Có thể nói những u thế đợc mang lại từ việc hình thành và hoạt động của
công ty cổ phần là vô cùng to lớn nó đã khắc phục việc buông lỏng quản lý tài
sản của các doanh nghiệp,xoá bỏ tình trạng vô chủ trong các công ty.Mặc dù
chủ trơng trao quyền tự quản cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà
nớc đã đạt đợc một số kết quả nhất định nhng nó mới chỉ đẩy lùi đợc chế độ
bao cấp của nhà nớc đối với doanh nghiệp còn về mặt nhận thức thì tài sản của
doanh nghiệp nhà nớc vẫn là tài sản chung cho nên tình trạng vô trách
nhiệm,lãng phí của công vẫn không đợc khắc phục.Khi xuất hiện công ty cổ
phần thì mặc nhiên những điều này sẽ không tồn tại.
Hơn nữa,công ty cổ phần huy động đợc nguồn vốn trong xã hội cung cấp
cho hoạt động kinh doanh và đầu t phát triển của doanh nghiệp.Một mặt vừa
góp phần tháo gỡ khó khăn cho ngân sách nhà nớc (không phải chu cấp cho
doanh nghiệp) mặt khác vốn và tài sản doanh nghiệp nhà nớc nhờ quá trình cổ
phần hoá thu lại sẽ đợc đầu t mở rộng sản xuất;tăng thêm tài sản cố định góp
phần to lớn thúc đẩy kinh tế tăng trởng.
Ngoài ra,hình thái công ty cổ phần xuất hiện sẽ thay đổi cung cách quản lý
trong mỗi doanh nghiệp,ở công ty cổ phần quyền lợi của những ngời chủ mới
của doanh nghiệp gắn chặt với sự thành bại của hoạt động sản xuất kinh doanh
vì thế họ rất đoàn kết,gắn bó và thống nhất trong việc tìm kiếm và đa ra phơng
hớng hoạt động phù hợp nhất của doanh ngiệp nhằm củng cố,tăng cờng sức
cạnh tranh của sản phẩm do họ sản xuất ra,quan tâm đến công việc công ty và
lao động với tinh thần trách nhiệm cao.
1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của hình thái công ty cổ phần trong
nền kinh tế quốc dân.
Về mặt lý thuyết,chúng ta đều nhận thấy rằng hình thái doanh nghiệp dới
dạng công ty cổ phần là sản phẩm của một quá trình tiến hoá lâu dài,gắn liền
với những nấc thang phát triển của xã hội hoá sở hữu t nhân trong nền kinh tế
thị trờng. Về mặt lịch sử,có thể thấy rằngquá trình tiến hoá và phát triển của
các hình thái doanh nghiệp đợc đạc trng bởi ba loại hình chủ yếu tơng ứng với
ba mức độ phát triểncủa xã hội hoá sở hữu t nhân mặc dù biểu hiện của chúng
hết sức linh hoạt và đa dạng.
Hình thái kinh doanh một chủ,một hình thái bao gồm các loại hình doanh
nghiệp trong đó ngời chủ sở hữu t nhân độc lập duy trì và phát triển hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình trên cơ sở lao động của bản thân hoặc thuê mớn
ngời khác với vốn liếng sẵn có và tính toán của anh ta trên cơ sở những đòi hỏi
của thị trờng.Đây là hình thái phổ biến thống trị trong nền sản xuất hàng hoá
nhỏ và trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa t bản tự do cạnh tranh.Phơng pháp
kinh doanh này bao gồm hai cách thức:kinh doanh theo phơng thức sản xuất
hàng hoá nhỏ và kinh doanh theo phơng thức t bản chủ nghĩa.Giữa chúng tuy
có sự khác nhau về mục đích và đặc điểm kinh doanh nhng lại là sự kế tiếp tất
yếu của cùng một quá trình phát triển dựa trên sở hữu t nhân.Nếu nh quá trình
xã hội hoá nhờ hai tác nhân chủ yếu là trao đổi và tín dụng thì về mặt lịch
sử,chính nhờ sự trợ giúp của t bản thơng nghiệp và t bản cho vay nặng lãi mà
5
hình thái kinh doanh một chủ đã có sự chuyển biến về chất.Từ phơng thức
kinh doanh xé lẻ ruộng đất và phân tán t liệu sản xuất trong tay những ngời t
hữu nhỏ sang phơng thức kinh doanh theo lối t bản chủ nghĩa bằng quá trình
tích tụ và tập trung ruộng đất,t liệu sản xuất trong tay một số ít ngời.Cùng với
sự phát triển của thị trờng thế giới,quy mô buôn bán và sản xuất đòi hỏi phải
tập trung t bản ngày càng lớn.Để có thể đứng vững trong cạnh tranh và đáp
ứng đợc những nhu cầu của thị trờng các hình thức kinh doanh chumg vốn lần
lợt ra đời và phát triển.
Hình thái kinh doanh chung vốn xét về mặt lịch sử là một bớc tiến hoá trong
chế dụng tín dụng,chuyển từ phơng thức kinh doanh chủ yếu dựa vào vay mợn
sang phơng thức kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn góp.Nó đợc xem nh là hình
thái trung gian để hình thành công ty cổ phần sau này.Trong lịch sử từng tồn
tại hai mô hình kinh doanh thuộc hình thái này đó là:
Hình thái kinh doanh hợp tác xã của những ngời sản xuất hàng hoá nhỏ
nhằm chống lại sự tan rã và phá sản của họ trớc phơng thức kinh doanh t bản
chủ nghĩa.
Hình thái công ty chung vốn của các nhà t bản với ba hình thức phổ
biến:Công ty dân sự; công ty hợp danh và công ty hợp t đơn giản.
Trách nhiệm vô hạn và sự ràng buộc lỏng lẻo về mặt pháp lý là những bất lợi
làm cho hình thái công ty chung vốn chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian
ngắn nhờng chỗ cho công ty cổ phần ra đời và phát triển.Những hạn chế đó đã
làm cho hình thức này ngày nay có xu hớng thu về những ngành kinh doanh
nhỏ trong nông nghiệp,dịch vụ bán lẻ,đại lý cho các hãng và thờng là các
nhóm có tính chất gia đình.Qua đó,có thể thấy rằng hình thái công ty cổ phần
bằng những u thế của mình tất yếu sẽ ra đời và thống trị kinh tế thế giới.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của nhà t bản, hai tác giả L.Kenđơ và
M.Atlơ cho rằng:ngày nay các công ty cổ phần đã tồn tại một cách hết sức
phổ biến ở Mỹ và các nớc t bản phát triển;mô hình công ty cổ phần với u điểm
lớn nhất của nó là mọi công nhân đều có cổ phần kinh tế phát triển đến đỉnh
cao.Hình thái công ty cổ phần chuyển từ cơ cấu một chủ là chính sang giai
đoạn đa dạng hoá chủ sở hữu cổ phần với những công ty có hàng trăm nghìn
thậm chí hằng triệu cổ đông bao gồm các nhà t bản lớn,công nhân và viên
chức.Đi đôi với quá trình xã hội hoá sản xuất,trên thực tế nội bộ công ty cổ
phần cũng diễn ra hai quá trình:quyền sở hữu cổ phần phân tán cao độ và giá
trị cổ phần tập trung cao độ.kết quả của hai quá trình đó là việc đông đảo chủ
sở hữu cổ phần giá trị nhỏ,tức là những cổ đông nhỏ vứt bỏ quyền tham gia
quyết định tại đại hội cổ đông.Hàng trăm nghìn,hàng triệu cổ đông nhỏ chỉ
tham gia mua bán trên thị trờng chứng khoán ,họ không gắn bó cố định với
một công ty cổ phần nàc và qua đó những nhà t bản lớn có thể sử dụng một số
vốn tơng đối nhỏ,chỉ sở hữu một lợng cổ phần tơng đối ít nhng có thể chi phối
một giá trị cổ phần rất lớn đơn cử:Hãng dầu mỏ lớn nhất thế giới etson do
năm cổ đông nắm quyền chi phối nhng năm cổ đông này cũng chỉ chiếm 4,8%
cổ phần của hãng.Nh vậy,số lợng cổ đông lớn rất ít nhng đã tập trung trong
6
tay mình quyền chi phối hàng loạt công ty cổ phần loại lớn.Rõ ràng là tại các
nớc t bản phát triển các công ty cổ phần là mô hình kinh doanh có hiệu quả
kinh tế cao mà không làm suy yếu quan hệ chiếm hữu t nhân của phơng thức
sản xuất t bản chủ nghĩa.Công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho t bản ngày càng
tập trung,vai trò chi phối và thống trị của nhà t bản ngày càng tăng cờng.Đến
đây đặt ra một vấn đề cần giải quyết là mô hình công ty cổ phần có phù hợp
với công cuộc cải cách kinh tế của các nớc xã hội chủ nghĩa đăc biệt là ở nớc
ta trong giai đoạn hiện nay hay không?
7
Chơng 2:
Thực trạng các công ty cổ phần và tình hình cổ
phần hoá doanh ngiệp nhà nớc ở Việt Nam hiện nay
1. Vai trò của các công ty cổ phần trong nền kinh tế thị tờng có sự quản lí
của nhà nớc:
Công ty cổ phần hình thức tổ chức kinh doanh phổ biến trong nền kinh
tế thị trờng có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế , góp phần hoàn
thiện cơ chế thị thờng có sự quản lí của nhà nớc.
Trong nền kinh tế thị trờng,công ty cổ phần tạo ra các công cụ để có thể huy
động vốn với quy mô lớn và hiệu qủa cao.nhờ phát hành cổ phiếu và trái
phiếu,công ty cổ phần có thể huy động đợc những nguồn vốn nhỏ lẻ nhàn rỗi
nằm tản mạn trong xã hội để đầu t vào những công trình đòi hỏi những nguồn
vốn lớn và dài hạn mà từng cá nhân hoặc từng doanh nghiệp không có khả
năng tích luỹ đợc nh đầu t xây dựng đờng sắt,xây dựng những xí nghiệp công
nghiệp sử dụng công nghệ cao trong nền kinh tế nớc ta hiện nay thiếu vốn
đang là trở ngại lớn nhất cho sự phát triển.Huy động vốn trong dân vừa là giải
pháp cấp bách vừa là giải pháp cơ bản trong chiến lợc tạo vốn của từng doanh
nghiệp.
Hình thức huy động vốn hiện nay ở nớc ta còn nghèo nàn (với hai hình thức
chủ yếu là hệ thống quỹ tiết kiệm và tín phiếu kho bạc nhà nớc),và so với hình
thức huy động vốn qua công ty cổ phần thì những hình thức đó còn mang
nhiều nhợc điểm đói với cả ngời gửi và ngời đi vay:
Thứ nhất nếu huy động vốn qua hệ thống tiết kiệm,tín dụng thì lãi suất và
chi phí cao gây khó khăn cho ngời sử dụng vốn vì phải thông qua nhiều
khâu,chi phí nghiệp vụ và lợi tức tăng lên.Huy động vốn qua công ty sẽ giảm
đợc mọi chi phí không cần thiết do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng
vốn cũng nh bảo vệ quyền lợi ngời có vốn.
Thứ hai gửi tiền vào quỹ tiết kiệm tuy có đợc một lãi suất ổn định,hạn chế
phần nào rủi ro nhng ngừi có vốn hoàn toàn mất khả năng chi phối việc sử
dụmg vốn cũng nh không đợc hởng những may mắn của việc sử dụng đồng
vốn đó.Sử dụng vốn mua cổ phiếu mặc dù phải chịu sự rủi ro ở một mức độ
nhất định nhng họ cũng sẽ đợc hởng những may mắn mà trong thơng trờng lúc
nào cũng có.Hơn nữa,mua cổ phần tuy đợc giải phóng khỏi nhiệm vụ quản lý
và sử dụng vốn nhng các cổ đông vẫn có quyền lực trong đại hội cổ đông,và
một khi điều kiện và khả năng cho phép họ có thể đựoc bầu vào cơ quan lãnh
đạo công ty.Chính vì những lợi ích ấy mà việc mua cổ phần hấp dẫn hơn gửi
tiền tiết kiệm.Tất nhiên cũng cần phải thấy rằng để những điều đó trở thành
hiện thực còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác liên quan đến việc làm
cho công ty cổ phần có một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân.
8
Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân tán rủi ro nhằm hạn chế
những tiêu cực về kinh tế xã hội khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng
khủng hoảng.
Rủi ro trong kinh doanh là có thể xảy ra tuy không phải là một tất yếu đối
với mọi doanh nghiệp song cũng là lẽ tự nhiên trong thơng trờng.
Khắc phục rủi ro bằng sự thận trọng là điều cần thiết song không phải là cách
duy nhất bởi vì mức độ rủi ro lại thờng tỉ lệ thuận với triển vọng thu lợi
nhuận.Vì vậy trong kinh doanh muốn thu lợi nhuận cao đôi khi phải mạo
hiểm.Chấp nhận rủi ro là một phẩm chất cần có của một nhà kinh doanh nhng
chấp nhận mạo hiểm không phải là liều lĩnh theo kiểuđợc ăn cả ngã về
không,chấp nhận mạo hiểm nhng vẫn cần có cơ chế hạn chế đến mức thấp
nhất những tác động tiêu cực và sự thiệt hại của rủi ro có thể dẫn đến phá
sản.Công ty cổ phần là một cơ chế nh vậy.
Chế độ trách nhiệm hữu hạn (phân biệt rõ ràng tài sản công ty và tài sản
cá nhân ngời có vốn góp,trách nhiệm tài chính giới hạn trong phạm vi tài sản
cũng nh phần góp vốn của mỗi ngời) đã hạn chế đến mức thấp nhất những
thiệt hại của sự rủi ro,thua lỗ.Trong kinh doanh trờng hợp tồi tệ nhất là phá
sản nhng với những hình thức kinh doanh khác nhau tác hại của phá sản cũng
không giống nhau.Đối với doanh nghiệp t nhân, chủ doanh nghiệp phải chịu
trách nhiệm vô hạn do đó trong trờng hợp phá sản phải sử dụng toàn bộ tài sản
thuộc sở hữu của mình để thanh toán nợ nần.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn tuy chỉ giới hạn trong tài sản của công ty
và số vốn góp của mọi ngời nhng do chỉ đợc sử dụng nguồn vốn góp của các
thành viên mà không đợc phát hành bất kỳ một loại tín phiếu nào nên khi bị
phá sản mọi thành viên thờng phải chịu những thiệt hai nặng nề.Công ty cổ
phần đợc phát hành cổ phiếu và trái phiếu một cách rộng rãi,do đó sự thiệt hại
của mỗi ngời không lớn lắm (tất nhiên không loại trừ những ngời mua cổ phần
với số lợng lớn).Nhờ cơ chế này mà khi phá sản hậu quả tiêu cực về mặt kinh
tế xã hội đợc hạn chế ở mức thấp nhất
Đối với công ty cổ phần , ngời mua cổ phần không đợc quyền rút vốn chỉ có
quyền sở hữu các cổ phiếu và đợc phép mua bán chuyển nhợng.
Nh vậylợi ích của các cổ đông gắn chặt với hoạt động của công ty cổ
phần.Tuy nhiên do các công ty có thể đợc chuyển nhợng và mua bán nên các
cổ đông khi cần vẫn có thể thu hồi vốn với những mức độ khác nhau và
chuyện mạo hiểm rủi ro cũng nh sự may mắn sẽ đợc chuyển cho cổ đông mới.
Do đó công ty sẽ không bị rút vốn mà vẫn giữ đợc tích luỹ liên tục trong qúa
trình kinh doanh.
Trong hình thức công ty cổ phần, ngời đầu t lớn có thể mua cổ phiếu, trái
phiếu ở nhiều công ty khác nhau,nhiều ngành khác nhau do đó sự rủi ro và
mạo hiểm của đầu t đợc phân tán vào nhiều ngành,nhiều lĩnh vực,làm giảm
bớt tổn thất cho ngời đầu t hơn là tập trung vào một công ty khi công ty đó bị
phá sản.Thực ra rủi ro,sự mạo hiểm và lợi ích xã hội là hai đại lợng có quan
hệ với nhau:mức độ rủi ro,mạo hiểm ít thì thông thờng lợi ích của ngời đầu t
9
cũng thấp.Chính cơ chế phân bố rủi ro này tạo điều kiện cho những ngời có
vốn mạnh dạn đầu t,làm cho nền kinh tế phát triển và có xu hớng ổn định hơn
.
Việc ra đời các công ty với việc phát hành các loại chứng khoán cùng
với việc chuyển nhợng,mua bán chứng khoán đến một mức độ nhất định sẽ
tạo điều kiện cho sự ra đời của thị trờng chứng khoán-trái tim của thị trờng
vốn.
ý nghĩa căn bản của việc ra đời thị trờng chứng khoán là ở chỗ:đó là nơi
các nhà kinh doanh có thể tìm kiếm đợc các nguồn tài trợ cho hoạt động đầu t
sản xuất kinh doanh;là nơi khai thông các nguồn tiết kiệm của những ngời tích
luỹ đến các nhà đầu t;là cơ chế phân bổ các nguồn vốn đầu t phù hợp với yêu
cầu của nền kinh tế thị trờng và là cơ sở quan trọng để nhà nớc thông qua đó
sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm
đạt những mục tiêu lựa chọn.Thiếu thị trờng chứng khoán sẽ không có một
nền kinh tế thị trờng phát triển.Song sự ra đời của thị trờng chứng khoán
không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà là kết quả của sự phát triển chung
về kinh tế xã hội ,trong đó sự ra đời,phát triển và hoạt động một cách hoàn
hảo của các công ty cổ phần giữ vai trò quyết định.
Công ty cổ phần bảo đảm sự tham gia đông đảo của công chúng,lại có cơ
cấu tổ chức quản lý chặt chẽ,phân định rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền
kinh doanh nên đã tạo điều kiện cho ngời lao động tham gia quản lý công ty
một cách thực sự,sử dụng đợc những giám đốc tài năng (giám đốc thực sự là
một nghề chứ không phải là một quan chức) đảm bảo đợc quyền lợi,lợi ích và
trách nhiệm của chủ sở hữu,đẩy nhanh quá trình phân công lao động xã
hội,thực hiện nguyên tắc ai giỏi nghề gì làm nghề đó.
Với công ty cổ phần,những ngời không thạo kinh doanh có thể yên tâm
làm việc chuyên môn của mình vì đồng vốn của họ dù ít dù nhiều vẫn có khả
năng sinh lời do đã đợc các nhà kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng.Nh vậy
công ty cổ phần đã loại trừ đợc tình trạng bất hợp lý hiện nay là trong khi các
đơn vị sản xuất kinh doanh có khả năng sử dụng vốn một cách có hiệu quả
cao,đem lại lợi ích cho cả ngời có vốn,ngời sử dụng vốn và xã hội lại không
đủ vốn để hoạt động,thì các tầng lớp nhân dân làm việc ở các lĩnh vực
khác,mỗi ngời có chút ít vốn lại phải loay hoay đánh vật với thị trờng để kiếm
từng đồng lợi nhuận ít ỏi,công việc chuyên môn của mình vốn là nghề
chính,có nhiều năng lực lại không đợc đầu t thích đáng về tâm sức.Chắc chắn
rằng,cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trờng,sự ra đời của các công ty
cổ phần sẽ dần dần loại bỏ tình trạng cả nớc đi buôn, nhà nhà đổ ra mặt đ-
ờng,cơ quan,công sở đục tờng,phá rào lập ki-ốt để buôn bán lặt vặt.Tình
trạng đó không những gây nên lộn xộn trong nền kinh tế,mà còn làm cho một
nguồn vốn lớn bị sử dụng lãng phí và tệ hại hơn là làm rối loạn hệ thống phân
công lao động xã hội vì mọi ngời không đợc đặt ở vị trí thích hợp của mình để
có thể phát huy hết tài năng sáng tạo vốn có.Có thể nói với những u thế đợc
mang lại từ việc ra đời và phát triển hình thái công ty cổ phần thì việc mở rộng
10
và phát triển mô hình công ty cổ phần ở nớc ta là một sự tất yếu và một trong
những biện pháp để nhân rộng mô hình này là cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nớc.
2 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc,nội dung và ý nghĩa thực tiễn.
2.1 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc,thực chất và những mục tiêu cần v-
ơn tới.
Trong công cuộc đổi mới kinh tế ở nớc ta,đổi mới khu vực kinh tế nhà n-
ớc có một ý nghĩa quyết định.Một trong những giải pháp cơ bản nhằm tổ chức
lại và đổi mới doanh nghiệp nhà nớc là cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà
nớc mà nhà nớc không cần đầu t 100% vốn.Thực hiện chủ trơng đó ngày
8/6/1992 chủ tịch hội đồng bộ trởng nay là thủ tớng chính phủ đã ra quyết
định 202/HĐBT về việc tiếp tục làm thí điểm chuyển một số doanh nghiệp
nhà nớc thành công ty cổ phần.Tuy nhiên,tình hình triển khai rất chậm,cán
bộ công nhân các doanh nghiệp cha thực sự hởng ứng.Một trong những
nguyên nhân là do nhận thức về bản chất,mục tiêu và phơng pháp cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nớc còn khác nhau nên sinh ra phân vân,chần chừ,do
dự.Vậy thực chất của việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc nh thế nào?
Về vấn đề này,hiện nay có hai loại ý kiến khác nhau.ý kiến thứ nhất cho
rằng thực chất cổ phần hoá là t nhân hoá,loại thứ hai thì cho đó là quá trình xã
hội hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Về loại ý kiến thứ nhất:nhiều nớc trên thế giới đã tiến hành cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nớc xuất phát từ đờng lối kinh tế và đặc điểm kinh tế xã hội
của mỗi nớc trong từng thời kỳ khác nhau nhng nguyên nhân thờng là:
Do thay đổi chế độ chính trị xã hội (nh các nớc xã hội chủ nghĩa Đông
âu và Liên Xô cũ) dẫn đến sự thay đổi chế độ sở hữu về t liệu sản xuất-từ
công hữu chuyển sang t hữu-vì thế thực chất việc cổ phần hoá một số doanh
nghiệp nhà nớc là một bộ phận của chủ chơng t nhân hoá nền kinh tế
Do khủng hoảng,lạm phát,ngân sách thâm hụt phải cổ phần hoá doanh
nghiệp để thu hồi vốn cho nhà nớc,giảm phần nào gánh nặng cho nền kinh tế.
Do khó quản lí bởi doanh nghiệp nhà nớc là sở hữu công cộng và hiệu
quả kinh doanh thấp.
Để thu hút vốn đầu t,tranh thủ công nghệ và phơng pháp quản lí tiên
tiến từ các nguồn trong và ngoài nớc nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng,
phát triển sản xuất nâng cao chất lợng hàng hoá,tăng sức cạnh tranh và mở
rộng thị trờng.
Chính vì thực tiễn đó mà các học giả nớc ngoài khi xem xét vấn đề cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nớc đều đặt nó trong một quá trình rộng lớn hơn-
quá trình t nhân hoá.Có hai cách hiểu t nhân hoá theo nghĩa rộng và t nhân
hoá theo nghĩa hẹp.Liên hợp quốc có đa ra định nghĩa về t nhân hoá : t nhân
hoá là sự biến đổi tơng quan giữa nhà nớc và thị trờng.
Theo cách hiểu này thì toàn bộ những chính sách,luật lệ,thể chế nhằm khuyến
khích mở rộng và phát triển khu vực kinh tế t nhân hay các thành phần kinh tế
11
ngoài quốc doanh,giảm bớt sự can thiệp của nhà nớc vào hoạt động sản xuất
kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở và dành cho thị trờng một vai trò điều
tiết đáng kể.Còn t nhân hoá theo nghĩa hẹp dùng để chỉ quá trình giảm bớt
quyền sở hũu của nhà nớc hoặc sự kiểm soát của Chính Phủ đối với các xí
nghiệp.Việc đó có thể thông qua nhiều biện pháp và phơng thức khác nhau nh-
ng chủ yếu vẫn là cổ phần hoá.
ở nớc ta chủ trơng cổ phần hoá một số doanh ngiệp nhà nớc lại xuất phát từ
đờng lối kinh tế và đặc điểm kinh tế xã hội nớc ta trong giai đoạn hiện
nay:Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,vận hành theo cơ chế
thị trờng có sự quản lí của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.Chúng ta
đang bố trí lại cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ chế quản lí cho phù hợp với đ-
ờng lối ấy,đây là sự chuyển hớng chiến lợc kinh tế xã hội của nớc ta và đó
cũng là đặc điểm lớn nhất chi phối,quyết định nội dung và phơng thức cổ phần
hoá doanh nghiệp nhà nớc.Vì vậy cần nhận thức rằng:thực chất cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta (khác hẳn với cổ phần hoá mà các nớc trên thế
giới đã tiến hành) là nhằm cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nớc cho hợp lí và hiệu
quả còn việc chuyển đổi sở hữu của nhà nớc thành sở hữu của các cổ đông
trong các công ty cổ phần chỉ là một trong những phơng tiện để thực hiện mục
đích ấy.
Điều quan trọng là do cha phân biệt rõ ràng giữa mục đích của cổ phần hoá
và phơng tiện để đạt mục đích ấy nên nhiều ngời vẫn cồn phân vân vì cho rằng
chuyển doanh nghiệp nhf nớc thành công ty cổ phần là thu hẹp chế độ công
hữu,thu hẹp quốc doanh,làm suy yếu chủ nghĩa xã hội.Để thực hiện chủ trơng
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,chúng ta tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho kinh tế t nhân phát triển khuyến khích t nhân mua cổ phiếu nhng
điều đó không có nghĩa coi kinh tế t nhân là mục đích của công nghiệp hoá.
Về loại ý kiến thứ hai:Chúng ta vẫn hiểu xã hội hoá t liệu sản xuất thực chất
là công hữu hoá t liệu sản xuất dới hai hình thức sở hữu t nhân và sở hữu tập
thể còn cổ phần hoá (nh đã nói ở trên) là việc chuyển từ một chủ sở hữu sang
nhiều chủ cùng sở hữu nhng không phải là xã hội hoá t liệu sản xuất bởi vì:
Trong các doanh nghiệp nhà nớc (sở hữu toàn dân) và các hợp tác xã(sở
hữu tập thể),kết quả thu đợc sau quá trình sản xuất kinh doanh(sau khi đã trừ
đi phần chi phí,thuế và tích luỹ) đợc phân phối theo lao động.
Còn các công ty cổ phần (đó là sở hữu hỗn hợp) mỗi ngời chủ dựa vào cổ phần
nhiều ít của mình để ăn chia hởng lợi và chịu trách nhiệm trớc những rủi ro
(do hoạt động của công ty đa lại) trong phạm vi cổ phần mà họ đóng góp,ở
đây tồn tại chế độ phơng pháp lợi nhuận theo lợng vốn góp.
Trong công ty cổ phần,hình thành sở hữu hỗn hợp nghĩa là đồng sỡ hữu
chứ không xuất hiện khái niệm sở hữu tập thể,còn đối với doanh nghiệp nhà n-
ớc chỉ có nhà nớc là chủ sở hữu duy nhất (hình thức xã hội hoá cao nhất) nhng
khi thực hiện cổ phần hoá thì thực chất là nhà nớc nhờng lại toàn bộ hoặc một
phần quyền sỡ hữu của mình cho nhiều ngời bỏ vốn cùng sỡ hữu.Từ sự phân
12
tích trên có thể cho rằng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc và xã hội hoá
doanh nghiệp nhà nớclà hai phạm trù không thể đồng nhất.
Theo đề án chuyển một số doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ
phần ban hành kèm theo nghị định 202-CT nói trên thì cổ phần hoá phải đạt
ba mục tiêu:
Chuyển một phần sở hữu sang sở hữu hỗn hợp-thực chất là chuyển
hình thái kinh doanh một chủ với sở hữu nhà nớc toàn phần trong doanh
nghiệp thành hình thái kinh doanh công ty cổ phần hoá:nhà nớc,t nhân hoặc
công ty cổ phần t nhân.
Mục tiêu này xuất phát từ yêu cầu,đòi hỏi của nền kinh tế thị trờng phải
tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau.Nó cũng xuất phát từ yêu cầu của một
nền kinh tế quá độ không quốc doanh hoá tràn lan mà chỉ duy trì các doanh
nghiệp nhà nớc (100% vốn) trên các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.Khi
chuyển các doanh nghiệp nhà nớc sang công ty cổ phần và xoá bỏ cấp chủ
quản dới mọi hình thức,việc xác lập quyền tự chủ kinh doanh,tách quyền quản
lí nhà nớc và quyền quản lí kinh doanh là đơng nhiên thực hiện đợc.Và cũng
chính điều này mang lại một khả năng mới cho việc xác lập bộ máy quản lí và
bổ nhiệm ngời vào các chức vụ quản lí kinh doanh.Nhờ vậy mà nâng cao hiệu
qủa sản suất kinh doanh của công ty.
Mục tiêu thứ hai là huy động các nguồn vốn trong và ngoài nớc để đầu
t phát triển cơ sở hạ tầng cải tiến công nghệ phục vụ cho quyết tâm nâng cao
uy tín và sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trờng.
Sự thay đổi cơ cấu sở hữu trong cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc đồng
nghĩa với việc thu hút các nguồn vốn của các thành phần kinh tế trong xã hội
vào doanh nghiệp.Đây là mục tiêu cần thiết tuy nhiên việc thực hiện ở nớc ta
còn gặp rất nhiều khó khăn và cản trỏ bởi vì trên thực tế các nhà đầu t chỉ bỏ
vốn cổ phần cho sự lựa chọn của họ đối với các doanh nghiệp hoạt động hiệu
quả.Do vậy để thu hút vốn chúng ta phải lựa chọn một cách kỹ lỡng các doanh
nghiệp và xác định từng bớc đi cụ thể trong giai đoạn làm thí điểm cổ phần
hoá.
Mục tiêu thứ ba:tạo điều kiện để ngời lao động thực sự làm chủ doanh
nghiệp.Việc chuyển một số doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần đã
tách biệt rõ ràng quyền sở hữu và quyền sử dụng t liệu sản xuất của doanh
nghiệp,quyền sở hữu và quyền kinh doanh,hành vi của chính quyền và hành vi
của doanh nghiệp đợc hợp lý hoá một cách rõ nét.Sự can thiệp của các cấp
chính quyền vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ giảm
đến mức thấp nhất.Thông qua việc mua cổ phần,
ngời lao động mới có điều kiện để thực hiện trên nguyên tắc quyền làm chủ
đích thực của mình.Với t cách là cổ đông họ tham gia cùng các cổ đông khác
quyết định chiến lợc phát triển công ty,tham gia quản lý,phân chia lợi
nhuận,sát nhập,giải thể công ty,lựa chọn hội đồng quản trị
13
2.2 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc,giải pháp chiến lợc để đổi mới khu
vực kinh tế nhà nớc.Con đờng liên kết,hội nhập và nâng cao năng lực
cạnh tranh.
Doanh nghiệp nhà nớc đã có một thời vàng son,vì là hình thức cao nhất
của sở hữu công cộng,các hình thức sở hữu khác nh hợp tác xã cấp cao,cấp
thấp,tập đoàn sản xuất,donh nghiệp t nhân,cá thể đều đợc coi là hình thức sở
hữu tạm thời trong thời kỳ quá độ và sẽ chuyển dần lên doanh nghiệp nhà n-
ớc.Thời cực thịnh của doanh nghiệp nhà nớc Việt Nam có khoảng 12000
doanh nghiệp nhng ở thời điểm này chỉ còn khoảng 40005000 doanh nghiệp
và khả năng sẽ còn giảm nữa.Mặc dù vậy doanh nghiệp nhà nớc vẫn là thành
phần chủ yếu của kinh tế quốc gia,số doanh nghiệp t nhân tuy nhiều nhng vốn
chỉ bằng 10% doanh nghiệp nhà nớc và hầu hết đều hoạt động trong lĩnh vực
thơng mại dịch vụ;chỉ có doanh nghiệp nhà nớc là hoạt động trong lĩnh vực
công nghiệp;số doanh nghiệp t nhân sản xuất công nghiệp rất ít và quy mô
nhỏ.Từ đó có thể thấy rằng doanh nghiệp nhà nớc vẫn là xơng sống của nền
kinh tế nớc ta.Bất cứ một chính sách cổ phần hoá nào cũng phải xuất phát từ
việc tăng cờng hoạt động doanh nghiệp nhà nớc,nếu không còn doanh nghiệp
nhà nớc kinh tế Việt Nam sẽ có khả năng sa sút nh Liên Xô và các nớc XHCN
Đông Âu những năm đầu thập kỷ 90 (các doanh nghiệp nhà nớc đợc t nhân
hoá và bãi bỏ hàng loạt đa đến sự tê liệt kinh tế của các nớc này mà đến hôm
nay cũng cha gợng dậy nổi.Trái lại,Trung Quốc và Việt Nam vẫn giữ các
doanh nghiệp nhà nớc thì kết quả tăng trởng kinh tế thờng ở trong khoảng 5
đến 9% mỗi năm,đứng hàng đầu các nớc có nhịp độ tăng trởng cao trên thế
giới.
Doanh nghiệp nhà nớc là công cụ chính phát triển nhanh kinh tế,thực
hiện chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa và chống đình đốn kinh tế, cổ phần
hoá phải nhằm vào việc tăng cờng hiệu năng kinh tế của doanh nghiệp nhà n-
ớc.Sở dĩ ở các nớc đang phát triển,doanh nghiệp nhà nớc là nắm đấm phát
triển,công cụ không thể thiếu để nhà nớc thực hiện chính sách phát triển
nhanh,chính sách kế hoạch hoá;chính sách chống đình đốn kinh tế là vì chỉ có
các doanh nghiệp nhà nớc mới có các điều kiện:
Doanh nghiệp nhà nớc rất dễ thành lập,chỉ cần một quyết định thành lập
doanh nghiệp nhà nớc,cử hội đồng quản trị và cấp vốn ngân sách là doanh
nghiệp đã đủ điều kiện và phơng tiện hoạt động.Vốn hoạt động có thể lên tới
hàng chục,hàng trăm tỷ đồng.Ban quản lý doanh nghiệp,tuyển trong các cán
bộ nhà nớc những ngời có khả năng nhất. Vốn có thể tăng rất nhanh và dễ qua
việc vay tiền ngân hàng với lãi suất u tiên hoặc nhờ các tổ chức tài chính tiền
tệ quốc tế ;các chính phủ bạn tài trợ.Có thể nói sức mạnh về tài chính,kỹ thuật
của doanh nghiệp nhà nớc là vô cùng to lớn.Nếu không có doanh nghiệp nhà
nớc thì chắc chắn không có thuỷ điện Hoà Bình,Trị An;đờng sắt Nam Bắc;đ-
ờng dây 500kv Bắc Nam;hàng không Việt Nam và không có cả hơn 200000
hecta cao su đang thu hoạch hiện nay.
Doanh nghiệp nhà nớc là công cụ kế hoạch hoá,chống đình đốn kinh tế
của nhà nớc.Mấy năm gần đây,nhà nớc đã làm đợc một số công việc rất thành
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét