Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền nền kinh tế để hội nhập có hiệu quả.doc.DOC

không nên nghĩ rằng các luật chơi, các thông lệ hiện hành đã hoàn hảo, bất di
bất dịch. Đấu tranh để cải tiến, hoàn thiện nó theo hớng tích cực đã trở thành
nhu cầu, trách nhiệm của các quốc gia, trớc hết và chủ yếu là các quốc gia chậm
phát triển.
Do những đặc điểm nói trên, trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế,
luôn luôn tiềm ẩn hai khảnăng: thời cơ và thách thức, mặt phải và mặt trái, hợp
tác và đấu tranh, phát đạt và phá sản, vơn lên và tụt hậu, tự chủ và phụ
thuộc Những khả năng đó tác động theo chiều hớng nào và với mức độ ra sao
đối với từng quốc gia, tuỳ thuộc trớc hết và chủ yếu ở bản lĩnh, khả năng chịu
chủ quan của từng quốc gia. Run sợ trớc thách thức, do đó không mạnh dạn,
kịp thời hội nhập quốc tế, để tận dụng các lợi thế thì sẽ bỏ lỡ cơ hội, làm hụt
hẫng các nguồn lực, làm chậm đà tăng trởng kinh tế. Ngợc lại, coi thờng thách
thức, không thấy hết chiều sâu của thách thức, do đó hội nhập một cách tuỳ
tiện, không tính toán thì vấp váp, thua thiệt, thậm chí đổ vỡ là không tránh khỏi.
Đồng thời phải thẳng thắn thấy rằng:Hậu hoạ lớn nhất là không hội nhập, bởi vì
thế không nên nghĩ rằng không hội nhập có thể tránh khỏi mọi thách
thức, trái lại có khi thách thức còn lớn hơn. Nừu đặt mình ra ngoài xu thế
chung thi hành chính sách tự lực một chiều không biết tận dụng u thế của phân
công lao động quốc tế thì không tránh khỏi tụt hậu ngày càng xa hơn, cuối cùng
sẽ vỡ mộng về nền kinh tế tự chủ, rơi vào tình trạng nền kinh tế phụ thuộc, kéo
theo những tác động khó lờng về chính trị-xã hội.
I.2. Cạnh tranh kinh tế quốc tế và sự tác động tới Việt Nam.
Ngay trong thời kỳ đầu của thế kỷ 19 nhà kinh tế cổ điển vĩ đại ngời Anh
Đavit Ricacđô đã cho rằng sự hoạt động không bị hạn chế của quy luật lợi thế t-
ơng đối làm cho mọi ngời ngày càng phát đạt hơn. Ông nói: mỗi quốc gia cần tự
do lựa chọn hớng chuyên môn hóa vào những sản phẩm có hiệu quả và giành
việc sản xuất sản phẩm khác cho những nớc nào có khả làm việc đó một cách
có hịêu quả nhất. Nh vậy nền kinh tế thế giới sẽ có nhiều hàng hoá hơn đợc đem
ra trao đổi thông qua ngoại thơng.
Từ đó tới nay, thực tiễn kinh tế thế giới đã chững minh hùng hồn sức mạnh
chân lý của lý tởng vĩ đại đó. Ngày nay, ánh đèn neon quảng cáo của các công
ty đa quốc gia Nhật bản, Mỹ, cộng đồng Châu Âu và các nớc Nies đã chiếu
sáng rực rỡ bầu trời của hầu hết các thành phố trên thế giới. Các công ty này đã
vơn rộng các chi nhánh của chúng để khai thác triệt để các khả năng lợi thế so
sánh tơng đối trong sản xuẩt ở mọi nơi trên trái đất và cả lợi thế tơng đối về quy
mô của bản thân chúng. Tính kinh tế, hiệu quả của quy mô càng đợc mạnh


5
thông qua việc đầu t ra thị trờng nớc ngoài và u thê của các quy mô kinh tế đó
đã vợt qua đợc những quy đinh và rủi ro về tài chính khi hoạt động trên phạm vi
thế giới.
Nói tới cạnh tranh là nói tới thị trờng và ngợc lại, nói tới thị trờng là nói tới
cạnh tranh. Ngợc lại, thị trờng mà không có cạnh tranh thì không còn là thị tr-
ờng nữa. Mặt tích cực của thị trờng cũng là mặt tích cực của cạnh tranh. Mặt
tiêu cực của thị trờng tồn tại theo quan niệm của nhiều ngời, cũng là mặt tiêu
cực của cạnh tranh. ý đồ tạo lập thị trờng không có cạnh tranh, thị trờng có tổ
chức đã sụp đổ hoàn toàn vì nó không tao ra đợc cơ chế phân phối tối u các
nguồn lực của xã hội. Triệt tiêu cạnh tranh là làm mất tính năng động sáng tạo
của mỗi con ngời cũng nh của toàn xã hội, nền sản xuất xã hội sẽ không có hiệu
quả- nguồn gốc của việc nâng cao đời sống nhân dân.
Ngày nay, cạnh tranh kinh tế quốc tế vừa mang tính chất kinh tế vừa mang
tính chất chính trị, hay nói chính xác hơn, cạnh tranh kinh tế quốc tế đợc phát
triển trên cơ sở sự thống nhất kinh tế và chính trị. Chúng ta có thể thấy rất nhiều
sự kiện xảy ra trên thế giới minh chứng cho điều này. Cạnh tranh kinh tế quốc
tế lên đến đỉnh cao thờng đợc gọi là chiến tranh kinh tế. Chiến tranh kinh tế
ngoài mục tiêu kinh tế giống nh cạnh tranh kinh tế nhằm thu lợi nhuận, chiến
tranh kinh tế nhằm mục đích khác, có thể là quân sự, phi quân sự, để hỗ trợ cho
một cuộc chiến tranh quân sự nh kiểm soát tàu hàng, phong toả cảng, chiến
thuật vùng đất trống. Chiến tranh kinh tế còn về chính trị thờng nhằm mục đích
làm cho một nớc hoặc một nhóm nớc bị phụ thuộc và buộc họ phải thay đổi
chính sách của mình với các biện pháp thờng dùng là cấm vận hoặc trừng phạt.
Nh vậy, chiến tranh kinh tế có thể có những đặc trng khác với cạnh tranh kinh
tế.
Lý luận kinh tế học đã chỉ ra tình trạng cấm chợ ngăn sông, hạn chế cạnh
tranh trong một quốc gia sẽ gây thiệt hại lớn, lãng phí ghê gớm các nguồn lực.
Hạn chế cạnh tranh kinh tế quốc tế, thực hiện chế độ bảo hộ dới mọi hình thức
khác nhau cũng sẽ gây thiệt hại to lớn, lãng phí nhiều hơn cho nền kinh tế thế
giới ở phơng diện tổng thể. Thật vô lý khi ngời ta phải mua những hàng hoá
phải đắt hơn hoặc chất lợng thấp hơn, xấu hơn trong khi vẫn có ngời sẵn sàng
bán những hàng hóa đó với giá rẻ hơn, chất lợng tốt hơn. Thế nhng, lợi ích toàn
cục, lợi ích toàn nhân loại vẫn cứ phải lùi bơc trớc những lợi ích cục bộ và nhất
thời bởi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan.


6
I.3. Các quan điểm về hội nhập và nâng cao khả năng cạnh tranh
Để hội nhập nền kinh tế quốc gia vào khu vực và thế giới thì việc nâng cao
sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam là thách thức vô cìng lớn đối với
chúng ta. Nó đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần lu tâm giải quyết để tạo ra
những bớc đột phá, phát huy tối đa nội lực, đảm bảo tính định hớng XHCN của
nền kinh tế trên con đờng hội nhập. Sau đây là sáu quan điểm hội nhập kinh tế
quốc tế xác định cho Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá.
Một là, chủ động vạch ra chiến lợc phát triển tổng thể vợt đuổi phù hợp
với những mục tiêu cụ thể trong từng thời kì nhất định
Nh chúng ta đã biết, các nền kinh tế công nghiệp mới (Nies) Đông á nhờ
xác định đựơc chiến lợc vợt đuổi đầy táo bạo mà họ đã đạt đợc những kết quả v-
ợt trội so với nhiều nớc trong khu vực, vơn lên trở thành các con rồng với
những chỉ tiêu kinh tế tăng liên tục trong nhiều năm, tạo nên những bớc đi thần
tốc trong qua trình hphát triển kinh tế đất nớc. Trong từng giai đoạn cụ thể Nies
đã xác định đựơc chiến lợc đi tắt, đón đầu phù hợp nên đã có những thành công
lớn trong phá triển nền kinh tế. Chẳng hạn, ở thời kì đầu khi còn thiếu vốn, kỹ
thuật kém họ đã tiến hành công nghiệp goá thay thế nhập khẩu, phát triển một
số ngành công nghiệp, giải quyếnt những vấn đề xã hội bức xúc và ở chiến lợc
công nghiệp hóa hớng ra xuất khẩu, với mục tiêu khai thác lợi thế bên trong kà
chủ yếu nh lao động dồi dào, giá rẻ nên họ chủ yếu tập trung vào công nghiệp
nhẹ, dùng nhiều lao động đã đem lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể, tạo lực cho
sự phát triển công nghiệp nặng. Để theo kịp xu thế phát triển thì họ lại tiến hành
công nghiệp hoá hớng tới công nghệ cao và đã thu đợc những kết qủa đáng khả
quan. Nhìn chung, chỉ có những nớc xác định đợc những chiến lớc táo bạo, với
những mục tiêu phát triển đầy tham vọng mới có thể tạo ra đợc những bớc phát
triển thần kì, mà không phải nớc nào cũng làm đợc với những chiến lợc thông
thờng cũng mang lại thành công nh vậy. Vì vậy trong xu thế toàn cầu hoá, khu
vực hoá diễn ra mạnh mẽ nh hiện nay thì Việt Nam cần phải căn cứ vào điều
kiện cụ thể để xác định chiến lợc phát triển có lựa chọn, có trọng điểm. Đôí với
Việt Nam hiện nay thì chiến lợc tự do hoá thơng mại, tự do hoá thị trờng là con
đờng phù hợp hơn cả. Có nh vậy, Việt Nam mới tiếp cận đợc những kỹ thuật
công nghệ hiện đại của các nớc, mở rộng thị trờng giao lu, tạo ra cầu nối thông
thơng với các nớc trên thế giới để học hỏi kinh nghiệm. Tuy vậy, Việt Nam cần
lựa chon con đờng riêng cho mình, để phấn đấu phát triển kinh tế xã hội, xác
định mục tiêu thiết lập đợc một nền kinh tế cạnh tranh công bằng và hiệu quả.


7
Hai là, sức cạnh tranh của nền kinh tế phải dựa trên quan điểm khuyến
khích và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh.
Chúng ta biết rằng, cạnh tranh là một trong những đặc trng cơ bản của cơ
chế thị trờng, không có cạnh tranh thì không có nền kinh tế thị trờng. Nền kinh
tế thị trờng khi vận hành phải tuân thủ những quy luật khách quan riêng có của
mình, trong đó quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực hay nh A.Smith gọi
là bàn tay vô hinh thúc đẩy lực lợng sản xuất xã hội phát triển. Nếu lợi nhuận
thúc đẩy các cá nhân tiến hành sản xuấ kinh doanh một cách có hiệu quả nhất
thì cạnh tranh lại bắt buộc và thôi thúc họ phải điều hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh một cách có hiệu quả nhất. Vì vậy, cạnh tranh là yếu tố cần
thiết cho sự phát triển của nền kinh tế. Cạnh tranh là động lực kinh tế của sản
xuất hàng hóa, bởi lẽ nó là con đờng để thực hiện lợi ích của các chủ thể trong
kinh doanh. Động lực này có tác dụng hai mặt, một mặt thúc đẩy kinh tế phát
triển, mặt khác hạn chế có khi đi đến sự phá vỡ sự phát triển kinh tế. Cạnh tranh
chính là môi trờng tồn tại và phát triển kinh tế thị trờng, không có cạnh tranh sẽ
không có tính năng động và sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Song
xã hội dần sẽ chỉ chấp nhận hành vi cạnh tranh lành mạnh bằng các phơng thức
sản xuất và chu chuyển hành hoá một cách khoa học, hiệu quả chứ không thừa
nhận các hành vi cạnh tranh bằng cách dựa vào các thủ đoạn lừa đảo không
trong sáng.
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới nền kinh tế, thực hiện kinh tế mở,
gắn nền kinh tế Việt Nam với khu vực và thế giới. Đại hội đại biểu toàn quốc
lần th VIII của Đảng đã xác định: Cơ chế thị trờng đòi hỏi phải hình thành một
môi trờng cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh. Cạnh tranh vì lợi ích phát
triển đất nớc, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí nguồn lực, thôn
tính lẫn nhau. Từ quan điểm mang tính nguyên tắc của Đảng, thì điều kiện cần
và đủ để khuyến khích và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh là phải xây dựng hệ
thống pháp luật nghiêm minh, luật lệ đa ra phải có tính khả thi. Cần có sự điều
tiết của Nhà nớc để tạo điều kiện, môi trờng cho cạnh tranh lành mạnh trong
sản xuất kinh doanh. Cần có những quy định cụ thể về thủ tục khiếu kiện và
thẩm quyền xử lý của một tổ chức tài phán trong phạm vi cả nớc đối với những
hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhằm giữ nghiêm kỷ cơng phép nớc, có
nh vậy mới tạo sự dung hợp giữa cạnh tranh và công bằng xã hội.
Ba là, sức cạnh tranh của nền kinh tế phải phát triển trên cơ sở phát huy
các lợi thế so sánh của đất nớc nh: con ngời, truyền thống văn hoá dân tộc, sự


8
ổn định chính trị- xã hội, vị trí địa lý chính trị và kinh tế, tài nguyên thiên
nhiên
Việt Nam là nớc đợc thiên nhiên ban tặng nhiều tài nguyên thiên nhiên rất
thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế, cộng với nguồn nhân lực dồi dào với
hơn 80 triệu dân và hơn 40 triệu lao động, cơ cấu dân số trẻ, cần cù lao động,
giá nhân công rẻ. Hơn nữa từ sau đổi mới thì tình hình đất nớc có sự ổn định về
chính trị và kinh tế tạo điều kiện cho các nhà đầu t trong và ngoài nớc yên tâm
bỏ vốn kinh doanh, mở rộng thị trờng và mối quan hệ với các nớc trên thế giới.
Chính nhờ những lợi thế này mà sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế đợc nâng
cao, những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Việt Nam đã có mặt trên thị trờng
khu vực và quốc tế, đã có sức cạnh tranh về giá cả. Vì vậy, cần nhận thức rõ vị
trí quan trọng của những lợi thế mà mình đang óc để có những giải pháp hữu
hiệu giữ gìn và khai thác có hiệu quả. Đồng thời, cần nhận thức đợc thực chất
của những lợi thế so sánh đó là phần lớn do thiên nhiên ban tặng nên nó không
có độ bền vững lâu dài nếu chúng ta không có chiến lợc phát triển quy hoạch,
phát triên có kế hoạch.Chính vì vậy, trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh vốn
có thì cần phải có sự phát triển mới, tạo ra bơc đột phá thu hẹp khoảng cách,
đuổi kịp các nớc trong khu vực, vơn lên sánh vai với các nớc trên thế giới. Đồng
thời, đánh giá đúng tầm quan trọng của các nguồn lực để có biện pháp khai thác
hợp lý có hiệu quả, muốn vậy nền kinh tế phat có đủ sức mạnh đáp ứng đợc mọi
sự biếnđổi của thị trờng bằng chính nội lực của mình là chủ yếu.
Tóm lại phát huy nhứng lợi thế so sánh của đất nớc là tiền đề quan trọng và
cần thiết để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Vấn để quan
tâm là cần nhận thức và đánh giá đúng mức các lợi thế so sánh. Trong các
nguồn lực thì nguồn nhân lực đợc đào tạo có ý nghĩa lớn hơn cả, đào tạo con
ngời là động lực trực tiếp của sự phát triển nền kinh tế. Cần không ngừng kết
hợp sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, không ngừng tái tạo, bồi dỡng tao ra
các nguồn có lợi thế cho đất nớc.
Bốn là, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế phải giữ vững định hớng
xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế nớc ta đang vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của
nhà nớc theo định hớng XHCN. Do vậy, định hớng XHCN trong sự phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nớc ta là một tất yếu khách quan, tức
nhà nớc ở đây có vai trò điều tiết nền kinh tế, bảo đảm ngày càng tốt hơn nhu
cầu vật chất cho xã hội; bảo đảm công bằng xã hội trên cơ sở nền đại công
nghiệp hiện đại; tạo ra bớc chuyển mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế. Định hớng


9
XHCN là sản phẩm tất yếu của quá trình tác động của quy luật quan hệ sản xuất
phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và sự
nhận thức của những ngời cộng sản đối với sự vận động của các hình thái kinh
tế xã hội loài ngời.
Vì vậy, nhận thức rõ mặt phù hợp giữa kinh tế thị trờng với định hớng
XHCN. Bởi vì kinh tế thị trờng là sản phẩm chung của nền kinh tế thế giới,
phản ánh các nấc thang tiến hoá trong một giai đoạn cụ thể của nền kinh tế thế
giới. Nó không phải là sản phẩm của một phơng thức sản xuất mà sẽ tồn tại
trong nhiều phơng thức sản xuất. Và kinh tế thị trờng là sản phẩm của sự tác
động biện chứng giữa quy luật quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất. Chính vì
vậy, kinh tế thị trờng và định hớng XHCN không thể đối lập nhau trong sự phát
triển. Nhận thức đợc những mặt tích cực của kinh tế thị trờng, để từ đó kế thừa
chọn lọc, tiếp thu những nhân tố kích thích sự phát triển, đặc biệt là sự vận dụng
mặt tích cực của các quy luật: giá trị, cung cầu, cạnh tranh làm lợi cho nền
kinh tế. Đồng thời, giữa KTTT và định hớng XHCN có những mặt đối lập, xuất
phát từ bản chất của chúng, đó là về xu hớng vận động và mục tiêu phát triển
của chúng. Cần nhận thức rõ mặt tiêu cực của KTTT để có chiến lợc đề phòng,
hạn chế những tác động xấu cho nền kinh tế.
Trong điều kiện Việt Nam để đảm bảo tính định hớng XHCN thì cần tăng c-
ờng lực lợng kinh tế nhà nớc; kinh tế nhà nớc phải đủ sức mạnh, vơn lên đóng
vai trò chủ đạo, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ vai
trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc: làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trởng kinh tế và
giải quyết những vấn đề xã hội; mở đờng, hớng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh
tế khác phát triển; làm lực lợng vật chất để nhà nớc thực hiện chức năng điều
tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới. Và tiến hành đổi mới,
hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô.
Năm là, nâng cao sức cạnh tranh phải quán triệt quan điểm đa phơng
hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại.
Sau 15 năm đổi mới nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc những thành tựu nhất
định, nhng vẫn còn những mặt yếu kém cha đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nh:
khả năng về vốn có hạn, nhu cầu việc làm rất bức bách, đời sống nhân dân còn
nhiều khó khăn, tình hình kinh tế xã hội cha thật ổn định vững chắc. Do vậy,
vấn đề đặt ra là cần phải tiếp tục kiên trì và mở rộng kinh tế đối ngoại là nhu
cầu bức bách đối với chúng ta. Đại hội IX cũng đã khẳng định: Thực hiện nhất
quán đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phơng hoá đa dạng hoá các


10
quan hệ kinh tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nớc trong
cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
Để quán triệt đợc quan điểm trên, chúng ta cần phải mở rộng thị trờng xuất
khẩu, đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lợng hàng xuất khẩu. Hoạt động xuất
khẩu phải đợc đặc biệt chú trọng, đây là ngành mang lai nguồn thu ngoại tệ lớn,
tạo nguồn vốn để tiến hành CNH-HĐH đất nớc. Đại hội lần thứ VIII của Đảng
đã chỉ rõ: đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là xu hớng u tiên và là trọng điểm
của kinh tế đối ngoại. Tăng tỉ trọng sản phẩm chế biến sâu và tinh, giảm mạnh
việc xuất khẩu hàng thô. Tăng khối lợng các mặt hàng đặc sản có giá trị. Đa ph-
ơng hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại có quan hệ gắn bó, tác động
qua lại, bổ sung, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Do đó, để nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh tế Việt Nam cần quán triệt quan điểm đa phơng hoá, đa dạng
hoá quan hệ kinh tế đối ngoại.
Sáu là quán triệt quan điểm hiệu quả kinh tế xã hội.
Nền kinh tế muốn tăng trởng và phát triển bền vững phải đảm bảo hiệu quả
kinh tế- xã hội cao. Nó đợc coi là tiêu chuẩn hàng đầu ở bất cứ ngành, lĩnh vực
kinh tế nào trong nền kinh tế. Đặc biệt trong guồng máy của sự phát triển thì
hai khía cạnh cần đựơc xem xét đánh giá đúng mức là: hiệu quả kinh doanh và
hiệu quả kinh tế xã hội. Hiệu quả kinh doanh thể hiện kết quả kinh doanh thông
qua chỉ tiêu lãi hay lỗ, đợc xác định cả định tính lẫn định lợng. Còn hiệu quả
kinh tế xã hội là kết quả mang lại cho đời sống xã hội, đối với một dịch vụ kinh
doanh hoặc hoạt động của một doanh nghiệp hoặc đối với một hoạt động kinh
tế đối ngoại nhất định. Nó thể hiện mức độ đóng góp vào thực hiện mục tiêu
kinh tế xã hội của đất nớc; chủ yếu đợc xác định về mặt định tính khó xác định
về mặt định lợng. Do vậy, chúng ta cần nhận thức rõ tầm quan trọng của hiệu
quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội; chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau,
tác động qua lại bổ sung lẫn nhau trong quá trình phát triển của nền kinh tế
quốc dân. Nhà nớc cần có hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế quản lý kinh
tế, đảm bảo công bằng xã hội, hớng dần khuyến khích các doanh nghiêpj chú
trọng đến hiệu quả kinh tế trong kinh doanh, đây là điểm mấu chốt, quyết định
sự thành bại của các doanh nghiệp; có nh vậy mới nâng cao sức cạnh tranh của
nền kinh tế Việt Nam trên thị trờng quốc tế. Đổng thời, nhà nớc phải hớng dẫn
mọi hoạt động kinh tế thực hiện dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ
văn minh theo định hớng XHCN.


11
II. Thực trạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam
II.1. Thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Việc đánh giá năng lực cạnh tranh của một quốc gia có thể đợc tiếp cận trên
ba cấp độ(nền kinh tée, ngành, doanh nghiệp). Dới dây sẽ đề cập đến trên cấp
độ nền kinh tế.
Khả năng cạnh tranh của nèn kinh té Việt Nam đợc đánh giá ỏ mức độ rất
thấp.
Hệ thống tài chính cha năng động. Các nguồn thu vào ngân sách còn chứa
đựng những yếu tố bất ổn dịnh, nhất là các khoản thu từ thuế xuất nhập giảm
xuống làm cho mức thâm hụt càng lớn so với nhu cầu có thể giải quyết đồng bộ
các vấn đề kinh tế xã hội, hệ thống ngân hàng thơng mại với 4 trụ cột lớn vẫn
chủ yếu thực hiện chức năng là tổ chức tín dụng chứ cha phải là nhà đầu t . Hơn
60%tín dụng cấp cho các doanh nghiệp là ngắn hạn, tỷ trọng đầu t vào các
doanh nghiệp của hệ thống ngân hàng hầu nh là không đáng kể. Hệ thống tài
chính theo kiểu trực tuyến với các cấp của hệ thống ngân sách . chúng ta còn
thiếu hẳn hệ thống các tổ chức tài chính trung gian năng động cho nền tài chính
quốc gia nh: các công ty thuê mua, công ty nhận nợ, công ty chứng khoán L-
ợng tiền trong lu thông còn qua lớn, nằm ngoài sự kiểm soát của hệ thống tài
chính công.
Hệ thống chứng từ kế toán cha phản ánh các quan hệ thanh toán trong nền
kinh tế. Các khoản chi tiêu có chứng từ làm cho luật thuế VAT phải có những
điều chỉnh không đáng có, làm cho tính pháp lý của thuế cha cao. Việc điều
chỉnh thuế suất thuế VAT sẽ gây phức tạp cho việc tổ chức thực hiện. Hệ thống
kế toán cha theo kịp các thông lệ quốc tế cũng là một cản trở lớn cho sự hội
nhập, trực tiếp làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Kết cấu hạ tâng kỹ thuật- thông tin còn thấp kém lại không đồng đều giữa
các vùng là nguyên nhân trực tiếp làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh
tế, bởi từ đó chi phi đầu vào cho các doanh nghiệp tăng cao. Từ trạng thái phát
triển không đều giữa các vùng, nhanh chóng thay đổi cơ cấu dân c khiến một số
đô thị nhanh chóng quá tải đang là gánh nặng cho ngân sách vì các vấn đề xã
hội và sinh thái.
Trình độ, chất lợng nguồn nhân lực dồi dào nhng không mạnh. Đội ngũ
nhân lực trình độ cao để sẵn sàng đối phó với phân công lao động quốc tế cha
nhiều. Đây là vấn đề thách thức lớn cho hệ thống đào tạo, nhất là đào tạo nghề
nghiệp, năng lực thực hành.


12
Đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế cả ở tầm vĩ mô và các doanh nghiệp đều bộc
lộ những yếu kém, đặc biệt làkiến thức về thị trờng và tài chính. Theo báo cáo
mới đây của chính phủ gẩn 70% giám đốc doanh nghiệp không đọc nổi các báo
cáo tài chính. Kết quả đợt tổng điều tra mới đây về trình độ cán bộ quản lý các
doanh nghiệp cho thấy trong số 127 cán bộ quản lý đợc hỏi chỉ có 7 ngời đợc
đào tạo, bồi dỡng chuyên môn lại trong nớc sau năm 1990, 9 ngời đợc bồi dỡng
ở nớc ngoài với thời gian từ một đến ba tháng.
Thiết chế kinh tế còn mang nặng tính tập trung, một số ngành vẫn duy trì
độc quyền ở các cấp độ, các hình thức. Khu vực kinh tế dân doanh cha đợc
khuyến khích thoả đáng, trong nhiều lĩnh vực nhiều khu vực vẫn cha tìm thấy sự
phối hợp đồng bộ giữa các chính sách vĩ mô với vấn đề của các doanh nghiệp
dân doanh. Mặc dầu thời gian gần đây, sự thông thoáng đã thể hiện rõ qua việc
thực hiện luật doanh nghiệp mới nhng hệ thống doanh nghiệp dân doanh, đặc
biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn cha nhận đựơc sự hỗ trợ khích lệ thoả
đáng từ phía nhà nớc. Các vấn đề nh quyền sử dụng đất, vấn đề quy hoạch tổng
thể, sự phối hợp liên ngành của các cơ quan quản lý nhà nớc vẫn tiếp tục hạn
chế đầu t dài hạn vào sản xuất củakhu vực kinh tế dân doanh.
Công nghệ sản xuất còn thấp, mặc dù đã có một số công nghệ đạt trình độ
tiên tiến trên thế giới nhng nhìn chung mặt bằng còn thấp. Trong các ngành sản
xuất hàng hoá hớng về xuất khẩu chủ yếu là công nghệ có đựơc thông qua
chuyên giao công nghệ và khả năng quản lý công nghệ cha đạt yêu cầu của sự
phát triển công nghệ và tăng trởng kinh tế. Một số ngành khác cha có công
nghệ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thế giới dẫn tới chất lợng sản phẩm
kém thiếu sức cạnh tranh, giá thành sản xuất cao. Mặc dù nớc ta đã có một số
thành tựu đáng kể trong phát triển công nghệ tuy nhiên vai trò nghiên cứu và
triển khai còn thấp.
II.2. Những yếu tố chủ yếu làm hạn chế khả năng cạnh tranh của sản
phẩm dịch vụ
Thứ nhất, chi phí sản xuất trong từng ngành, từng sản phẩm trong toàn bộ
nền kinh tế còn cao.
Trong nông nghiệp, chi phí sản xuất còn chiếm 40% giá trị sản xuất. Các
phơng thức canh tác còn lạc hậu, giống cây trồng vật nuôi có chất lợng và năng
suất thấp, thiết bị chế biến còn lạc hậu, làm cho chi phí sản xuất cao. Khi giảm
thuế nhập khẩu và dỡ bỏ các rào cản phi thuế sẽ hạn chế rất lớn khả năng cạnh
tranh so với hàng nhập khẩu. Chắc chắn sẽ có những doanh nghiệp, những


13
ngành sản xuất trong nông nghiệp bị thu hẹp quy mô, thâm chí không tồn tại
nếu nh ngay từ bây giờ không nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Trong công nghiệp, chi phí sản xuất của nhiều sản phẩm còn cao, chiếm
bình quân khoảng 70% giá trị sản xuất. Giá thành một số sản phẩm nh xi măng,
thép, giây, vải, phân bón, hoá chất cơ bản, đờng đều cao hơn giá thành sản
phẩm cùng loại của các nớc trong khu vực từ 20- 30%.
Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu do tồn tai yếu kém ở nhiều khâu:
trớc hết là trình độ công nghệ và trang thiết bị của nền kinh tế còn thấp, các
thiết bị công nghệ lạc hậu và trung bình chiếm đến 60- 70%, lạc hậu hơn các n-
ớc trong khu vực hai đến ba thế hệ. Trình độ tay nghề còn thấp, vì vậy năng suất
lao động thấp hơn nhiều so với các nớc tiến. Chi phí nguyên liệu đầu vào nhìn
chung là cao do chủ yếu nhập khẩu, chất lợng nguyên liệu sản xuất trong nớc
kém, không ổn định, cộng với chi phí sản xuất kinh doanh còn cao. Về mặt
quản lý, các doanh nghiệp cha quan tâm tìm giải pháp giảm các chi phí sản
xuất, nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất để tham gia hội nhập
có hiệu quả, vẫn có t tởng trông chờ vào nhà nớc về cấp vốn, hạ lãi suất, bù lỗ,
miễn giảm thuế Mặc dù năm 2003 đã đến thời hạn cắt giảm thuế theo hiệp
đinh AFTA. Việc đầu t nghiên cứu phát triển thơng hiệu, kiểu dáng công nghiệp
còn quá ít. Công tác xúc tiến thị trờng tiếp thị còn lúng túng, ít đợc đầu t và
nhìn nhận đúng vai trò của nó.
Thứ hai, chất lợng lao động, năng suất lao động thấp.
Trong nông nghiệp và khu vực nông thôn, năng suất lao động còn quá thấp.
Hiện nay, kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam dựa trên gần 12 triệu hộ
nông dân đảm nhận, quy mô bé, phơng tiện canh tác lạc hậu, năng suất chất l-
ợng và hiệu quả thấp, sức cạnh tranh về hàng hoá nông sản trên thị trờng kém.
Lực lợng lao động ở nông thôn dồi dào nhng đội ngũ lao động có tri thức còn
mỏng, mới sử dụng khoảng 75% quỹ thời gian. Đất nông nghiệp bị chia cắt
manh mún đang trở thành trở ngại lớn trong quá trình CNH-HĐH nông nghiệp.
Trong công nghiệp, trình độ lao động, trình độ tay nghề cha thể đáp ứng đợc
yêu cầu và đòi hỏi của quá trình phát triểnvà là một nguyên nhân quan trọng
hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, đổi mới quy trình sản xuất và quản lý ở
các doanh nghiệp hiện nay. Hiện có khoảng 73% lực lợng lao động công nghiệp
không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Tỷ lệ đại học/ trung cấp/công nhân kỹ
thuật của Việt Nam là 1/1,5/2.5 trong khi của thế giới là 1/2,5/3,5. Công tác đào
tạo lại cha đợc quan tâm đúng mức thiếu quy hoạch dài hạn, cộng với việc sử
dụng đãi ngộ cha thoả đáng.


14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét