỷ đồng. 
2.2 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTMCPVN 
2.2.1 Điểm mạnh và điểm yếu của các ngân hàng Việt Nam khi gia nhập 
WTO: 
Nói  đến điểm mạnh của các ngân hàng trong nước trước hết là mạng lưới 
hoạt động. Các NHTM trong nước có một mạng lưới rộng khắp thông qua các 
chi nhánh và sở giao dịch. Thứ hai, các ngân hàng trong nước đã thiết lập được 
mối quan hệ với các hệ thống các khách hàng. Mỗi ngân hàng đã có hệ thống 
khách hàng truyền thống để chăm sóc và ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ từ 
nhiều năm, đặc biệt là khối các ngân hàng thương mại nhà nước. Thứ ba, với 
thâm  niên  hoạt  động  của  mình,  các  ngân hàng  nội địa  rất  am  hiểu  tập  quán

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét